Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thế giới đang bước vào thế kỉ XXI, kỉ nguyên của hội nhập và
phát triển.Sự phồn thịnh của một quốc gia phải được gắn liền với sự phát triển
chung của nền kinh tế thế giới, không một quốc gia nào tự khép mình độc lập với
nền kinh tế thế giới mà lại có thể phát triển mạnh mẽ được, đó là qui luật chung của
nền kinh tế hiện nay. Một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự giàu mạnh của
một quốc gia phải kể đến hoạt động kinh doanh mua bán trao đổi hàng hoá giữa các
quốc gia.
Ở nước ta trong những năm gần đây cùng với việc gia nhập WTO thì hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu không ngừng gia tăng.Theo thông kê sau 1 năm
gia nhập WTO tổng kim ngach xuất khẩu năm 2007 là 48,38 tỉ USD tăng 21,5% so
với năm 2006, tổng kim ngạch nhập khẩu 60,83 tỉ USD là mức kỉ lục từ trước tói
nay tăng 35,5% so với năm trước Từ khi hoạt động xuất nhập khẩu được đẩy mạnh
thì quá trình vận tải giao nhận càng trở nên quan trọng.Bởi vì hoạt động ngoại
thương chỉ có thể diễn ra khi hàng hoá được vận chuyển từ nước này sang nước
khác và thực hiên công tác giao nhận hàng hoá vận chuyển đó.Nhờ có hoạt động
vận tải giao nhận hàng hoá mà sản phẩm được đưa đến tay người tiêu dùng một
cách nhanh chóng hơn.Việc giao nhận hàng hoá càng đuợc thục hiện tốt sẽ góp
phần thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.Nhận thức được tầm quan trọng của công
tác giao nhận trong buôn bán Quốc tế cùng với những kiến thức được học ở trường
kết hợp với thời gian tiếp xúc tìm hiểu tại công ty VINATRANS ĐÀ NẴNG em
quyết định chọn đề tài :”HOÀN THIỆN CÔNG TÁC GIAO NHẬN HÀNG
NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN THEO PHƯƠNG THỨC FCL/FCL Ở
CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO NHẬN VẬN TẢI MIỀN TRUNG
(VINATRANS ĐÀ NẴNG)”
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ GIAO NHẬN
HÀNG HOÁ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.1. Khái quát chung về giao nhận hàng hoá Xuất Nhập Khẩu
Biết vận dụng tối đa dung tích, trọng tải của các công cụ vận tải nhờ dịch vụ
gom hàng.
Biết kết hợp giữa vận tải - giao nhận - xuất nhập khẩu và liên hệ tốt với các
tổ chức có liên quan đến quá trình vận chuyển hàng hoá như Hải Quan, đại lý tàu,
Bảo hiểm, Ga, Cảng...
Người giao nhận còn tạo điều kiện cho người kinh doanh xuất nhập khẩu
hoạt động có hiệu quả nhờ vào dich vụ giao nhận của mình.
Nhà xuất nhập khẩu có thể sứ dụng kho bãi của người giao nhận hay của
người giao nhận đi thuê từ đó giảm được chi phí xây dựng kho bãi.
Nhà xuất khẩu giảm được các chi phi quản lý hành chính, bộ máy tổ chức
đơn giản, có điều kiện tập chung vào kinh doanh xuất nhập khẩu
1.1.2 Các tổ chức giao nhận và người giao nhận
1.1.2.1. Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận- FIATA (Fédération
Internationale des Associatión de transitaires et Assimiles)
Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận(FIATA) thành lập năm 1926 là tổ
chức giao nhận vận tải lớn nhất thế giới. FIATA là một tổ chức phi chính trị, tự
nguyện, là đại diện của 35.000 công ty giao nhận ở 130 nước trên thế giới. Thành
viên của FIATA là hội viên chính thức và hội viên hợp tác. Hội viên chính thức là
Liên đoàn giao nhận của các nước, còn Hội viên hợp tác là các công ty giao nhận
riêng lẻ.
