Nền kinh tế tri thức: Nhận thức và hành động kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển - Pdf 24



Nền kinh tế
tri thức

Nhận thức và hành động

Kinh nghiệm của các nớc phát triển và đang
phát triển

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW
Trung tâm Thông tin T liệu
Nhà xuất bản thống kê
Hà Nội 2000
1mục lục

Lời giới thiệu 3
Chơng 1. Nền kinh tế tri thức 5
Chơng 2. Chính sách công cho một nền kinh tế tri thức 58
Chơng 3. Khoa học, công nghệ và công nghiệp của tổ chức
OECD: bảng ghi điểm năm 1999 82
Chơng 4. Nền kinh tế tri thức 95

thức, trong đó trình bày những chỉ số lựa chon về kinh tế tri thức, vạch ra
những thách thức của toàn cầu hoá và xem xét những chỉ số về hiệu suất kinh tế
và sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế tri thức, đặc biệt là trong các nớc
OECD.
4. Một bản tờng trình tháng 8 măn 1999 của nhóm cố vấn về Công
nghệ Thông tin của Bộ trởng Bộ Công nghệ Thông tin New Zealand, cũng có
tên là Nền kinh tế tri thức. Điều có ích nhất đối với chúng ta trong bản tờng
trình này là: Sau khi trình bày vắn tắt nền kinh tế tri thức là gì, bản tờng trình
đã phân tích khá kỹ các đối thủ cạnh tranh của New Zealand trong nên kinh tế
tri thức, qua đó cho ta thấy tình hình xuất hiện và phát triển của nền kinh tế tri
thức ở một loạt khá nhiều nớc trên thế giới, với đặc điểm về chính sách và về
tình hình thực hiện ở từng nớc ( cố nhiên, loạt nớc đợc nêu lên hầu hết là
những nớc phát triển, song về một số mặt, cũng có một vài nớc đang phát

3
triển, tiếp đó, bản tờng trình vạch ra sáu vấn đề the chốt mà New Zealand cần
giải quyết và phác hoạ nội dung một chiến lợc quốc gia của New Zealand để
thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế tri thức ở New Zealand.
5. Báo cáo về hội thảo tri thức toàn cầu lần thứ hai ở Malaysia tháng
3/2000. Điều rất đáng chú ý của Hội thảo này là đã giành một phần rất quan
trọng, thể hiện trong nhiều nhận xét và khuyến nghị, về việc xử lý những hệ quả
của nền kinh tế tri thức đối với các nớc đang phát triển và kém phát triển.
Nh vậy, trong một su tập không quá dài, chúng tôi đã cố gắng cung
cấp một phác hoạ tơng đối toàn cảnh về nền kinh tế tri thức, những quan niệm
và nhận định chung, một số thí du theo dạng nghiên cứu tình huống về một
loạt nớc, và những đánh giá về tác động của nền kinh tế tri thức đối với các
nớc đang phát triển.
Vì vậy, chúng tôi hy vọng rằng những tài liệu trong su tập chuyên đề
này có giá trị tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu về nền kinh tế tri thức ở
nớc ta.

chấp nhận chung về nền kinh tế tri thức, nhng có thể nói rằng đặc trng nổi bật
nhất của nền kinh tế tri thức là tri thức đã vợt qua các nhân tố sản xuất truyền
thống là vốn và sức lao động để trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất
đóng góp vào tăng trởng kinh tế và phát triển xã hội của các quốc gia. Nói
cách khác, đang có một sự chuyển biến toàn cầu từ các nền kinh tế dựa trên bắp
thịt và tiền vốn chuyển sang các nền kinh tế dựa trên trí não.
Với sự xuất hiện của nền kinh tế trí thức, cơ cấu kinh tế, xã hội toàn cầu
đang đứng trớc một sự thay đổi sâu sắc và bất ngờ nhất kể từ khi thế giới
chuyển từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp vào thế kỷ 18 và 19. Các
lý thuyết kinh tế truyền thống về tăng trởng, về lợi thế cạnh tranh, về cạnh
tranh hoàn hảo, và về bàn tay vô hình của sức mạnh thị trờng, về "sự phá huỷ

