I. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Lí do chọn đề tài.
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phướng pháp dạy học hiện nay:
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH, HĐH với mục tiêu đến năm
2020. Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp
hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định của thắng lợi của công cuộc
CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực người việt Nam được
phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao.
Việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phô thông, và trước hết là phải bắt đầu từ
việc xác định mục tiêu đào tạo như là xác định những gì cần đạt được (đối với
người học) sau một quá trình đào tạo. Nói chung đó là một hệ thống phẩm chất và
năng lực được hình thành trên một nền tảng kiến thức kỹ năng đủ và chắc chắn.
Đứng trước yêu cầu tất yếu của xã hội ngành giáo dục đổi mới PPDH theo
hướng phát huy tích cực của HS là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại là tất
yếu khách quan.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH, nghị quyết TW 4
khoá VII đã đề ra nhiệm vụ “Đổi mới PPDH ở tất cả các bậc học, cấp học”
Nghị quyết TWII - BCH TW Đảng khoá VIII đã nhấn mạnh. “Đổi mới
mạnh mẽ phương pháp giáo dục, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, đảm bảo
điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS nhất là sinh viên đại học
phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong
toàn dân nhất là thanh niên”.
Trước thực tế đó: Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000
của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định
mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là; “Xây dựng
nội dung chương trình phương pháp giáo dục, SGK phổ thông mới nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hể trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn
nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống
Việt Nam tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu
vần đề mà nhiệm vụ nhận thức ra. Nghĩa là, HS tự giành lấy tri thức dưới sự tổ
chức chỉ đạo của GV. Như vậy việc thành công của việc dạy học phù thuộc rất
nhiều PPDH được.
GV lựa chọn.
Qua tìm hiểu và qua dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy cùng một nội dung
nhưng tuỳ thuộc vào phương pháp sử dụng trong dạy học, kết quả sẽ khác nhau về
mức độ lĩnh hội các chi thức, về sự phát triển trí tuệ cùng các kỹ năng tư duy về
giáo dục đạo đức, về sự chuyển biến thái độ hành vi.
Bộ môn sinh học là một khoa học thực nghiệm nên nó cũng có những PP
giảng dạy đặc thù cho bộ môn. Trong số những PP thường sử dụng trong giảng dạy
bộ môn thì PP đàm thoại tìm tòi trong nhóm, PP dùng lời cũng được vận dụng phổ
biến, dạy học thông qua PP này sẽ giúp GV khai thác những kiến thức mà các em
đã tích luỹ trong chương trình động vật, những hiểu biết thực tế trong đời sống của
bản thân các em hoặc giúp các em vận dụng những kiến thức về giải phẫu, sinh lý
người để tìm hiểu có biện pháp vệ sinh có liên quan đến việc bảo vệ, tăng cường
sức khoẻ cho bản thân và cộng đồng.
Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy ở trường THSC hiện nay, nhiều giờ dạy
có chất lượng và hiệu quả chưa cao, chưa phát huy được tính tích cực học tập của
HS bởi CH mà GV đưa ra chưa phù hợp với yêu cầu bài học, chưa sát với đối
tượng, chưa xác định được vai trò chức năng của từng CH, mục đích hỏi, thiếu các
yếu tố kết nối với CH mà thứ tự hỏi chưa phù hợp. Chính vì vậy mà giờ dạy trở nên
đơn điệu, nhàm chán, bế tắc mà cuối cùng lại là “Thầy đọc - Trò chép”.
Là một GV trực tiếp giảng dạy bộ môn sinh học, qua thực tế dạy học, qua
nghiên cứu nội dung chương trính Sinh học 8, và qua yêu cầu thực tiễn khi dạy
cùng với kết quả học tập của HS, với mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình
vào công cuộc đổi mới PPDH môn Sinh học ở trường THCS nhằm nâng cao chất
lượng giảng dạy và học môn Sinh học, tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài; “Sử
dụng CH để tích cực hóa hoạt động học trong dạy học chương trình Sinh học 8
THCS”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Muốn thực hiện được điều này, đòi hởi GV phải xây dựng được hệ thống CH
phù hợp với yêu cầu bài học, hấp dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức
năng của từng CH, mục đích hỏi thứ tự hỏi GV cững cần dự kiến các phương án trả
lời của HS có thể chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi, có thể dẫn
dắt qua cách hỏi phụ trách đơn điệu, nhàm trán, nặng nề, bế tắc; tạo hứng thú học
tập của học HS và tăng hấp dẫn của giờ học.