FIATA được thừa nhận của các cơ quan Liên hiệp quốc như Hội đòng kinh
tế xã hội LHQ (ECOSOC), Uỷ ban Châu Âu của Liên hiệp quốc (ECE), ESCAP...
Mục tiêu chính của FIATA là bảo vệ và tăng cường lợi ích của người Giao
nhận trên phạm vi quốc tế, nâng cao chất lượng dịch vụ giao nhận, liên kết nghề
nghiệp, tuyên truyền dịch vụ giao nhận, vận tải; xúc tiến quá trình đơn giản hoá và
thống nhất chứng từ và các điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn nhằm cải tiến chất lượng
dịch vụ của hội viên; đào tạo nghiệp vụ ở trình độ quốc tế, tăng cường các quan hệ
phối hợp giữa các tổ chức Giao nhận với chủ hàng và người chuyên chở.
Hiện nay nhiều công ty giao nhận của Việt Nam đã trở thành thành viên
chính thức của FIATA.
Việt nam đã thành lập hiệp hội giao nhận (VIFFAS) đại diện quyền lợi của những
công ty giao nhận nói trên.
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
1.1.3 Phạm vi dịch vụ giao nhận
Phạm vi của dịch vụ Giao nhận là nội dung cơ bản của dịch vụ Giao nhận,
kho vận. Trừ khi bản thân người gởi hàng (hoặc người nhận hàng) muốn tham gia
vào bất kỳ một khâu hay thủ tục nào, chứng từ nào đó, thông thường người giao
nhận thay mặt người gởi hàng (hoặc người nhận hàng) lo liệu quá trình vận chuyển
hàng hoá qua các công đoạn cho đến tay người nhận hàng cuối cùng. Người Giao
nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý, hoặc thuê
dịch vụ của người thứ ba khác.
Những dịch vụ mà người Giao nhận thường tiến hành là:
- Chuẩn bị hàng hoá để chuyên chở.
- Tổ chức chuyên chở hàng hoá trong phạm vi Ga, Cảng
- Tổ chức xếp dỡ hàng hoá
- Làm tư vấn cho chủ hàng trong lĩnh vực chuyên chở hàng hoá.
- Ký hợp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lưu cước
- Làm thủ tục gửi, nhận hàng
- Làm thủ tục Hải quan, kiểm nghiệm, kiểm dịch
- Mua bảo hiểm cho hàng hoá
- Lập các chứng từ cho việc gửi, nhận hàng và thanh toán
- Thanh toán, thu đổi ngoại tệ
- Nhận hàng từ chủ hàng giao cho người chuyên chở và giao cho người nhận
hàng.
- Nhận hàng từ người chuyên chở và giao cho người nhận hàng
- Gom hàng, lựa chọn tuyến đường vận tải, phương thức vận tải và
người chuyên chở thích hợp
- Đóng gói bao bì, phân loại và tái chế hàng hoá
- Lưu kho bảo quản hàng hoá
các công việc khác nhau như nhận hàng, giao hàng, lập chứng từ, làm thủ tục Hải
quan... trên cơ sở của hợp đồng uỷ thác.
1.1.4.3. " Người gom hàng":
Ở Châu Âu, từ lâu người Giao nhận đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục
vụ cho vận tải đường sắt. Đặc biệt trong vận tải hàng hoá bằng Container, dịch vụ
gom hàng là không thể thiếu được nhằm biến hàng lẻ(LCL) thành hàng
nguyên(FCL) để tận dụng sức chở, sức chứa của Container và giảm cước phí vận
chuyển. Khi là người gom hàng, người Giao nhận có thể đóng vai trò là người vận
tải hoặc chỉ là đại lý.
1.1.4.4. " Người chuyên chở":
Ngày nay trong nhiều trường hợp người Giao nhận đóng vai trò là người
chuyên chở, tức là người Giao nhận trực tiếp ký kết hợp đồng vận chuyển với chủ
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá từ một nơi này đến một nơi khác.
Người Giao nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở theo hợp đồng (Contracting
Carrier), nếu người Giao nhận ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở. Nếu
người Giao nhận trực tiếp chuyên chở thì anh ta là người chuyên chở thực tế
(Performing Carrier).
