Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Mở đầu
Khóa luận tốt nghiệp nằm trong chương trình đào tạo bắt buộc của Khoa Địa
Chất Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên-Đai Học Quốc Gia Hà Nội. Với chương
trình đào tạo của bộ môn địa chất dầu khí, đề tài khóa luận này chọn hướng nghiên
cứu trong lĩnh vực dầu khí.
Công nghiệp dầu khí nước ta là một nghành công nghiệp non trẻ, nhưng nó
là một ngành công nghiệp mũi nhọn, góp phần quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu.
Tháng 11 năm 2001 vừa qua, Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro đã khai
thác tấn dầu thô thứ 100 triệu trên thềm lục địa Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu
một bước ngoặt lớn trong nền công nghiệp dầu khí nước nhà cũng như trong nền
kinh tế quốc dân.
Trong suốt hơn 20 năm hoạt động, ngành dầu khí đã đem lại cho nền kinh tế
Việt Nam một nguồn ngoại tệ lớn và là ngành công nghiệp trọng điểm được Đảng
và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm phát triển. Nhiệm vụ của ngành công nghiệp dầu
khí hết sức nặng nề là phải tăng cường hoạt động tìm kiếm thăm dò để gia tăng trữ
lượng dầu khí 50 triệu tấn dầu thô/năm trong giai đoạn 2001-2005. Chính vì vậy,
công tác thăm dò và nghiên cứu dầu khí không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn
có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn trong việc đẩy mạnh và phát triển công nghiệp dầu
khí đạt hiệu quả cao.
Tóm lại, cùng với sự phát triển của các ngành trong cả nước, ngành
công nghiệp dầu khí đã và đang đóng góp đáng kể trong nền kinh tế quốc dân
từ vai trò thực tế của sản phẩm từ dầu khí, sự thu hút lao động, đầu tư từ nước
ngoài, đến việc điều hoà kinh tế các vùng, điều hoà cán cân thương mại và
làm tăng GDP của đất nước, vì vậy chúng ta thấy rõ được tầm quan trọng của
ngành công nghiệp dầu khí.
Nội dung-mục đích ý nghĩa thực tiễn của khoá luận
Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
được một số khía cạnh.
Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Phần I
địa chất khu vực: bể cửu long
chương I
đặc điểm địa lý tự nhiên KHU VựC nghiên cứu
I. Vị trí địa lý
Mỏ Bạch Hổ nằm trong đới nâng Trung Tâm thuộc bể Cửu Long ở phần
Đông Nam thềm lục địa phía Nam Việt Nam. Bể Cửu Long có dạng hình oval với
diện tích trên 200.000 km
2
giới hạn trong toạ độ địa lý: 9
0
-11
0
vĩ độ Bắc và 106
0
30-
109
0
kinh độ Đông. Phía Tây được bao quanh bởi đường bờ từ Cà Ná-Phan Thiết,
vũng Tàu đến Bạc Liêu, Cà Mau. Phía Nam và Đông Nam có một đới nâng ngầm
Côn Sơn chạy dọc theo các đảo nhô cao hiện đại như Hòn Khoai, Hòn Trứng, Côn
Sơn ngăn cách bể Cửu Long với Bể Nam Côn Sơn. Phíâ Bắc giáp bể Phú Khánh,
phía Tây Nam là bể Malay-Thổ chu.