1.1.2. Các loại CH và vai trò của chúng.
Dựa và yêu cầu nhận thức; Có các cách phân loại CH như sau.
Cách 1: Có hai loại CH
- Loại CH đòi hỏi tái hiện các kiến thức, nhớ và trình bày một cách có hệ
thống, có chọn lọc.
- Loại CH đòi hỏi sự thông hiểu, phân tích, tổng hợp khái quát hoá, hệ thống
hoá vận dụng kiến thức.
- Gall (1984) gọi loại thứ nhất là CH sự kiện và loại thứ hai là CH yêu cầu
cao hơn về nhận thức.
Cách 2
- Benjamin.Bloom (1956) Người Mỹ đã đề xuất một thang 6 mức CH (6 loại
CH) tương ứng với mức độ nhận thức tăng dần:
* CH ở mức độ “Nhận biết”.
- Mục tiêu: Kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ kiện, dữ liệu, các định nghĩa,
tên tuổi, địa điểm.
- Tác dụng: Cho thấy HS có khả năng nhận biết hoặc nhớ lại những gì đã
học, đã đọc hoặc đã trải nghiệm.
- Các từ để hỏi thường là: “Cái gì”, “Bao nhiêu”, “Hãy định nghĩa”, “Em
biết những gì về”, “Khi nào”, “Bao giờ”, “Cái nào”, “Hãy mô tả”.
Ví dụ:
+ Hãy phát biểu định nghĩa mô là gì?
+ Hãy liệt kê các yếu tố của một cung phản xạ?
* CH ở mức độ “Hiểu”.
- Mục tiêu của loại CH này là để kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ
* CH ở mức “Tổng hợp”.
- Mục tiêu của CH này là để kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán,
giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề suất có tính sáng tạo.
- CH tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS các em phải tìm ra những nhân tố
và những ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung.
- Việc trả lời CH tổng hợp khiến HS phải: Dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa
ra các CH trả lời sáng tạo cần nói. Do HS biết rõ rằng, các em có thể tự do đưa ra
những ý tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình. Các CH
này đòi hỏi một thời gian chuẩn bị khá dài. Vì vậy, cần để cho HS có đủ thời gian
tìm ra câu trả lời.
Ví dụ:
+ Hãy đề ra những biện pháp vệ sinh hệ thần kinh? Tại sao đề ra như vậy?
* CH ở mức “Đánh giá”.
- Mục tiêu của loại CH này là để kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý kiến và
đánh giá các ý tưởng, giải pháp dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra.
VD: Theo em làm thế nào để ngăn chặn đại dịch AIDS?
Cách 3:
Theo giáo sư Trần Bá Hoành có thể sử dụng 5 loại CH chính sau đây:
* Loại CH kích thích sự quan sát, chú ý:
* Loại CH yêu cầu so sánh, phân tích:
- Loại CH này hướng HS vào việc nghiên cứu chi tiết những vấn đề khá
phức tạp, nắm vững những sự vật, hiện tượng gần giống nhau, những khái niệm có
nội hàm chồng chéo một phần.
* Loại CH yêu cầu tổng hợp khái quát hoá, hệ thống hoá:
- Đây là loại CH đặc trưng cho một trương trình Sinh học mang tính lý
thuyết dẫn tới hình thành những kiến thức đại cương, đặc biệt là sự phát hiện những
mối liên hệ có tính quy luật trong thiên nhiên hữu cơ.
* Loại CH liên hệ với thức tế : HS có nhu cầu muốn áp dụng kiến thức mới
học vào thực tế đời sống, sản xuất, giải thích các hiện tượng trong tự nhiên. CH đặt
ra càng gần với thực tế sẽ càng thu hút sự chú ý và kích thích sự suy nghĩ của HS.
chọn một mệnh đề đúng nhất hay nhiều mệnh đề theo yêu cầu của đề.