1.1.4.5 "Lưu kho hàng hoá, lo liệu chuyển tải và gửi tiếp hàng hoá":
Trong trường hợp phải lưu kho hàng hoá trước khi xuất hoặc sau khi nhập
khẩu, người Giao nhận sẽ lo liệu việc đó bằng phương tiện của mình hoặc thuê của
một người khác và phân phối hàng nếu cần.
Khi hàng hoá phải chuyển tải hoặc quá cảnh qua nước thứ ba, người Giao
nhận sẽ lo liệu thủ tục quá cảnh hoặc tổ chức chuyển tải hàng hoá từ phương tiện
vận tải này sang phương tiện vận tải khác, hoặc giao hàng đến tay người nhận.
1.1.4.6. "Người kinh doanh vận tải đa phương thức"(MTO):
Trong trường hợp người Giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt (hoặc
còn gọi là vận tải từ cửa đến cửa) thì người Giao nhận đã đóng vai trò là người kinh
doanh vận tải đa phương thức (MTO). MTO cũng là người chuyên chở và chịu
lại dịch vụ giao nhận... mà anh ta sử dụng để thực hiện hợp đồng. Nói chung anh ta
thương lượng giá dịch vụ với khách hàng chứ không phải là nhận lại hoa hồng. Ví
dụ: Khi người giao nhận gom hàng, làm dịch vụ vận tải đa phương thức hay khi anh
ta đảm nhận vận tải hộ và tự vận chuyển hàng hoá thì đó là anh ta đảm nhận vai trò
của người uỷ thác. Là người uỷ thác trách nhiệm đối với bên thứ ba, quyền hạn về
giới hạn trách nhiệm và quyền thực hiện việc giữ hàng cũng giống như khi anh ta
đóng vai trò làm đại lý
Khi người giao nhận đảm nhận vai trò của người uỷ thác để làm dịch vụ vận
tải đa phương thức thì điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn nói chung không áp dụng.
Vì không có công ước quốc tế được áp dụng nên hợp đồng vận tải liên hợp
thường do những qui tắc của Phòng thương mại quốc tế điều chỉnh gọi là:”những
qui tắc thống nhất của ICC về một chứng từ thống nhất trong vận tải liên hợp”
Tuy nhiên nếu người giao nhận không chịu trách nhiệm và những hư hỏng
mất mát của hàng hoá phát sinh từ những trờng hợp sau đây:
- Do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng uỷ thác.
- Khách hàng đóng gói và kẻ ký mã hiệu không phù hợp.
- Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hoá.
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở không chỉ trong trường
hợp anh ta tự vận chuyển hàng hoá bằng các phương tiện vận tải của chính mình
(Performing carrier) mà còn trong trường hợp anh ta bằng việc phát hành chứng từ
vận tải của mình hay cách khác, cam kết đảm nhận trách nhiệm của người chuyên
chở (người thầu chuyên chở - contracting carrier). Khi người giao nhận cung cấp
các dịch vụ liên quan đến vận tải như đóng gói, lưu kho, bốc xếp hay phân phối...
thì người giao nhận sẽ chịu trách nhiệm nhiệm người chuyên chở nếu ngời Giao
nhận thực hiện các dịch vụ trên bằng phương tiện và người cuả mình, hoặc người
giao nhận đã cam kết rõ ràng hay ngụ ý là họ chịu trách nhiệm như một người
chuyên chở.
1.1.6 Quan hệ của người giao nhận với các bên có liên quan
1.2.1.1 Khái niệm
Phương thức gửi hàng nguyên bằng container FCL/FCL : là phương thức mà
hàng được gửi cho người chuyên chở trong điều kiện đầy container và được sử
dụng khi chủ hàng có khối lượng hàng chuyên chở lớn đủ để có thể chứa 1 hoặc
nhiều container.