II. Điều kiện địa lý tự nhiên
1. Địa hình địa mạo
Phần viết này sinh viên dựa vào tài liệu của Tổng Công Ty Dầu Khí và tham
thung lũng. Ở phía Tây Nam bể Cửu Long, từ độ sâu 40 m đến 600 m đã phát hiện
thấy đảo san hô ngầm có chiều dài tới 13 km, rộng 8 km nhô cao cách đáy biển một
vài chục mét. Phần lớn ám tiêu san hô thể hiện trên địa hình đáy biển tập trung ở
phần Đông Nam của cấu tạo đới Trung Tâm Bạch Hổ và Rồng (hình 1.1)
2. Khí hậu
Khí hậu đặc trưng cho vùng xích đạo chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô (từ
tháng 11 đến tháng 3 năm sau) và mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 9). Nhiệt độ trung
bình trên bề mặt vào mùa mưa là 27
0
-28
0
C, mùa khô là 29
0
-30
0
C. Tại độ sâu 20 m
nước, vào mùa mưa nhiệt độ trung bình là 26
0
-27
0
C và mùa khô là 28
0
-29
0
C. Nhìn
chung khí hậu khô ráo, độ ẩm trung bình 60%.
Bể Cửu Long có hai chế độ gió mùa. Chế độ gió mùa Đông đặc trưng bởi
gió mùa Đông Bắc từ đầu tháng 11 năm trước đến cuối tháng 3 năm sau với ba
hướng gió chính: Đông Bắc, Đông và Đông Đông Bắc. Vào tháng 12 và tháng 1,
hướng gió Đông Bắc chiếm ưu thế, còn tháng 3 thì hướng gió Đông chiếm ưu thế.
Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Chương II: Lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực
Từ những năm sáu mươi đến nay trong số các bể trầm tích ở thềm lục địa
Việt Nam, bể Cửu Long là nơi mà công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí được mở
đầu sớm nhất và cũng là nơi đánh dấu thành quả lớn nhất của ngành dầu khí Việt
Nam. Lịch sử nghiên cứ, thăm dò tìm kiếm dầu khí tại mỏ Bạch Hổ nói riêng bể
Cửu Long nói chung bị chi phối trực tiếp của công cuộc cách mạng giải phóng miền
Nam của dân tộc ta. Vì vậy, chúng ta có thể lấy mốc là năm 1975, một mốc son chói
lọi nhất của cách mạng Việt Nam, thời điểm thống nhất đất nước, từ đó có thể chia
lịch sử nghiên cứu dầu khí bể Cửu Long ra thành 2 giai đoạn, giai đoạn trước năm
1975 và giai đoạn sau năm 1975 (theo tài liệu của Tổng Công Ty Dầu Khí).
Lịch sử nghiên cứu của khu vực có thể chia ra làm 2 thời kỳ:
I. Giai đoạn trước năm 1975
Năm 1973 - 1974, bằng phương pháp khảo sát địa chấn phản xạ trên các lô
15, 09, 16 ở thềm lục địa Nam Việt Nam, các Công ty dầu khí của Mỹ là Pecten và
Mobil đã phát hiện đới nâng trung tâm trũng Cửu Long trong đó có cấu tạo Bạch
Hổ, Rồng.
Năm 1974, công ty Mobil đã phát hiện dòng dầu công nghiệp đầu tiên ở
thềm lục địa Việt Nam.
Như vậy, từ trước năm 1975, bể Cửu Long mới chỉ được nghiên cứu và thăm
dò trên mặt mà chưa đưa vào khai thác.
II. Giai đoạn từ 1975 đến nay
Sau khi Miền Nam được giải phóng, ngày 03/09/1975, chính phủ ra nghị
định thành lập Tổng Cục Dầu Khí Việt Nam. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thực
hiện việc quản lý nhà nước toàn bộ tài nguyên dầu khí cả nước, tổ chức tìm kiếm
thăm dò khai thác, chế biến và thực hiện hợp tác với nước ngoài.
Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
mỏ Rồng (12/1994), Rạng Đông (1998), Ruby (10/1998). Sản lượng dầu khai thác
Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
của bể Cửu Long chiếm tới 96% sản lượng dầu thô trong cả nước. Khoảng 100
giếng khoan khai thác dầu từ móng của mỏ Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Ruby cho
lưu lượng giếng hàng trăm tấn/ngày đêm, có giếng đạt tới 1000 tấn/ngày đêm, đã và
đang khẳng định móng phong hoá là đối tượng chính cần được quan tâm hơn nữa
trong công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí trong tương lai của bể Cửu Long và các
vùng kế cận. Các bẫy phi cấu tạo trong trầm tích (play2) cũng là đối tượng tìm kiếm
quan trọng trong thời gian tới.