5
sáng tạo" đều cần phải sửa đổi để phù hợp với các đặc điểm mới của nền kinh tế
tri thức. Các nguồn lực truyền thống của sản xuất và tăng trởng nh đất đai,
lao động, vốn, và cả chính sách tài khoá và tiền tệ cũng đang giảm dần tầm
quan trọng trong khi tri thức, tức là khả năng sáng tạo, phân phối và khai thác
thông tin, kiến thức khoa học và công nghệ đang trở thành nhân tố so sánh lớn
nhất quyết định sức mạnh cạnh tranh của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp trong
thị trờng toàn cầu. Mặc dù nền kinh tế thế giới vẫn là một nền kinh tế thị
trờng và duy trì các thể chế thị trờng, nhng bản chất của nó đã thay đổi một
cách cơ bản. Tuy nó vẫn mang tính chất "t bản" nhng giờ đây "chủ nghĩa t
bản thông tin" đã thống trị. Các ông vua thép là những ngời "siêu giàu" của
chủ nghĩa t bản ở thế kỷ 19, còn những ngời "siêu giàu" của thế giới ngày
nay là những nhà chế tạo máy vi tính, các phần mềm, chủ các hãng viễn thông,
phát thanh truyền hình.
Trong lịch sử, tri thức luôn là một nhân tố tạo ra sự tăng trởng kinh tế, và
các thành tựu kinh tế cơ bản cũng thờng đi sau các phát kiến về công nghệ. Và
mặc dù đã có rất nhiều phát kiến công nghệ trong 2 thế kỷ qua nhng những
khung lý thuyết kinh tế cơ bản của A. Smith vẫn còn nguyên giá trị. Vậy thì tại

tế dựa trên cơ sở tri thức- sẽ hoàn toàn khác với các lý thuyết kinh tế hiện hành.
Phần I. Khung cảnh kinh tế đang thay đổi
1. Từ chủ nghĩa t bản đến xã hội tri thức
1

Trong khoảng thời gian 150 năm, từ năm 1750 đến 1900 (thời kỳ của cách
mạng công nghiệp), chủ nghĩa t bản và công nghệ đã chinh phục toàn thế giới
và tạo ra một nền văn minh thế giới mới. Nét mới quan trọng của t bản và các
phát kiến công nghệ trong thời kỳ này là nhịp độ lan truyền và ảnh hởng có
tính toàn cầu của chúng đối với nhiều nền văn hoá, giai cấp và khu vực địa lý.
Nhịp độ và phạm vi đó đã biến t bản thành "chủ nghĩa t bản", và đã biến
những tiến bộ về khoa học công nghệ thành cuộc "Cách mạng công nghiệp".
Chủ nghĩa t bản và Cách mạng công nghiệp- do nhịp độ và quy mô của chúng-
đã tạo ra một nền văn minh thế giới mới.
Sự chuyển đổi này đã đợc thúc đẩy bởi những thay đổi căn bản về ý nghĩa
của tri thức. ở cả phơng Đông và phơng Tây trớc đây, tri thức đợc quan
niệm là phục vụ cho chính nó. Nhng sau một khoảng thời gian ngắn, tri thức
đã đợc áp dụng vào tổ chức lao động, trở thành một nguồn lực có giá trị sử
dụng và trở thành một loại hàng hoá công cộng.
Sự biến đổi ý nghĩa của tri thức trải qua 3 giai đoạn.
Trong giai đoạn đầu (khoảng 100 năm), tri thức đợc áp dụng cho các
công cụ sản xuất, phơng pháp sản xuất và sản phẩm. Điều này tạo ra cuộc
Cách mạng công nghiệp đồng thời cũng tạo ra điều mà Marx gọi là các giai cấp
mới, các cuộc đấu tranh giai cấp và gắn liền với chúng là Chủ nghĩa cộng sản.
Trong giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ khoảng cuối thế kỷ 19 và kết thúc vào
Chiến tranh thế giới thứ 2, tri thức đợc áp dụng cho tổ chức lao động. Giai
đoạn này tạo ra cuộc Cách mạng năng suất trong 75 năm và chuyển những
ngời vô sản trở thành tầng lớp trung lu với thu nhập gần với tầng lớp thợng
lu.
Giai đoạn cuối cùng thì trí thức đang đợc áp dụng cho chính bản thân tri

đích của tri thức là làm cho ngời có tri thức có thể hiểu đợc những gì cần phải
nói và làm thế nào để nói chúng. Theo Protagoras, tri thức có nghĩa là logich,
ngữ pháp và hùng biện (tu từ).
ở phơng Đông cũng có hai học thuyết tơng tự về tri thức. Đối với Khổng
giáo, tri thức là biết đợc những gì cần nói và làm thế nào để nói chúng và là
con đờng dẫn tới tiến bộ và thành công trên trần thế. Theo Đạo Lão và phái
Thiền (Phật giáo) thì tri thức là vì tri thức, và là con đờng đi đến sự thông thái
và khôn ngoan.

Khác với những ngời đơng thời của mình ở phơng Đông, tức là những
ngời theo Khổng giáo ở Trung Quốc, những ngời coi thờng bất cứ những gì
không thuộc nghiên cứu sách vở, cả Socrates lẫn Protagoras đều coi trọng kỹ
thuật (techne) mặc dù cả hai ông này đều cho rằng kỹ thuật không phải là tri
thức cho dù nó có đáng khâm phục đến đâu. Kỹ thuật gắn với một ứng dụng cụ
thể và không có tính nguyên tắc để áp dụng cho tất cả các trờng hợp.

8
Nền tảng tạo ra 3 giai đoạn của tri thức- Cách mạng công nghiệp, Cách
mạng năng suất, và Cách mạng quản lý- là sự thay đổi về căn bản ý nghĩa của
tri thức. Chúng ta đã chuyển từ chỗ tri thức là số ít lên tri thức là số nhiều.
Tri thức theo kiểu truyền thống là một thứ chung chung. Còn tri thức bây
giờ là những kiến thức cần thiết cực kỳ chuyên sâu.
Khác với cách hiểu về tri thức trong thời kỳ Plato nh đã nói ở trên, tri
thức bây giờ đợc hiểu là tri thức chứng minh cho chính nó trong hoạt động.
Cái mà bây giờ chúng ta hiểu về tri thức chính là thông tin thực tế đối với hoạt
động, thông tin nhấn mạnh đến kết quả. Những kết quả này nằm ngoài một cá
nhân- nằm trong một xã hội và một cộng đồng.
Để có thể thực hiện đợc công việc, tri thức phải có tính chuyên môn hoá
cao. Đây chính là lý do giải thích tại sao trớc đây ngời ta lại coi tri thức
chuyên sâu có vị trí tầm thờng nh kỹ thuật và kỹ xảo. Nó không học đợc

trong nó.
Hầu hết những ngời cùng thời với Marx, ngay cả những kẻ thù của Marx,
cũng phải chia sẻ quan điểm trên. Họ đều cho rằng xung đột giai cấp là một
điều tất yếu của xã hội t bản.
Cách mạng năng suất
Vậy tại sao CNTB cha sụp đổ?
Câu trả lời là Cách mạng năng suất.
Khi tri thức thay đổi trong 250 năm trớc đây (thời CMCN), nó đã đợc áp
dụng cho các công cụ sản xuất, các phơng pháp sản xuất và các sản phẩm.
Nhng với hầu hết mọi ngời, tri thức vẫn chỉ là "kỹ thuật" và chỉ là những gì
ngời ta dạy ở các trờng cơ khí. Hai năm sau khi Marx chết, cuộc Cách mạng
năng suất đã bắt đầu. Năm 1881, F. Taylor (1856-1915), đã lần đầu tiên áp
dụng tri thức vào công việc để tối đa hiệu quả của phơng pháp sản xuất.
F.Taylor đã nhìn thấy những gì mà Marx, Disraeli và Bismarck nhìn thấy.
Nhng Taylor sắp đặt sao cho các công nhân của ông ta làm việc có năng suất
hơn và do vậy có thể kiếm các khoản tiền tử tế. Động cơ chính của ông ta là tạo
ra một xã hội trong đó chủ và thợ, t sản và vô sản đều có chung lợi ích để nâng
cao năng suất, dựa trên cơ sở vận dụng tri thức và tổ chức lao động.
Động cơ của Taylor không phải là tính hiệu quả, không phải là nhằm mục
đích tạo ra nhiều lợi nhuận cho các ông chủ. Ông luôn cho rằng lợi ích của việc
nâng cao hiệu quả sản xuất chủ yếu sẽ thuộc về những ngời công nhân chứ
không phải là thuộc về ông chủ.
Có thể nói, tác động lớn nhất của Taylor là lĩnh vực đào tạo. Một trăm năm
trớc khi Taylor sinh ra, A. Smith đã thừa nhận rằng để có thể có đợc các kỹ
năng sản xuất cần thiết và các sản phẩm có chất lợng cao, ngời ta phải mất ít
nhất là 50 năm (và rất có thể là cả một thế kỷ). 70 năm sau khi Smith mất, vào
khoảng năm 1840, một ngời Đức (August Borsig) đã đề xuất hệ thống đào tạo
tay nghề của Đức, một hệ thống kết hợp kinh nghiệm làm việc thực tế ở nhà
máy và kiến thức cơ bản đợc học ở trờng lớp. Hệ thống này hiện vẫn là nền
tảng của hệ thống giáo dục ở Đức nhng cũng phải mất từ 3 đến 5 năm để đào

"Cách mạng quản lý". Các bớc trớc đó, tri thức đợc ứng dụng vào việc sản
xuất các công cụ lao động, vào phơng pháp sản xuất, vào sản phẩm và vào việc
tổ chức lao động của con ngời. Phải mất 100 năm, từ giữa thế kỷ 18 đến giữa
thế kỷ 19, cuộc Cách mạng công nghệ mới chiếm vị trí thống lĩnh và có quy mô
toàn cầu; đối với cuộc Cách mạng năng suất phải mất 70 năm, từ năm 1880 đến
khi kết thúc Thế chiến II. Cuộc cách mạng quản lý đã trải qua gần 50 năm- từ
1945 đến 1990- để có thể chiếm vị trí thống lĩnh và toàn cầu.
Quản lý thức hiện chức năng chung ở tất cả các loại hình tổ chức, không
phụ thuộc vào nhiệm vụ cụ thể của tổ chức. Quản lý đã tồn tại trong một thời
gian dài (hàng nghìn năm) nhng chỉ cho đến sau Thế chiến thứ II thì quản lý
mới đợc coi là một khoa học.
Định nghĩa về ngời quản lý đã thay đổi từ việc "chịu trách nhiệm về công
việc của cấp dới" (những năm 50) đến việc "chịu trách nhiệm về kết quả hoạt
động của mọi ngời" (những năm 60). Hiện nay định nghĩa đầy đủ có thể phát