1.2.1.2 Phân loại
Tuỳ vào vai trò của công ty giao nhận như đã trình bày ở trên thì có các
phương thức gửi hàng FCL/FCL khác nhau
1.2.1.2.1 Gửi hàng FCL qua người vận chuyển thực tế
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
Chính phủ và các nhà đương cục khác
Kiểm soát xuất nhập khẩu. Giám sát ngoại hối
vận tải, cấp giấy phép y tế, cơ quan lãnh sự
Cơ quan Hải quan
NGƯỜI GIAO
NHẬN
Người chuyên chở và
các đại lý khác
Chủ tàu
Người kinh doanh vận
tải đường bộ, đường sắt,
đường không.
Người kinh doanh vận
tải nội thủy
Người giữ kho
Tổ chức đóng gói
Đại lý
Ngân hàng
Cơ quan cảng
Người gửi,
Người gửi Người vận
chuyển
Người nhận
(1)
(2)
(3)
(5)
(6)
(4)
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
o Làm thủ tục hải quan + xuất trình chứng từ để nhận hàng tại
CY
o Mang cont có hàng về kho mình để tháo hàng
o Hoàn trả cont cho người cho thuê cont
1.2.1.1 Gửi hàng FCL qua công ty giao nhận
1.2.1.1.1 Khi công ty giao nhận đóng vai trò là 1 MTO
a. Qui trình
b. Nội dung thực hiện
(1) Người gửi và công ty giao nhận kí kết Hợp đồng uỷ thác
(2) Người gửi giao những cont nguyên cho công ty giao nhận
(3) Công ty giao nhận phát hành B/L(1) cho người gửi
(4) Công ty giao nhận gửi những cont nguyên cho người vận chuyển thực
tế
(5) Người vận chuyển thực tế phát hành B/L gốc cho người giao nhận
(6) Công ty giao nhận chuyển B/L gốc cho đại lý của công ty giao nhận ở
cảng đến
(7) Đại lý của công ty giao nhận ở cảng đến mang B/L gốc và các chứng
từ có liên quan đến hãng tàu
(8) Hãng tàu xem xét ,kiểm tra và giao những cont nguyên cho đại lý của
công ty giao nhận ở cảng đến tại CY
hàng
thực tế
(6)
(9)
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
(11) Đại lý của công ty giao nhận kiểm tra và giao những cont nguyên cho
người nhận thực tế
2.1.2 Qui trình cung ứng dịch vụ giao nhận hang NK bằng đường biển theo
phương thức FCL/FCL tại công ty vận tải giao nhận
1.2.2.1 Qui trình
1.2.2.2 Nội dung thực hiện
a. Bước 1 : Tiếp nhận yêu cầu của khách hàng : có 2 trường hợp
TH1: Khách hàng là các nhà nhập khẩu trong nước uỷ thác cho công
ty giao nhận tiến hành nhận lô hàng Nhập khẩu
TH2: Khách hàng là những công ty giao nhận, hoặc hàng tàu ở nước
ngoài làm hợp đồng đại lý với công ty giao nhận ở cảng đến ,yêu cầu theo
dõi lô hàng Nhập khẩu về đến cảng và tiến hành các thủ tục cho người nhận
hàng thực tế nhận hàng
Nếu Không thể đáp ứng được yêu cầu khách hàng thì từ chối
Nếu đồng ý thì tiến đến kí kết Hợp Đồng.Sau khi đã kí kết Hợp đồng thì chuyển
sang bước 2
b. Bước 2 : Tổ chức nhận hàng nhập khẩu
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
Tiếp nhận yêu cầu của
khách hàng
Tổ chức nhận hàng nhập
khẩu
Giải quyết khiếu nại
(nếu có)
Thanh lý Hợp đồng
- Làm giấy thông báo cho người nhận hàng biết về những hàng hóa xếp lên
tàu.
- Làm chứng từ để khai báo hải quan
- Làm cơ sở để thanh toán các chi phí có liên quan đến hàng hóa
- Làm căn cứ để đối chiếu so sánh với B/L về chi tiết hàng hóa.
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
1.3.2 Vận đơn ( B/L) : là một chứng từ vận tải là mà ngưòi chuyên chở hàng hóa
hay đại diện của họ ký phát cho người gửi hàng sau khi nhận hàng để chuyên chở.
Theo thông lệ quốc tế, vận đơn có chức năng chủ yếu là:
- Làm bằng chứng cho hợp đồng vận tải
- Là biên lai xác nhận người gửi hàng đã giao hàng cho người chuyên chở
- Là chứng từ sở hữu cho phép hàng hóa có thể chuyển từ người gửi hàng
sang người nhận hàng hay người nào khác được quyền nhận hàng
1.3.3 Lệnh giao hàng ( D/O):
Lệnh giao hàng là chứng từ do hãng tàu hoặc đại lý của hãng tàu cấp cho
người nhận hàng để yêu cầu cảng giao hàng cho người nhận
1.3.4 Giấy báo nhận hàng
Giấy báo nhận hàng có tác dụng báo cho chủ hàng biết hàng hóa của họ đã
về đến nơi và yêu cầu họ khẩn trương làm các thủ tục, giấy tờ đến đại lý nhận lệnh
giao hàng
1.3.5 Lệnh xuất kho
- Là chứng từ pháp lý để chủ hàng nội địa lấy hàng ở cảng hay gửi hàng vào
kho bãi cảng, đồng thời làm căn cứ để thanh toán cước phí xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi.
- Là chứng từ gốc để kết toán kho hàng ngày ghi xuất hay nhập vào thẻ kho,
sổ kho
- Là căn cứ để theo dõi tình hình thực hiện lệnh xuất kho hay giao thẳng và
lệnh nhập kho
1.3.6 Phiếu vận chuyển
- Là chứng từ giao nhận giữa người giao nhận với người vận chuyển, giữa
Sau khi giao hàng xuât khẩu người xuất khẩu phải chuẩn bị một bộ hoá đơn
thương mại đó là yêu cầu của người bán đòi hỏi người mua phải trả số tiền hàng đã
ghi trên hoá đơn
1.3.11 Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin –C/O)
Giấy chứng nhận xuất sứ là một chứng từ ghi nơi sản xuất hàng do người
xuất khẩu kê khai ký và được người của cơ quan có thẩm quyền của nước người
xuất khẩu xác nhận .
Chứng từ này cần thiết cho cơ quan hải quan để tuỳ theo chính sách của nhà
nước vận dụng các chế độ ưu đãi khi tính thuế.Nó cũng cần thiết cho việc theo dõi
thực hiện chế độ hạn ngạch. Đồng thời trong chừng mực nhất định, nó ói lên phẩm
chất của hàng hoá bởi vì đặc điểm địa phương và điều kiện sản xuất có ảnh hưởng
đến hàng hóa.
1.3.12 Giấy chứng nhận kiểm dịch động vật (Vaterinary certificate)
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
Do cơ quan thú y cấp khi hàng hoá là động vật ( súc vật, cầm thú) hoặc có nguồn
gốc động vật ( lông cừu, lông thú, len ,trứng…) hoặc khi bao bì của chúng có
nguồn gốc động vật đã được kiểm tra và xử lý chống các dịch bệnh
1.3.13 Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật (Phytosanitary certificate)
Do cơ quan bảo vệ thực vật cấp khi hàng hoá là thực vật,thảo mộc, hoặc có
nguồn gốc thực vật ( hạt giống, bong, thuốc lá ….. ) đã được kiểm tra và xử lý
chống các dịch bệnh, nấm độc, cỏ dại là đối tượng kiểm dịch
Trong các giấy chứng nhận kiểm dịch trên các cơ quan có thẩm quyền xác
nhận rằng ngoài việc đã kiểm tra và xử lý về dịch bệnh- đối tượng kiểm dịch, chúng
còn xuất phát từ vùng an toàn về dịch bệnh
1.3.14 Giấy chứng nhận vệ sinh (Sanitary Certificate)
Do cơ quan có thẩm quyền về kiểm tra phẩm chất hàng hoá hoặc về y tế cấp
cho chủ hàng, sau khi đã kiểm tra hàng hoá ( là thực phẩm, đồ uống , đồ hộp….) và
thấy trong đó không có vi trùng gây bệnh cho người dùng
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
Sơ đồ bộ máy quản lý
2.1.1.2.2 Mối quan hệ giữa các phòng ban
a. Chức năng , nhiệm vụ của các bộ phận
Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan lãnh đạo cao nhất, mỗi năm họp ít nhất
một lần để thông qua các quyết định quan trọng nhất của công ty.
Hội đồng quản trị: Do hội đồng quản trị bầu ra, chịu trách nhiệm xây dựng
các kế hoạch kinh doanh mang tính chiến lược tổng quát và đảm bảo các kế hoạch
đó được thực hiện thông qua ban giám đốc.
Ban kiểm soát: Cũng là cơ quan do hội đồng cổ đông bầu ra, thay mặt Đại
hội đồng cổ đông kiểm tra, giám sát, theo dõi hoạt động của Hội đồng quản trị và
Ban giám đốc
Giám đốc: Điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty.
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
GIÁM ĐỐC
Phòng Kế toán T.Hợp
Bộ phận Bộ phận
Kế toán H.chính
Phòng Vận
Tải ĐBiển
Phòng
Hàng
không
Phòng
Gom hàng
Phòng DHL
VP đại diện Kho, bãi cont
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
Phòng Vận Tải Đường biển: Chức năng chính của phòng là làm đại lý cho
3 hãng tàu: Hãng tàu Hapag-Lloyd (Đức), Zim-Lines (Israel). Ngòai ra phòng còn
làm đại lý giao nhận hàng Container bằng đường biển, làm đại lý thủ tục cho các tàu
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
Với bộ máy tổ chức gọn nhẹ như trên nên việc giữ thông tin liên lạc giữa các
phòng ban rất kịp thời. Với bốn phòng nghiệp vụ chính là Phòng vận tải đường
biển, Phòng hàng không, phòng DHL, Phòng gom hàng nhằm mục đích phân chia
và chuyên sâu các mảng công việc về Giao nhận hàng không, hàng đường biển,
hàng lẻ, nhưng việc phối hợp giữa các phòng ban cũng diễn ra tương đối nhịp nhàng
và có hiệu quả, ví dụ: Nhân viên sales của phòng vận tải đường biển tiếp xúc với
khách hàng để chào dịch vụ nhưng lại phát hiện ở khách hàng nhu cầu vận chuyển
hàng bằng đường hàng không lập tức nhân viên này thông báo cho phòng giao nhận
hàng không biết để tiếp cận và ngược lại.
2.1.1.3 Năng lực kinh doanh
a. Tình hình lao động
Ổn định tổ chức, cải tổ bộ máy hoạt động của đơn vị, coi trọng yếu tố con
người có năng lực trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất để phân công bố
trí công việc hợp lý có năng suất cao và hiệu quả tốt là mối quan tâm hàng đầu của
ban lãnh đạo. Từ điểm xuất phát ban đầu, Cty Vinatrans Đà nẵng có khoảng 19 lao
động; số lao động có năng lực về nghiệp vụ ngoại thương thì rất thiếu trong khi đó
số lao động giao nhận giản đơn do tiếp nhận từ Công ty kho vận cũ thì lại dư thừa.
Qua nhiều đợt tinh giảm biên chế số lao động giản đơn dôi thừa, kết hợp với sự
tuyển chọn nhiều lao động trẻ có năng lực, đạo đức, trình độ chuyên môn, ngoại
ngữ để có thể tham gia quản lý và điều hành các hoạt động có hiệu quả hơn. Trải
qua hơn 6 năm, đội ngũ CB-CNV của Cty Vinatrans Đà Nẵng ngày càng lớn mạnh
không những về số lượng mà cả về chất lượng; cùng với sự phát huy nội lực, nêu
cao ý thức trách nhiệm của CB-CNV và năng lực tổ chức, quản lý điều hành của
cán bộ cốt cán đã tạo được tốc độ tăng trưởng nhanh và uy tín của Công ty
Vinatrans Đà nẵng ngày càng được nâng cao rộng rãi.