Năm 2001, Vietsovpetro đã kỷ niệm khai thác tấn dầu thô thứ 100 triệu. Đây
là một dấu ấn quan trọng trong bước tién của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.
Trong hơn 20 năm qua, ngành dầu khí đã đạt được những thành tựu to lớn đóng góp
vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên trong thời gian tới nhiệm vụ
đặt ra cho ngành hết sức quan trọng là phải đẩy mạnh công tác thăm dò nhằm phát
hiện gia tăng trữ lượng làm cơ sở cho việc quy hoạch khai thác dầu khí.
Song song với công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí hàng loạt các công trình
nghiên cứu bể Cửu Long của các tác giả trong và ngoài nước ra đời. Các công trình
này đã góp phần đắc lực phục vụ cho công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, tính
toán trữ lượng dầu khí ở Việt Nam.
Năm 1997, đề tài nghiên cứu “Điều kiện lắng đọng trầm tích-cổ địa lý các
tầng chứa dầu khí trong trầm tích Oligoxen hạ mỏ Bạch Hổ thuộc bồn trũng Cửu
Long” của Nguyễn Đình Dỹ và nnk là công trình nghiên cứu hoàn chỉnh đầu tiên về
tướng đá cổ địa lý ở vùng mỏ Bạch Hổ.
Năm 2001 luận án tiến sĩ địa chất của Hoàng Phước Sơn “Đặc điểm thành
tạo, quy luật phân bố và phát triển các tầng trầm tích chứa dầu khí Oligoxen dưới
khu vực Đông Nam bồn trũng Cửu Long” đã đề cập đến đặc điểm cổ địa hình, cổ
địa mạo, điều kiện lắng đọng trầm tích ở khu vực Đông Nam bể Cửu Long góp
phần làm sáng tỏ tướng đá cổ địa lý giai đoạn Oligoxen hạ.
I. Địa tầng khu vực nghiên cứu
1. Đặc điểm về địa tầng
Địa tầng của khu vực nghiên cứu được thành lập dựa vào kết quả phân tích
mẫu vụn, mẫu lõi, tài liệu carota và tài liệu phân tích cổ sinh từ các giếng khoan
trong phạm vi khu vực, với mặt cắt địa chất có từ móng tới Pliocen - Đệ tứ (hình
3.1).
Với một cấu trúc địa chất nằm sâu dưới mực nước biển, các tầng trầm tích
hầu như nằm ngang, các thông tin về địa tầng đạt được chủ yếu bằng phương pháp
khoan và địa chấn thì về mặt nghiên cứu sinh địa tầng là rất hạn chế. Bởi vậy sự liên
kết địa tầng ở đây chủ yếu là dựa vào thành phần thạch học. Dựa vào tài liệu của
Tổng Công Ty Dầu Khí đặc điểm địa tầng bể Cửu Long được khái quát như sau.
1.1. Móng trước Kainozoi
Dựa vào kết quả phân tích tài liệu khoan, liên kết với tài liệu địa chất đối với
các phức hệ đá móng tìm thấy trên đất liền cho thấy đá móng khu vực nghiên cứu
có thành phần chủ yếu là các thể xâm nhập nhóm granitoid (granitoid, granodiorit
và riolit thạch anh). Granit có màu xám, xám phớt hồng, dạng khối, hạt trung. Một
số mẫu chịu ảnh hưởng của quá trình biến đổi thứ sinh và bị vò nát. Bề mặt phong
hoá của móng granit phân bố không đều, không liên tục trên các mặt địa hình cổ. Bề
dày lớp phong hoá trung bình 10 - 20m có nơi đạt hơn 40m (giếng khoan 411 mỏ
Bạch Hổ). Đá móng có tuổi Jura muộn - Kreta sớm (tuổi tuyệt đối khoảng 97 - 178
triệu năm).