* Dạng CH điền khuyết.
- Kiến thức được diễn đạt dưới dạng hỏi khuyết, HS lựa chọn nội dung kiến
thức phù hợp để hoàn thành.
1.1.4. Cách thức sử dụng CH.
1.3.1. Lôgíc của CH:
Quy nạp: Là đi từ đơn nhất đến cái chung, khái quát, đi từ cái cụ thể đến
nguyên lý hình thành quy luật.
1.3.2. Kĩ thuật sử dụng CH: Sử dụng CH và phiếu học tập.
1.3.3. Về mặt tổ chức.
CH chung đưa ra cho cả lớp và có những CH yêu cầu HS phải thảo luận
nhóm (dưới dạng phiếu học tập).
1.1.5. CH được sử dụng theo quy trình sau:
+ Bước 1: Nêu yêu cầu.
+ Bước 2: Hướng dẫn nghiên cứu tài liệu cần thiết.
+ Bước 3: Cá nhân HS hoạt động độc lập hoặc tổ chức hoạt động theo nhóm.
+ Bước 4: Kết luận, chính xác hoá kiến thức.
+ Bước 5: Vận dụng kiến thức mới.
1.2. Cơ sở thực tiễn
2.1 Phương pháp xác định thực trạng.
* Dùng phiếu điều tra GV của 5 trường với 10 GV dạy sinh:
-TH&THCS Đại Dực- Tiên Yên - Quảng Ninh.
- THCS Đông ngũ – Tiên Yên - Quảng Ninh.
- THCS Phong Dụ - Tiên Yên - Quảng Ninh.
- THCS Thị Trấn Tiên Yên -Tiên Yên - Quảng Ninh.
- THCS Tiên Lãng - Tiên Yên- Quảng Ninh.
* Với các CH như sau:
Câu 1: Trong quá trình dạy học các đồng chí thường sử dụng loại CH nào?
a, Loại CH HS có thể trả lời bằng một đoạn thông tin có sẵn trong SGK.
b, Loại CH HS phải nghiên cứu, tìm tòi, phân tích, so sánh rồi rút ra kết luận.
b, Thỉnh thoảng.
c, Thường xuyên.
Câu 8: Cuối mỗi bài học các đồng chí có sử dụng bài tập củng cố nhằm kiểm
tra năng lực tư duy, khả năng khái quát và trình độ nhận thức của HS không?
a, Không.
b, Thỉnh thoảng.
c, Thường xuyên.
2.2. Kết quả điều tra.
Thống kê kết quả:
Sử dụng phiếu điều tra có nội dung trên với 10 GV dạy sinh của 5 trường
huyện Đầm Hà - Quảng Ninh, tôi đã thu kết quả như sau:
Bảng kết quả điều tra thực trạng sử dụng CH
Phương
án
A b c
Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ
Câu 1 45,45% 22,73% 31,82%
Câu 2 54,55% 18,18% 27,27%
Câu 3 18,18% 68,18% 13,64%
Câu 4 0% 90,91% 9,09%
Câu 5 9,09% 9,09% 81,82%
Câu 6 22,73% 63,63% 13,64%
Câu 7 0% 27,27% 72,73%
Câu 8 0% 54,55% 54,55%
- Qua số liệu điều tra trên cho thấy hầu hết GV đều có nhận thức đúng về vai
trò của CH trong dạy HS học. Mọi GV đều cho rằng trình độ nhận thức (tốc độ
nhanh hay chậm) cũng như lượng kiến thức mơi mà HS phát hiện, rút ra được phụ
thuộc rất nhiều vào cách sử dụng CH của GV.
- Đa số GV đều có cách sử dụng CH phù hợp với đối tượng HS và phù hợp
Giáo viên chưa quan tâm sâu sát đến hết các đối tượng học sinh.
Năng lực tiếp thu, kĩ năng sống của học sinh còn hạn chế, chưa nhanh nhẹn.
Tất cả học sinh đều là dân tộc thiểu số có trình độ dân tri thấp, điều kiện khó
khăn, phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm đên việc học tập của học sinh.