Bảng 1: Tỉ trọng cán bộ có trình độ đại học & trung học
chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng Số lượng Tỷ trọng
Số lượng
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
Địa điểm
Diện tích (m
2
)
1. Trụ sở chính-184 Trần
Phú
92
2. Bãi Container Hòa
Cường
1.886
3. Kho CFS (thuê) 430
4. Văn phòng ĐD Huế 45
5. Văn phòng ĐD Huế 30
6. Văn phòng ĐD Qui
Nhơn
40
Nguồn : Phòng kế toán tổng hợp năm 2005
c. Tình hình tài chính
Sau đây là tình hình tài sản nguồn vốn của công ty trong những năm qua
Bảng 4: Bảng tổng kết tài sản nguồn vốn của công ty năm 2007( phụ lục)
Phân tích:
Về tài sản lưu động: có sự thay đổi khá rõ rệt giữa đầu năm và cuối năm.
Đầu năm chiếm 77,4% nhưng cuối năm chỉ còn 28.56%.Lượng tiền mặt cuối năm
có tăng so với đầu năm gần 400.000.000 .Bên cạnh đó khoản fải thu lại giảm. Đầu
năm chiếm 64.66% đến cuối năm chỉ còn 15,9%.nguyên nhân dẫn đến việc tăng
giảm rõ rệt như vây đó có thể là do các thương vụ kinh doanh kéo dài chưa đến kì
thanh toán nên công ty chưa thu được tiền từ khách hàng
Về tài sản cố định: năm 2007 chiếm 1 phần lớn trong công ty ,chiếm đến
càng cao, sự tín nhiệm của khách hàng đối với Công ty Vinatrans Đà nẵng ngày
càng được nâng cao; sản lượng của năm sau bao giờ cũng nhiều hơn năm trước, từ
mức 471 TEU/năm đã lên tới >4000TEU/năm, chuyển phát nhanh chứng từ từ con
số 0 nay đã thu gom được >3.000 bộ chứng từ/năm, đại lý hàng hải cũng được triển
khai và thực hiện được tốt, Công ty đã giao nhận >15.000tấn hàng rời qua Cảng Đà
nẵng...
Ngay từ đầu năm 1999 do sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các loại hình
dịch vụ nói trên dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế được tách ra làm hai mảng: vận
tải đường biển và giao nhận quốc tế để đa dạng hóa các loại hình dịch vụ đồng thời
để chuyên sâu hơn trong lĩnh vực chuyên môn.
SVTH: Nguyễn Thị Phi Phượng Lớp 30K01.1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: NGÔ QUANG MỸ
1.2.1.3Dịch vụ giao nhận hàng lẻ
Nhìn chung, thì dịch vụ giao nhận hàng lẻ của công ty hoạt động rất tốt, sản
lượng tăng lên hàng năm. Sản lượng năm 2007 tăng 27% so với năm 2006.
Trong năm 2007, về mặt sản lượng, sáu tháng đầu năm tốc độ tăng trưởng bị
giảm đáng kể do khách hàng du lịch tới Đà Nẵng giảm, tuy nhiên tốc độ đã được
phục hồi và tăng đáng kể trong sáu tháng cuối năm. Mặc dù có một số khó khăn
khách quan như trên, và một phần do sự cạnh tranh, rất nhiều các công ty tư nhân
cùng dịch vụ đã mở ra, nhưng kết quả về mặt sản lượng cũng như doanh thu đều
tăng cao hơn so với năm trước. Tuy nhiên, lợi nhuận lại thấp hơn so với năm 2006.
Nguyên nhân là bắt đầu từ quý 2 năm 2007, tất cả các hãng tàu đều đồng loạt tăng
giá cước. Đã vậy, lại còn xuất hiện thêm nhiều đơn vị tư nhân kinh doanh cùng
ngành nghề, cạnh tranh nhau gây gắt về giá cả. Do vậy, bảng giá cũ của công ty vẫn
chưa điều chỉnh tăng lên được, mặc dù giá cước phải trả cho đại lý lại cao hơn trước
rất nhiều.
1.1.2.2 Tình hình khách hàng - thị trường
Cơ cấu thị trường dịch vụ.
Bảng 5: Cơ cấu thị trường năm 2007
Thị Trường Doanh thu Tỉ