Ở khu vực mỏ Rồng, dưới tác dụng của các hoạt động kiến tạo, hoạt động
nhiệt dịch và quá trình phong hoá, đá móng bị nứt nẻ khá mạnh và được lấp đầy
hoàn toàn hay một phần bởi ximăng canxit và một phần nhỏ là ximăng zeolit màu
trắng. Gắn liền với chúng là các hang hốc có hình dạng rất khác nhau kích thước
khoảng 2cm. Đó là bằng chứng chứng tỏ sự pelit hoá mạnh mẽ của khoáng vật
Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
fenspat và sự tái sắp xếp của các hạt thạch anh đã tạo ra lỗ rỗng và các hang hốc
hydromica, clorit và zeolit. Cát kết chủ yếu hạt trung có màu xám tối, dạng khối với
thành phần khoáng vật bao gồm thạch anh, felspat, nhiều mảnh khoáng vật silicat,
đôi khi gặp các mảnh đá magma.
Tập 2: Là tập trầm tích hạt mịn bao gồm sét kết và bột kết. Tầng trầm tích
này có chiều dày cực đại đạt đến 120m, nhưng ở một số khu vực chúng vắng mặt do
bị bào mòn. Thành phần thạch học của tầng trầm tích này là sét kết và bột kết màu
lam xám, xám tối và nâu xẫm. Chúng có cấu trúc phân lớp. Không gặp vi cổ sinh
chỉ thị. Có các tầng sét giàu vật chất hữu cơ nguồn gốc đầm hồ, đồng bằng ven biển,
đây có thể là tầng đá mẹ quan trọng, hơn nữa hệ số cát trung bình khoảng 50%, độ
rỗng hiệu dụng thay đổi từ 7 - 16%, nên chúng là đối tượng chứa dầu khí đáng quan
tâm.
Phụ thống Oligocen trên
Hệ tầng Trà Tân (E
3
2
tt)
Trầm tích thuộc hệ tầng Trà Tân có thể bắt gặp trong hầu hết các giếng
khoan của bể Cửu Long với chiều dày thay đổi từ 100 - 900m, bề dày tăng dần từ
cánh đến trung tâm. Thành phần thạch học bao gồm cát kết và sét kết xen kẽ nhau
chủ yếu là argilit màu xám đen, nâu tím chứa nhiều vật chất hữu cơ dạng sapropen.
Chiều dày tập sét kết thường rất lớn và có chỗ đạt tới hàng trăm mét, có thể gặp một
số tầng đá phun trào xen kẽ các tập trầm tích. Có thể chia tập trầm tích hệ tầng Trà
Tân ra làm 3 tập:
Tập 1: Cát kết mỏng xen kẽ giữa các tầng sét kết dày. Có nơi tập trầm tích
này nằm trực tiếp trên đá móng do trầm tích Oligocen dưới bị bào mòn trước đó.
Tập 2: Sét kết là chủ yếu, có xen kẽ một vài tập cát kết mỏng không đáng kể,
gặp phổ biến các vụn đá magma.
Tập 3: Sét kết, cát kết xen kẽ với tỷ lệ cát cao hơn so với hai tập dưới.
Khoáng vật sét điển hình của hệ tầng gồm: Kaolinit, hyđromica. Khoáng vật cát
Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
mang tính khu vực, hình thành trong điều kiện nước ấm, nông với sự hoạt động của
các yếu tố động học. Khoáng vật sét bao gồm: Monmoriolit, hyđromica, cacbonat.
Xi măng chủ yếu là sét và cacbonat. Vật chất hữu cơ trong các lớp sét chủ yếu có
nguồn gốc lục địa được tích luỹ và bảo tồn trong môi trường nước, hàm lượng
cacbon hữu cơ không cao, chỉ có khả năng sinh khí kém. Nhìn chung, cát kết hệ
tầng Bạch Hổ có thành phần thạch anh, acko hạt trung đến thô, đôi khi gặp cuội kết.