2.2. Các giải pháp
2.2.1 Nguyên tắc sử dụng CH: sử dụng CH phải đảm bảo những nguyên tắc
sau:
- CH đưa ra phải bám sát mục tiêu bài học.
- CH phải đảm bảo tính chính xác của nội dung dạy học.
- CH phải phát huy được tính tích cực của HS.
- CH phải đảm bảo được nguyên tắc hệ thống: có nghĩa là CH khi đưa vào sử
dụng phải được sắp xếp theo một lôgíc hê thống cho từng nội dung SGK, cho một
chương trình một bài học, một phần cho cả chương trình phân môn và môn học.
- CH phải đảm bảo tính thực tiễn.
2.2.2. Quy trình sử dụng CH trong dạy HS học:
Quy trình sử dụng CH có thể theo trình tự của sơ đồ sau:
Sơ đồ: Quy trình sử dụng CH
TT Các bước thực hiện
Vai trò
của GV
Vai trò của HS Tri thức
1 Nêu CH
Định
hướng
Tự nghiên cứu
Lời giải của cá
nhân HS
2
Hướng dẫn nghiên
cứu tài liệu cần thiết
Có thể phân tích nội dung cụ thể của các bước sử dụng CH để tổ chức quá
trình dạy học như sau:
* Nêu CH:
- GV giao CH trước để định hướng cho HS nghiên cứu SGK, các tài liệu, các
loại phương tiện dạy - học. CH được sắp xếp theo một lôgíc chặt chẽ tương ứng với
nội dung bài học.
- Bên cạnh các CH chính có thể có các CH phụ có tác dụng hướng dẫn HS
nghiên cứu tài liệu vì vậy các CH loại này thường giúp HS huy động các kiến thức
đã có hoặc từ SGK để trả lời và giải quyết các CH. Trong trường hợp cần thiết có
thể có đề cương hướng dẫn trả lời.
* Hướng dẫn nghiên cứu tài liệu cần thiết.
- GV nêu các nguồn tài liệu cần thiết bằng việc chỉ dẫn các mục hoặc các
đoạn của SGK (hay tài liệu khác nếu cần và có điều kiện). Ở giai đoạn đầu khi HS
chưa làm quen với đọc các đoạn có nội dung thông tin tương ứng với CH đề cập
đến trong một số trường hợp, gợi ý một dàn bài để HS đọc và thu thập chọn lọc
thông tin từ tài liệu đọc.
- HS cần có các hoạt động sau đây:
+ Phân tích CH, định hướng, giải quyết.
+ Thu thập thông tin, tái hiện kiến thức.
+ Xử lý thông tin để đưa ra các phương án trả lời.
+ Ghi lại câu trả lời để báo cáo.
* Tổ chức thảo luận:
- GV có thể tiến hành cách tổ chức thảo luận ở tập thể cả lớp hoặc theo
nhóm.
+ Thành lập nhóm, các nhóm cử nhóm trưởng, thư kí.
+ Khuyến khích sự tham gia của mỗi cá nhân HS.
+ Đưa ra những CH gợi ý khi thảo luận nếu HS gặp những bế tắc khó khăn.
- Quá trình thảo luận là quá trình học bạn (hay học hợp tác với bạn) làm cho
các sản phẩm ban đầu đó được thông qua đánh giá, phân tích, sàng lọc, bổ sung,
điều chỉnh Cách tổ chức như vậy làm cho mỗi cá nhân HS không thụ động nghe
vấn đề của mình.
Tri thức mà HS thu được là tri thức khoa học. Đó là kết quả lao động của cá
nhân HS kết hợp với lao động của tập thể, nhóm, tổ, lớp và lao động của GV đồng
thời viếc tự chiếm lĩnh kiến thức kĩ năng, thái độ bằng hành động học của chính
mình, mỗi HS còn đượclàm quen dần với tự học, bồi dưỡng năng lực tự học, phát
triển ở HS năng lực tư duy, năng lực hành động, trí thông minh.
* Vận dụng kiến thức mới.
- GV ra CH về nhà cho HS nhằm kiển tra tri thức và khả năng vận dụng tri
thức đã chiếm lĩnh vào giải quyết các tình huống cụ thể trong học tập và đời sống.