11
biểu nh sau: ngời quản lý là ngời "chịu trách nhiệm vận dung tri thức sao
cho có hiệu quả".
Sự thay đổi này có nghĩa bây giờ chúng ta coi tri thức là một nguồn lực cơ
bản. Đất đai, lao động và vốn là đặc biệt quan trong theo nghĩa chúng đợc xem
nh những thứ nhất thiết phải có. Không có chúng, thì thậm chí tri thức cũng
chẳng làm gì đợc. Nhng khi mà quản lý có hiệu quả, tức là vận dụng tri thức
vào tri thức, thì chúng ta luôn luôn có thể có đợc các nguồn lực khác.
Tri thức khi đã trở thành một nguồn lực cụ thể, chứ không còn là một
nguồn lực chung chung, thì đó chính là nhân tố biến xã hội của chúng ta thành
một xã hội "hậu t bản". Nó tạo ra một xã hội mới và sự vận động kinh tế mới.
Nó tạo ra một nền chính trị mới.
2. Từ khối lợng lớn chuyển thành giá trị cao
2


của các kinh doanh giá trị cao này.
Kỹ năng thứ nhất là các kỹ năng giải quyết vấn đề để lắp ráp các thứ đúng
theo đúng cách thức duy nhất (biến chúng thành các hợp kim, các con chíp bán
dẫn, các mã phần mềm, các gói đầu t hu trí, hoặc thông tin)
Kỹ năng thứ hai là kỹ năng cần thiết để giúp khách hàng hiểu nhu cầu của
họ và biết cách làm thế nào để những nhu cầu đó đợc phục vụ tốt nhất bởi
những sản phẩm đợc chuyên môn hoá. Nghệ thuật thuyết phục khách hàng
đợc thay thế bởi việc xác định đợc các cơ hội.
Kỹ năng thứ ba là kỹ năng liên kết các ngời giải quyết vấn đề và các
ngời nhận dạng vấn đề. Những ngời làm công việc này phải hiểu biết đầy đủ
về các công nghệ và các thị trờng cụ thể để tìm ra tiềm năng cho các sản phẩm
mới, huy động mọi khoản tiền cần thiết cho dự án đó, và kết hợp các nhà giải
quyết vấn đề và ngời nhận dạng vấn đề với nhau để thực hiện dự án đó. Họ là
những ngời môi giới chiến lợc.
Trong doanh nghiệp giá trị cao, lợi nhuận không xuất phát từ quy mô và
khối lợng mà từ việc liên tục phát hiện ra các mối liên hệ mới giữa các giải
pháp và các nhu cầu. Sự phân biệt giữa "hàng hoá" và "dịch vụ" trở nên vô
nghĩa, đặc biệt là ở các nớc phát triển. Trong nhiều ngành sản xuất hàng hoá
đều có một tỷ trọng lớn lợi nhuận đợc tạo ra từ các dịch vụ.
Hoa Kỳ cần phải xét lại các cơ cấu tổ chức truyền thống và các chiến lợc
dới ánh sáng của sự chuyển đổi mạnh mẽ này trong nền kinh tế toàn cầu.

3. Sự nổi lên của nhà nớc ảo
3

Chủ quyền lãnh thổ bị lỗi thời
Do ngày càng nhiều hãng trong nớc chuyển sản xuất ra nớc ngoài và đất
đai trở nên kém giá trị hơn công nghệ, kiến thức và đầu t trực tiếp, chức năng
của nhà nớc đang đợc xác định lại. Các nhà nớc phát triển đang dạt dần các
tham vọng về quân sự, chính trị và lãnh thổ để cố gắng giành lấy một phần lớn

hiện từ những năm 70.
Trong quá khứ, các nhà nớc luôn có tham vọng gây chiến để mở rộng đất
đai. Và đất đai đợc coi là nhân tố quan trọng nhất của cả sản xuất và sức mạnh.
Tuy vậy, với cuộc Cách mạng công nghiệp, vốn và lao động- các thành
phần năng động của sức mạnh sản xuất- đã có tầm quan trọng mới cho dù các
nhân tố tài nguyên thiên nhiên và đất đai vẫn rất quan trọng đối với sự phát triển
của các quốc gia tiên tiến thời đó.
Tầm quan trọng tơng đối của đất đai ngày càng giảm. Đất đai có thể bị
chiếm giữ nhng các nhân tố lao động, vốn và thông tin là di động và không thể
dễ dàng chiếm giữ. Saddam Hussein đã hoài công lục lọi hệ thống máy tính của
Kuwait để nhận thấy rằng hầu hết tiền bạc trong ngân hàng đã đợc chuyển
bằng điện tín ra nớc ngoài và Chính phủ Kuwait lu vong vẫn có thể chi hàng
tỷ đôla để chống lại cuộc xâm lấn của S. Hussein.
Trong thập kỷ 70 và 80 đã xuất hiện một mẫu thực thể chính trị mới: nhà
nớc buôn bán. Thay vì mở rộng lãnh thổ, nhà nớc buôn bán coi thơng mại là
mục đích cơ bản. Sự thay đổi trong chiến lợc quốc gia này đợc dẫn dắt bởi
việc giá trị của các tài sản sản xuất cố định giảm dần. Các nhà nớc nhỏ- với sự
yếu kém của mình thì một chiến lợc xâm lấn quân sự là bất khả thi- cũng đã
chấp nhận các chiến lợc hớng về thơng mại. Cùng với các nớc châu Âu
nhỏ và các nớc Đông á, Nhật và Tây Đức đã chuyển mạnh về định hớng
thơng mại.

14
Đứng trớc việc cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt trong các năm gần
đây, các công ty đang ngày càng thu nhỏ quy mô. Các công ty có hiệu quả nhất
là các công ty có thể duy trì hoặc tăng sản lợng trong khi vẫn giảm đều số
nhân công của nó. Những công ty nh vậy thờng hoạt động trên phạm vi toàn
cầu.
Ngày càng xuất hiện nhiều công ty ảo, là các công ty chỉ có "đầu" mà
không có "thân". Các công ty đó có các bộ phận nghiên cứu, phát triển, thiết kế,

chia cắt thành 2 phần: đó là các nớc thuộc phần "đầu" và các nớc thuộc phần

15
"thân" hoặc là các nớc kết hợp cả hai phần đó. Trong khi các nớc Austraylia
và Canađa tập trung vào các chức năng thuộc phần "đầu", thì Trung Quốc trong
thế kỷ 21 sẽ là một nớc thuộc phần "thân". Trung Quốc sẽ là một địa điểm hấp
dẫn để tổ chức sản xuất các hàng hoá chế tác, nhng các công ty cấp cao của
các nớc khác sẽ thiết kế, tiếp thị và tài trợ cho các sản phẩm mà Trung Quốc
làm ra. Hiện nay, Trung Quốc không thể vẽ ra tơng lai công nghiệp của mình.
Tơng tự nh vậy là các nớc Nga và ấn Độ.Phần Hai: Tri thức là một sức mạnh kinh tế tạo
ra tăng trởng và thay đổi
1. Tri thức, công nghệ đối với tăng trởng và phát triển
4

Một số học giả cho rằng tăng trởng thu nhập đầu ngời có thể đạt đợc
mà không cần dựa trên các tiến bộ công nghệ và tri thức. Tuy nhiên, đây là một
sai lầm, sự tăng trởng đó chỉ là một sự tăng trởng phù du và nhất thời.
Lịch sử phát triển ngành dệt là một ví dụ tốt về tăng trởng có kèm theo
thay đổi công nghệ và tăng trởng không kèm theo thay đổi công nghệ. Trong
giai đoạn 1500-1700, Đông ấn Độ đã thu đợc nhiều lợi nhuận và tăng trởng
bằng cách mở rộng quy mô sản xuất dệt sợi để xuất khẩu sang châu Âu. Đây là
tăng trởng không kèm tiến bộ công nghệ. Nớc Anh ban đầu cũng đáp lại việc
nhu cầu hàng dệt tăng lên bằng cách mở rộng sản xuất nh ấn Độ. Nhng trong
dài hạn, nớc Anh đã xây dựng các công nghệ mới cần thiết cho ngành dệt may,
và nh lời của Marx thì nớc Anh đã thay đổi phơng thức sản xuất. Và cuối
cùng, nớc Anh đã vợt xa ấn Độ.
Sự tăng trởng không có tiến bộ (không phát triển) là sự tăng trởng mà