Tuy nhiên với độ rỗng 10 - 12%, độ thấm 5 - 300mD, độ bão hoà dầu 57%, có thể
nói đây là tầng chứa tốt.
Phụ thống Miocen giữa
Hệ tầng Côn Sơn (N
1
2
cs)
Phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Bạch Hổ là trầm tích hệ tầng Côn Sơn có tuổi
Miocen giữa có mặt khắp nơi trên bồn Cửu Long, chiều dày thay đổi từ 566 - 845m.
ở phía nam, hệ tầng này được đặc trưng bởi các trầm tích lục nguyên hạt thô, bao
gồm cát thạch anh, sỏi, cát kết acko với hàm lượng plaziocla và octoclase khoảng
30%, gắn kết yếu bằng ximăng cacbonat, cacbonat - monmoriolit, monmoriolit. ở
phía Bắc xuất hiện các tập mỏng trầm tích hạt mịn, đôi nơi lớn hơn 35% tổng chiều
dày tập trầm tích. Thành phần khoáng vật sét bao gồm khoáng vật monmoriolit với
oxit sắt, có màu xám, xám nâu vàng. Môi trường thành tạo là biển ấm, nông có tác
động của dòng chảy (tam giác châu ven biển, biển nông). Hoá thạch vi cổ sinh khá
đa dạng, các đặc trưng định tuổi Miocen giữa gồm: Globorotalia fohsi, orbulina
univesa, Probalina trilobital. Bào tử phấn hoa không có quy luật, các dạng đặc trưng
gồm: Florschuezia levipoli, Verrutricolporites sp
Phụ thống Miocen trên
Hệ tầng Đồng Nai (N
1
sp., Flor. Meridionalis, Rhizophora sp., đặc trưng cho môi trường trầm tích biển. Vì
thiếu vắng tầng chắn nên trầm tích hệ tầng này hoàn toàn không có triển vọng dầu
khí.
2. Đặc điểm về magma trong Pliocen - Đệ tứ
Các thành tạo núi lửa trong Pliocen - Đệ tứ là sản phẩm của các quá trình
hoạt động magma kiến tạo Kainozoi muộn. Các thành tạo phân bố rộng rãi trong
khu vực Đông Nam á. Trên thềm lục địa Việt Nam có nhiều biểu hiện của các đá
núi lửa trẻ được biểu hiện trên các mặt cắt địa vật lý và cũng đã phát hiện được
Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
trong một số giếng khoan dầu khí ngoài khơi. Những dấu hiệu gián tiếp của những
núi lửa trẻ còn liên quan đến các biểu hiện khí cacbonic (CO
2
) đã phát hiện được
trong nhiều giếng khoan ngoài khơi trên thềm lục địa Trung Bộ. Cường độ hoạt
động mạnh và biểu hiện rõ ràng chỉ khoảng 3 triệu năm trở lại cho tới nay. Có thể
chia thành 4 giai đoạn hoạt động núi lửa trên thềm lục địa Việt Nam như sau:
Giai đoạn Miocen muộn
Giai đoạn Pliocen - Pleistocen sớm
Giai đoạn Pleistocen sớm - giữa
Giai đoạn Holocen - hiện đại
Các hoạt động magma trẻ rất ảnh hưởng đến các tích tụ dầu khí đã được hình
thành trước đó. Vì vậy, cần phải phân tích quy luật phân bố và ảnh hưởng của
chúng tới các bẫy dầu khí.