Qua đó cho phép GV đánh giá chất lượng lĩnh hội kiến thức kĩ năng, thái độ của
HS theo mục tiêu bài học, phân loại trình độ HS, cung cấp thông tin ngược để điều
chỉnh quá trình dạy - học.
- HS cũng tự đánh giá trình độ của bản thân, tự rút kinh nghiệm về cách học,
tự sửa chữa sai xót đã mắc phải và tự điều chỉnh thái độ, hành vi của mình hợp lý
hơn, tiến bộ hơn. Có thể xem đây là bước vừa có tác dụng củng cố kiến thức, vừa
làm cho kiến thức thực sự trở thành sản phẩm trí tuệ của mỗi HS, kiến thức vừa
vững chắc, vừa được vận dụng linh hoạt trong các tình huống khác nhau. Di chuyển
kiến thức để giải quyết các tình huống mới là biểu hiện cao của mức độ chất lượng
lĩnh hội.
- Bản chất của việc sử dụng CH theo quy trình tiến là ở chỗ GV biết tổ chức
HS để họ có thể có những hoạt động học tập như:
+ Tác động lên nội dung học tập (đối tượng học), sắp xếp, chuyển dời, sưu
tầm, tra cứu, quan sát, mô tả, phân tích, tổng hợp để làm bộc lộ bản chất của đối
tượng HS.
+ Diễn đạt bằng lời những sự kiện, hiện tượng sinh học đã quan sát, phát hiện
được.
+ Diễn đạt bằng hình vẽ, kí hiệu hoặc sơ đồ hoá, mô hình hoá các nội dung
sinh học.
+ Tổng hợp khái quát hoá hình thành khái niệm, quy luật sinh học.
+ Vận dụng khái niệm, quy luật đã học để giải thích các hiện tượng hoặc vào
- Có ống dẫn, chất tiết
không ngấm vào máu mà theo ống
dẫn tới cơ quan đích
- Không có ống dẫn, chất
tiết ngấm trực tiếp vào máu và
theo máu đến cơ quan đích
- Có tác dụng trong quá
trình dinh dưỡng (các tuyến tiêu
hoá), thải bã (tuyến mồ hôi), sát
trùng (tuyến ráy tai )
- Có tác dụng điều hoà các
quá trình trao đổi chất và chuyển
hoá trong tế bào.
* HS nếu được các tuyến: tuyến nước bọt, tuyến gan, tuyến tuỵ, tuyến ruột,
tuyến vị.
- Trong khi các nhóm tiến hành thảo luận, GV quan sát và giúp đỡ nhóm
yếu.
- GV kẻ sẵn trên bảng cho HS lên chữa bài.
- Đại diện một nhóm lên bảng trình bày đáp án của nhóm mình, các nhóm
khác nhận xét, bổ sung.
* Bước 4: Kết luận chính xác hoá kiến thức:
- GV ghi lại những ý kiến bổ sung của nhóm.
- Sau đó GV hướng dẫn HS quan sát lai hình và đưa ra kết luận đúng bằng
bảng phụ co ghi câu trả lời (kiến thức đúng)
- HS theo dõi, tự đối chiếu với câu trả lời của mình và tự sửa chữa (nếu sai)
- GV yêu cầu HS quan sát H55.3 trả lời CH sau:
(?) Ở người có mấy tuyến nội tiết? Hãy kể tên?
- HS xác định được vị trí và kể được tên các tuyến nội tiết chính như H55.3.
- GV yêu cầu HS đối chiếu với các tuyến nội tiết mà mình đã xác định là
đúng hay sai, thiếu hay đủ
Phân tích để chứng minh sự đối lập nhưng thống nhất nhau trong hoạt động
của các hoóc môn tuyến tuỵ?
2.2.3.2Bằng biện pháp so sánh:
- Trong nhận thức cùng với sự hiểu biết sự vật, hiện tượng là cái gì và như
thế nào, còn phải hiểu được sự vật hiện tượng và không giống sự vật, hiện tượng
khác ở chỗ nào thì phải thì phải sử dụng đến biện pháp so sánh.