luật lợi nhuận trên vốn giảm dần theo quy mô. Ngoài ra còn nhiều lý thuyết
khác chứng minh các lợi ích của ngời đi sau để tận dụng các tri thức và tiền
vốn.Vậy mà sự hội tụ đã không xảy ra, các nớc giàu ngày càng giàu, và các
nớc nghèo ngày càng nghèo.
Thực ra sự tụt hậu dai dẳng của các nớc thứ ba có nguyên nhân từ các khó
khăn của việc chuyển giao công nghệ và sự khác nhau về năng lực của nguồn
vốn nhân lực: nếu khả năng tiếp cận và tiếp thu tri thức và công nghệ là nh
nhau thì sự hội tụ mới có thể xảy ra.
Nhng chúng lại không nh nhau. Cầu có khả năng thanh toán về tri thức
luôn cao hơn nhiều so với nguồn cung ít ỏi, đặc biệt là ở các quốc gia thiếu nền
tảng thể chế đào tạo cho mọi ngời tiếp nhận và hiểu những tri thức đó.
Sự bất lực này còn tiếp tục bị trầm trọng thêm bởi tính chất ngày càng bí
mật của tri thức và công nghệ. Do vậy, các nớc nghèo lại bị giáng cấp một
cách tơng đối: họ là những nớc đã đợc trang bị ít nhất
để truyền đạt các
khoa học mới và tri thức mới cho thế hệ trẻ. Đối với các nớc nghèo, khả năng
tiếp nhận các tri thức mới và biến chúng thành của mình hết sức bị hạn chế. Các
hy vọng tốt nhất của họ là (1) nhập khẩu các doanh nghiệp nớc ngoài; và (2)
đa các thanh niên ra học ở nớc ngoài với hy vọng là họ sẽ trở về.
(1) Các công ty nớc ngoài sẽ mang lại nhiều lợi ích về chuyển giao công
nghệ và tri thức, nâng cao kỹ năng của đội ngũ lao động bản xử ở các nớc tiếp
nhận đầu t. Nhng chuyển giao công nghệ cho các nớc nghèo thông các công
ty đa quốc gia đã không tạo ra các kết quả nh mong muốn. Ba phần t tổng
đầu t trực tiếp toàn cầu hớng về các nớc công nghiệp, một phần t còn lại
cũng tập trung vào một số ít ỏi các nớc thuộc Thế giới thứ ba. Thêm nữa, nhiều
nớc thuộc thế giới thứ ba vẫn tiếp tục từ chối các doanh nghiệp nớc ngoài do

17
họ coi chúng là những hiểm nguy cả về chính trị lẫn kinh tế. Ngoài ra, các
doanh nghiệp nớc ngoài thờng có liên kết kém với tổng thể còn lại của nền

các ngành dựa trên tri thức.
Thế giới của Alfred Marshall (thế giới lợi nhuận giảm dần)
Thời mà A. Marshall và các đồng nghiệp đa ra quan điểm lợi nhuận giảm dần
vào cuối thế kỷ 19 là thời của sản xuất số lợng lớn, hàng hoá dựa vào tài
nguyên, ít dựa vào bí quyết. Do vậy, lý thuyết của Marshall về lợi nhuận
giảm dần, về cạnh tranh hoàn hảo, về cân bằng đã đúng trong thời kỳ đó. 18
5
"Increasing Returns and the New World of Business", tác giả W.Brian Arthur
Chỉ với một ít thay đổi, lý thuyết của Marshall vẫn áp dụng đợc cho các ngành
chế biến số lợng lớn trong thời kỳ hiện đại ngày nay.
Thế giới của lợi nhuận tăng dần
Điều gì sẽ xảy ra nếu lợi nhuận giảm dần của Marshall bị đảo ngợc thành lợi
nhuận tăng dần?
Hãy xem xét thị trờng của các hệ điều hành máy vi tính cá nhân trong những
năm đầu của thập kỷ 1980 khi các hệ điều hành CP/M, DOS, và Macintosh
cùng cạnh tranh với nhau. Đây là một trờng hợp cho thấy lợi nhuận tăng
dần. Hệ điều hành CP/M xuất hiện đầu tiên và đến năm 1979 đã có chỗ
đứng vững chắc trên thị trờng, MAC xuất hiện sau nhng rất dễ sử dụng.
Hệ điều hành DOS chỉ xuất hiện sau khi Microsoft ký một giao dịch vào
năm 1980 để cung cấp một hệ điều hành cho các máy vi tính cá nhân của
IBM. Trong vòng một hoặc hai năm, hệ điều hành này đã chiếm u thế. Số
ngời sử dụng DOS/IBM tăng lên đã khuyến khích các phần mềm viết cho
môi trờng DOS, nh phần mềm bảng tính Lotus. Sự chiếm u thế của
DOS và của các máy vi tính cá nhân IBM- nuôi dỡng các sự chiếm u
thế hơn nữa, và cuối cùng phần mềm này đã thống trị một phần rất quan
trọng trên thị trờng. Cho dù DOS bị cời nhạo bởi các chuyên gia tin học,
nhng một khi nó đã vợt các phần mềm khác thì nó sẽ khoá thị trờng lại.

3. Nền kinh tế đợc dẫn dắt bởi tri thức
6

Tri thức, đợc biểu hiện bởi con ngời (là "vốn con ngời") và công nghệ,
luôn có vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế. Nhng chỉ trong vài năm gần
đây, tầm quan trọng tơng đối của tri thức mới đợc nhận ra. Các nền kinh tế
OECD đang phụ thuộc rất nhiều vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri
thức. Sản lợng và việc làm đợc mở rộng rất nhanh ở các ngành công nghệ
cao, nh máy tính, đồ điện và hàng không. Các ngành dịch vụ tập trung tri thức,
nh giáo dục, liên lạc và thông tin đang tăng rất nhanh. Quả thực, khoảng 50%
GDP của các nền kinh tế OECD là dựa trên tri thức.
Đầu t do vậy cũng đang hớng tới các hàng hoá và dịch vụ có công nghệ
cao, đặc biệt là các công nghệ thông tin và viễn thông. Chi phí nghiên cứu hiện
chiếm 2,3% GDP của các nớc OECD, chi phí giáo dục chiếm 12% tổng chi
nhà nớc, và đầu t vào đào tạo liên quan đến công việc đợc ớc tính là 2,5%
GDP.
Nhu cầu lao động lành nghề đang rất lớn ở các nớc OECD. Tỷ lệ thất
nghiệp trung bình của các loại động tốt nghiệp trung học là 10,5% trong khi tỷ
lệ này của những lao động tốt nghiệp đại học chỉ là 3,8%
Những xu hớng trên dẫn đến việc xem xét lại các lý thuyết và mô hình
kinh tế. Các nhà kinh tế tiếp tục tìm kiếm các nền tảng của tăng trởng kinh tế.
Hiện nay tri thức đã đợc đa trực tiếp vào các hàm sản xuất. Đầu t vào tri
thức có thể làm tăng năng lực sản xuất của các yếu tố khác cũng nh chuyển
chúng thành các sản phẩm mới hoặc quá trình mới. 20
6
"The Knowledge-Driven Economy", Candice Stevens.
Tín hiệu dễ thấy nhất của nền kinh tế tri thức là sự nổi lên của "xã hội

thể sao chép, nh khi chúng đợc truyền đi bằng chơng trình vi tính; hoặc
chúng có thể ở dạng ẩn và không thể sao chép, nh khi chúng tồn tại trong đầu
óc của các cá nhân hoặc trong các chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp.
Định nghĩa trên chỉ hạn chế tri thức là khả năng của các cá nhân hoặc tổ
chức. Tri thức không ẩn trong các hàng hoá mà trong quá trình tạo ra hàng hóa.
Định nghĩa trên cũng không cho rằng tri thức là các lý thuyết hoặc tài liệu. 21
7
"On some problems in measuring knowledge-based economy", tác giả Peter Howitt
Một phần của tri thức đợc định nghĩa nh trên giống nh một t liệu sản
xuất. Nó có thể đợc tạo ra, đợc trao đổi và đợc sử dụng trong phơng pháp
sản xuất các hàng hoá khác. Nó có thể đợc lu giữ, bị khấu hao, và bị lỗi thời.
Tuy vậy, trong mọi trờng hợp vẫn có các sự khác biệt quan trọng giữa tri thức
và các t liệu sản xuất.

Về sản xuất
Sản xuất tri thức, trong một chừng mực nào đó là một sản phẩm phụ của
các hoạt động với các mục đích khác nhau, xẩy ra khi con ngời rút ra kinh
nghiệm từ phơng pháp sản xuất hoặt tiêu thụ các hàng hoá, hoặc khi họ lắng
nghe, học hỏi những kinh nghiệm của ngời khác.
Một khác biệt lớn giữa sản xuất t liệu sản xuất và sản xuất tri thức là việc
sản xuất tri thức có tính không chắc chắn rất cao và rủi ro rất lớn.
Sự khác biệt khác giữa sản xuất t liệu sản xuất và sản xuất tri thức là dạng
của thành phẩm. Khác với các t liệu sản xuất khác, tri thức đợc biểu hiện bởi
vốn nhân lực và tổ chức.
Có lẽ điểm khác biệt quan trọng nhất giữa hai loại sản xuất này phát sinh
từ thực tế rằng nhiều phơng pháp sản xuất tri thức sử dụng những tri thức của
những ngời khác, của những hãng khác nh là các đầu vào của sản xuất.

dần theo quy mô. Điều này không phù hợp với khuôn khổ cân bằng tổng quát
trong cạnh tranh hoản hảo (đòi hỏi các hãng phải đủ nhỏ).
Đặc điểm thứ hai là việc sử dụng tri thức tự động tạo ra sự lỗi thời của các
tri thức khác, cũng nh các t liệu sản xuất khác. Điều này có nghĩa là tri thức
tạo ra các ngoại ứng (ngoại ứng dơng và âm).
Đặc điểm cuối cùng là việc sử dụng tri thức sẽ không chỉ tạo ra nhiều sản
phẩm với phí tổn ít hơn mà còn dẫn đến tạo ra các sản phẩm cha từng tồn tại.
Đo lờng sản lợng, năng suất, và tri thức
Các sự khác biệt đợc phân tích ở trên giữa tri thức và các t liệu sản xuất
khác tạo ra bốn khó khăn trong việc đo lờng.
Khó khăn thứ nhất là "vấn đề đầu của vào tri thức". Hiện nay số nguồn lực
dùng để tạo ra tri thức đang bị đánh giá quá thấp. Cách đo lờng hiện nay dựa
vào các nguồn lực đợc sử dụng vào lĩnh vực giáo dục (có loại trừ rất nhiều hoạt
động giáo dục phi chính thức của các hãng và cá nhân) và dựa vào chi phí giáo
dục của mỗi cá nhân. Tuy vậy còn rất nhiều hoạt động tri thức khác bị bỏ qua
nh việc các công nhân tiêu tốn nhiều thời gian và năng lợng để tìm ra cách
thức sản xuất và bán hàng tốt hơn.
Khó khăn đo lờng thứ hai là vấn đề "đầu t vào tri thức". Có nghĩa là các
thành phẩm tri thức đợc tạo ra từ các hoạt động R&D chính thức cũng nh phi
chính thức thờng không hề đợc đo lờng, bởi vì nó không tạo ra là một hàng
hoá trung gian có một giá thị trờng. Theo quan điểm của Hagi-Simon, việc tạo
ra tri thức phải đợc xem xét giống nh việc tạo ra các t liệu sản xuất khác, bởi
vì trong cả hai trờng hợp đều có một chi phí cơ hội của việc tiêu tốn các
nguồn lực. Tuy nhiên, trong hệ thống tài khoản quốc gia không hề có nhóm tài
khoản nào đo lờng đợc sự tăng lên hàng năm của khối tri thức trong xã hội.
Các tri thức mới đợc tạo ra bởi các hoạt động R&D của các hãng đã hoàn toàn
bị bỏ qua. Tất nhiên, trong một chừng mực nào đó thì các kết quả từ các hoạt
động R&D sẽ tạo ra nhiều hàng hoá hơn hoặc tạo ra các hàng hoá tốt hơn và
cuối cùng cũng sẽ ảnh hởng đến số GNP đợc đo lờng. Nhng các tri thức


lợng là khá lớn. Nếu một nớc bỏ 2,5% GDP vào đầu t R&D và bỏ 20% GDP
vào đầu t vật thể thì nớc đó sẽ phải cộng thêm 12,5% vào khối đầu t trong
GNP để sửa lại vấn đề "đầu t tri thức"
Sự kết hợp của bốn vấn đề trên sẽ dẫn tới xu hớng tăng trởng GDP và
tăng trởng năng suất đợc đo lờng sẽ thấp hơn so với thực tế. Theo Griliches
(1994) thì cuộc cách mạng thông tin đã làm tăng quy mô tơng đối của các khu
vực không thể đo lờng, và Griliches đã ớc tính các khu vực không thể đo
lờng này chiếm tới 70% GNP của Hoa Kỳ. "Vấn đề chất lợng" khiến cho
năng suất đo lờng đợc thấp hơn rất nhiều so với năng suất thực tế đã tăng lên24
2.Đo lờng và quản lý tài sản trí tuệ
8

Có 4 loại tài sản trí tuệ chính là: nhãn hiệu thơng mại, giấy chứng nhận
sáng chế, bản quyền và các kiểu dáng công nghiệp đã đăng ký.
Tài sản tri thức bao gồm danh tiếng, các mạng lới tổ chức và nhân sự, và
tri thức và kinh nghiệm của các công nhân có kỹ năng. Đặc điểm chung của các
tài sản này là chúng tồn tại trong đầu óc của con ngời. Có thể chia ra ba loại tri
thức là: Tri thức về môi trờng (nh thông tin thị trờng, công nghệ ), tri thức
về công ty (danh tiếng, nhãn mác, quảng cáo ) và tri thức nội bộ (văn hoá công
ty, đạo lý, cơ sở dữ liệu, bí quyết của ngời làm công, bí quyết của công ty).
Quản lý các tài sản trí tuệ
Tài sản trí tuệ có các tính chất sau đây: khó đạt đợc và khó tích tụ, có thể
đợc đồng thời sử dụng cho nhiều hoạt động kinh doanh, vừa là đầu vào, vừa là
đầu ra của quá trình kinh doanh. Mỗi tổ chức nên xây dựng một cách hệ thống
các tài sản trí tuệ cốt lõi của mình: các bí quyết sản xuất, bí quyết dịch vụ, các
nhãn hiệu Những tài sản này không chỉ làm tăng khả năng cạnh tranh của tổ
chức mà còn tạo ra một hàng rào gia nhập hiệu lực đối với các đối thủ cạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status