II. Cấu trúc - kiến tạo khu vực
1. Vị trí kiến tạo bể Cửu Long
Bể Cửu Long nằm ở phía Đông Nam của thềm lục địa phía Nam Việt Nam,
phía tây của bể giáp với đường bờ từ Cà Ná - Phan Thiết, Vũng Tàu có xâm nhập và
phun trào Mesozoi, phía đông nam được giới hạn bởi đới nâng ngầm Côn Sơn chạy
từng khu vực và được chia ra làm ba tầng cấu trúc khác nhau:
Tầng cấu trúc dưới (bồn trầm tích Oligocen)
Tầng cấu trúc trên (bồn trầm tích Mioxen)
Tầng cấu trúc lớp phủ thềm lục địa Pliocen - Đệ tứ
Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
2.1.2.1. Tầng cấu trúc Oligocen
Bao gồm hai hệ tầng trầm tích:
Các đá hệ tầng Trà Cú thuộc hệ Oligocen dưới và các đá hệ tầng Trà Tân
thuộc phụ hệ Oligocen trên.
Trầm tích Oligocen dưới thay đổi đáng kể và chiều dày có giá trị lớn nhất ở
phía Bắc, Đông Bắc, Đông Nam của khu vực nghiên cứu. ở khối nâng Trung Tâm,
trầm tích này bị mất. Hầu hết các đứt gãy hoạt động mạnh trong thời kỳ Oligocen
sớm.
Trầm tích Oligocen trên phân bố rộng khắp trên toàn bộ khu vực và có chiều
dày thay đổi từ 200 - 300m ở phần trung tâm và ra đến cánh khoảng 1000m. Các
đứt gãy trong giai đoạn này có cường độ và biên độ giảm hẳn.
2.1.2.2. Tầng cấu trúc trên (bồn trầm tích Miocen)
Tầng cấu trúc này bao gồm các trầm tích lục nguyên. Đó là các trầm tích cát,
bột, sét xen kẽ có độ hạt từ thô đến mịn. Đặc trưng của giai đoạn này là quá trình
sụt lún và oằn võng kế tiếp sau thời kỳ tách giãn Oligocen, cường độ và biên độ các
đứt gãy giảm dần
2.1.2.3. Ttầng cấu trúc lớp phủ thềm lục địa Pliocen - Đệ Tứ
Các thành tạo trong tầng cấu trúc Pliocen - Đệ Tứ bao gồm cát, cát kết gắn
kết yếu, đá acko hạt thô màu xám vàng, xen kẽ các tập sét, sét vôi, điểm đặc trưng
là có thế nằm ngang, phân bố rộng rãi trên toàn thềm lục địa.
2.2. Cấu trúc ngang
Cấu trúc bể Cửu Long phụ thuộc cơ bản vào bình đồ cấu trúc bề mặt móng
trước Kainozoi. Các đới nâng ven rìa của bể từ Phan Rang-Phan Thiết-Vũng Tàu
Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Các đới nâng là các cấu trúc dương tương phản với các đới trũng trong bể
Cửu Long. Chúng thường là các kiến tạo kế thừa các khối nhô móng trước Kainozoi
của bể. Các đối tượng vòm nâng thường là đối tượng tìm kiếm thăm dò dâu khí, do
vậy các mặt cắt cấu trúc thường có giếng khoan kiểm tra.
Đới nâng Trung Tâm (Rồng-Bạch Hổ-Rạng Đông). Đới này hình thành do
hoạt động của hai đứt gãy theo phương Đông Bắc-Tây Nam, nối liền các cấu tạo
Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Chiều dày của đới là 80km, chiều rộng trung bình từ
16-18km. Đới nâng Trung Tâm được ngăn cách với đới trũng phía Đông- Đông
Nam và Tây-Tây Bắc bởi hàng loạt các đứt gãy có phương Đông Bắc-Tây Nam.
Các đứt gãy này hoạt động mạnh mẽ, xuyên cắt nhau phân cắt móng thành những
khối riêng biệt xen kẽ nhau. Biên độ của các đứt gãy này từ vài trăm mét đến
1000m. Trong đới nâng Trung Tâm hình thành và tồn tại các cáu tạo Rồng, Bạch
Hổ, Rạng Đông. Ngăn giữa các cấu tạo này là các trũng sâu địa phương.
Đới nâng Trà Tân (15-A)-Đồng Nai (15G0theo phương Đông Bắc –Tây Nam
và có xu thế nối với cấu tạo Ba Vì qua sườn dốc của đôn nghiêng Tây- Bắc.Đặc tính
cấu trúc chỉ dược thể hiện rõ ở phần bề mặt móng và các thành tạo trước Mioxen.
Đới nâng được khống chế bởi hệ thống đứt gãy Đông Bắc-Tây Nam, đồng thời bị
phức tạp, phân cắt bởi các đứt gãy phương Tây Bắc-Đông Nam và bị chặn ở phía
Tây Nam bởi đứt gãy Á Vĩ Tuyến.
Đới nâng Tam Đảo-Bà Đen dược phát triển kế thừa trên các khối nhô móng
tới sát trước Mioxen.Trong đới này, đứt gãy Đông-Tây phân cắt đới thành các cấu
tạo nhỏ hơn và phức tạp như cấu tạo Đu Đủ, Tam Đảo, Ba Vì.
Đới nâng Ru by-Agate kéo dài theo hướng Bắc Đông Bắc và phân bố ở
Đông Bắc bể Cửu Long.
Đặc tính cấu trúc thể hiện trong móng và các thành tạo trong Mioxen sớm.
Trong đới này có các cấu tạo triển vọng như: Ruby, Diamond, Emerald, Pearl,
Topaz, Agate.
Nghiên c u c u trúc-ki n t o v ti m n ng d u khí t ng Oligoxen m ứ ấ ế ạ à ề ă ầ ầ ỏ
B ch Hạ ổ
Hệ thống đứt gãy Đông Đông Bắc - Tây Tây Nam thể hiện rõ nét ở phía
Đông và Tây của mỏ Bạch Hổ, góc cắm của hệ thống này thường từ 65
0
- 80
0
và
có
biên độ dịch chuyển từ 500 - 2000m. Có một số đứt gãy chờm nghịch ở phía tây mỏ
Bạch Hổ. Quá trình hoạt động của các đứt gãy này gắn liền với các pha nén ép cục bộ
xảy ra vào cuối Oligocen đầu Miocen. Những đới phá huỷ sinh ra do hệ thống đứt gãy
chờm nghịch trở thành đường dẫn cho hydrocacbon đi từ nơi sinh vào trong đá móng.
Hệ thống đứt gãy Tây Tây Bắc - Đông Đông Nam phát triển chủ yếu ở phần
trung tâm khu vực nghiên cứu. Chính hệ thống đứt gãy này đã phân chia các khu
mỏ ra các khối khác nhau. Sự sinh thành ra chúng vào giai đoạn đầu của thời kỳ tạo
rift và tiếp tục hoạt động trong suốt quá trình đó rồi ngưng nghỉ vào Oligocen
muộn. Biên độ của chúng bé hơn nhiều so với biên độ của hệ thống đứt gãy Đông
Đông Bắc - Tây Tây Nam (khoảng 200 - 600m).
Hệ thống đứt gãy Á Kinh Tuyến (theo phương Bắc và Đông Bắc) thể hiện ở
phần đông bắc và trung tâm mỏ Rồng có biên độ tương đối lớn (hàng nghìn mét),
chiều dài phát triển hàng chục km.
Hệ thống đứt gãy Á Vĩ Tuyến (theo phương Đông - Tây) đóng vai trò tạo
nên cấu trúc khối, biên độ 200 - 500m, dài khoảng 5 - 15km. Nhìn chung, đặc điểm
đứt gãy phần Đông Bắc mỏ Bạch Hổ có quan hệ với phần cuối Tây Nam của mỏ
Rồng. Hoạt động đứt gãy trong bể Cửu Long đóng vai trò hết sức quan trọng trong
quá trình hình thành cấu trúc khối, các đơn vị cấu tạo cũng như không gian rỗng
chứa dầu trong đá móng của bể.