+ So sánh là sự phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa các đối
tượng, nhằm phân loại sự vật hiện tượng thành những loại khác nhau.
VD; Hãy so sánh tuyến nội tiết với tuyến ngoại tiết?
2.2.3.3. Biện pháp kỹ thuật.
Nêu CH dựa vào hình vẽ:
Ví dụ: Em hãy quan sát H57.1/SGK tr 179 và đọc chú thích hình. Xác định
vị trí và nêu cấu tạo của tuyến tuỵ?
Nêu CH dựa vào thông tin SGK:
VD: Em hãy nghiên cứu bảng 51/SGK tr 176 và cho biết tuyến yên có chức
năng gì?
Nêu CH dựa vào vốn kiến thức thực tiễn của HS:
VD: Dựa vào kiến thức của bản thân, em hãy cho biết ý nghĩa của cuộc vận
động “Toàn dân dùng muối Iốt là gì?
2.2.4 Phương pháp tổ chức.
- Có CH chung cho cả lớp.
VD: Nêu vị trí và cấu tạo của tuyến giáp.
- Có CH cho cá nhân HS sử dụng cho HS khá - giỏi:
VD: Em có thể rút ra được sự khác nhau giữa bệnh bướu cổ do thiếu Iốt với
bệnh Bazơđô không?
- Có CH yêu cầu HS phải hoạt động nhóm:
VD: Em hãy trình bày quá trình điều hoà lượng đường huyết giữ được ở mức
ổn định của các Hoóc môn tuyến tuỵ?
2.2.5. Nếu tổ hợp các biện pháp nêu trên lại với nhau, ta được rất nhiều biện
pháp khác nhau như: Phân tích, so sánh, khái quát hoá.
- Tôi mong muốn tạo nên sự hứng thú học tâp cho các em, có hứng thú thì mới phát
huy được tính tích cực, chủ động học tập, phát triển tư duy sáng tạo, khắc sâu kiến
thức và từ đó sẽ nâng cao chất lượng bộ môn sinh học
III. PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
- Trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm, tôi đã mạnh dạn đưa
ra một số cách sử dụng CH trong dạy học một số bài môn Sinh học 8. Qua kết quả
đã đạt được, tôi nhận thấy vai trò to lớn của CH trong quá trình áp dụng vào thực
tiễn giảng dạy của bản thân tôi nói riêng và kết quả của HS nói chung.
- Việc sử dụng CH để dẫn dắt HS tìm ra những tri thức cần lĩnh hội không
những phát huy được tính tích cực, chủ động của HS mà còn rèn luyện cho các em
khả năng phân tích, tổng hớp, suy luận giúp các em có hứng thú học tập, nghiên cứu.
- Ngoài ra hình thức dạy học hỏi - đáp, đàm thoại giữa GV và HS còn rèn
cho các em bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt lưu loát một vấn đề trước tập thể.
- Để phát huy được tính tích cực của HS, tôi nhận thấy rằng CH đưa ra phải
đảm bảo tính vừa sức, tính kế thừa và phát triển phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi
của đa số HS. Nhưng bên cạnh đó phải có những CH phải có tính chất phân hoá
theo năng lực của cá nhân HS có như vậy mới giúp các em ngày càng tién xa hơn
trên con đường nhận thức.
Trong đề tài này, trên cơ sở lý luận và thực tiễn giảng dạy. Tôi nhận thấy
việc sử dụng CH trong quá trình giảng dạy đã có từ rất lâu, song số GV thực sự
quan tâm, tâm huyết để xây dựng hệ thống CH cũng như cách sử dụng CH như thế
náo sao cho hiệu quả nhất thì chưa thực sự nhiều. Qua thực tế ứng dụng vào giảng
dạy ở các lớp thực nghiệm, tôi nhận thấy rất cần thiết áp dụng chúng vào công tác
giảng dạy của bản thân tôi nói riêng cũng như đối với GV dạy môn Sinh học nói
chung để nâng cao chất lượng giờ dạy, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện
nay.
2. Khuyến nghị:
Để không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học nhằm đáp ứng nhu cầu hiện
nay của xã hội. Tôi xin đưa ra một số ý kiến đề xuất như sau: