Đề tài
: Nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 . . . . . . . . . …
PHẦN I :
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong chương trình phổ thông, bậc Tiểu học được coi là bậc học nền
móng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản
để học sinh tiếp tục học lên Trung học cơ sở.
Ở Tiểu học, lớp 1 có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi học sinh. Từ
hoạt động vui chơi là chính ở mầm non, các em chuyển sang hoạt động học tập
là chính theo nội dung chương trình chung. Các em như tờ giấy trắng mà thầy cô
là người viết những nét chữ đầu tiên trên trang giấy đó. ở giai đoạn này, học với
các em quả là khó khăn vất vả.
Học sinh Kinh khi vào lớp 1 đã có vốn từ khá phong phú, vì tiếng Việt là
tiếng mẹ đẻ của các em. Nhưng với học sinh dân tộc thiểu số, tiếng Việt là ngôn
ngữ thứ hai . Khi vào lớp 1, các em chưa biết hoặc biết rất ít tiếng Việt nhưng lại
phải học một chương trình với học sinh cả nước. Các em phải đạt chuẩn kiến
thức kỹ năng theo chuẩn chung mới được lên lớp, mà điều kiện học tập còn rất
khó khăn, thiếu thốn.
Vì vậy, chất lượng học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số luôn là bài toán
khó giải với tất cả những ai quan tâm đến giáo dục. Là cán bộ quản lý đã nhiều
năm gắn bó với các em học sinh dân tộc thiểu số, tôi luôn băn khoăn tìm hướng
đi mới để giải bài toán đó.
Bằng kinh nghiệm thực tiễn, cùng với sự quan tâm của các cấp, các ngành,
chất lượng học sinh lớp 1 ở trường tôi ngày càng khởi sắc. Nhằm chia sẻ những
kinh nghiệm đó, tôi chọn đề tài Nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số
lớp 1.
làm
của giáo viên.
* Nghiên cứu sản phẩm của học sinh : Các loại vở, bài kiểm tra; …
- Phương pháp trao đổi phỏng vấn.
- Phương pháp quan sát hoạt động thực tiễn.
PHẦN III : NỘI DUNG
BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Tình trạng của vấn đề đặt ra và sự cần thiết để tiến hành thực hiện đề tài
:
Vũ Thị Vân – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái Trang 3
Đề tài
: Nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 . . . . . . . . . …
Nhiều năm qua, chất lượng dạy và học tiếng Việt của học sinh các dân tộc
thiểu số ở các tỉnh vùng núi, vùng cao, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn vẫn
còn nhiều hạn chế, bất cập, yếu kém.
Thực tế dạy học tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số hiện gặp rất
nhiều khó khăn: một chương trình, một bộ sách giáo khoa, một yêu cầu về kiến
thức,… cho mọi đối tượng đã tạo nên sự bất hợp lý trầm trọng. Khi nhiều học
sinh lớp 1 người dân tộc thiểu số chưa đạt được yêu cầu cơ bản về kiến thức và
kỹ năng môn Tiếng Việt, dẫn đến hệ quả là các em khó tiếp thu kiến thức các
môn học khi lên lớp trên. Tiếng Việt thực sự là rào cản lớn nhất đối với việc
nâng cao chất lượng học tập của học sinh người dân tộc thiểu số.
Hiện nay cả nước có khoảng 1 500 300 trẻ em người dân tộc thiểu số, chiếm
khoảng 18% số trẻ em ở độ tuổi tiểu học. Những rào cản đối với cuộc sống, sinh
hoạt, học tập của các em là: thiếu điều kiện học tập, quá trình học không liên
sống của nhiều gia đình còn nghèo đói. Họ ít quan tâm đến việc học hành của
con em khiến nhà trường gặp không ít khó khăn trong vấn đề giáo dục.
b. Tình hình nhà trường.
Trường Phạm Hồng Thái nằm ở trung tâm xã Cư Pơng, có một điểm
trường chính và 3 điểm lẻ. năm học 2010- 2011 trường có 50 cán bộ ,giáo viên,
nhân viên; 33 lớp, 831 học sinh . Khối 1 có 9 lớp - 219 em . Học sinh dân tộc
thiểu số chiếm 77,98 %.
Đa số học sinh vào lớp 1 chưa biết hoặc biết rất ít tiếng Việt nên rất khó
khăn trong việc tiếp thu kiến thức theo chuẩn chung của cả nước. Trình độ dân
trí thấp, nghèo đói cùng với việc ít quan tâm của không ít phụ huynh đã khiến
cho nhiều học sinh không có động cơ học tập đúng đắn. Việc học sinh nghỉ học,
bỏ học ngang chừng vẫn thường xuyên diễn ra.
Khó khăn lớn nhất của nhà trường là việc học sinh đi học không đều.
Nghèo đói khiến đa số trẻ lớp 1 bị suy dinh dưỡng, các em hay đau ốm nên phải
nghỉ học; cũng vì nghèo đói mà nhiều phụ huynh đi làm rẫy xa phải đem con đi
cùng và các em phải nghỉ học. Khi đi học lại, các em đã chậm chương trình cả
tuần nên rất khó khăn cho giáo viên. Nhà trường đã mở lớp dạy phụ đạo miễn
phí học sinh yếu nhưng những học sinh yếu lại không thích đi học.
KẾT QUẢ HAI MẶT CHẤT LƯỢNG KỲ I NĂM HỌC 2010 – 2011
Vũ Thị Vân – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái Trang 5
Đề tài
: Nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 . . . . . . . . . …
( 4 / 9 lớp )
Lớp TS HS Dân
tộc
Học lực Hạnh kiểm
Đề tài
: Nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 . . . . . . . . . …
Trước tình hình đó, đòi hỏi người giáo viên càng phải tận tâm với nghề. Số
lớp nhiều, giáo viên đông, lại đứng trước khó khăn như trên càng thôi thúc tôi
suy nghĩ cần có biện pháp quản lý hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng dạy và
học, đặc biệt với học sinh lớp 1.
2. Tính thuyết phục của đề tài :
Ngay từ đầu năm học 2008 -2009, khi thực hiện những giải pháp để nâng
cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số, tôi đã nhận được sự hưởng ứng của cả
tập thể. Mỗi người đều thấy rõ mình phải làm gì ngay từ đầu năm học, cùng học
hỏi, trao đổi kinh nghiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Những giáo viên gương mẫu rất phấn khích vì được đánh giá đúng khả
năng và công sức của mình trong cả một năm học. Còn những giáo viên thực
hiện chưa tốt đã được chỉ rõ những vấn đề cần sửa đổi trong năm học mới.
Số liệu của 4 năm gần đây
Năm học
2006-2007
Năm học
2007-2008
Năm học
2008-2009
Năm học
2009- 2010
Sĩ số bình quân
học sinh trên lớp 27 26 25 26
Tỉ lệ phần trăm
(%) học sinh
Để nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, cần có những
giải pháp cụ thể sau :
* Lựa chọn giáo viên dạy lớp 1 giàu kinh nghiệm giảng dạy, nhiệt tình,
biết tiếng Ê-đê. Giai đoạn đầu, khi học sinh chưa biết tiếng Việt sẽ không hiểu
các câu lệnh của giáo viên. Vì vậy, cần sử dụng song ngữ giúp các em hiểu rõ
những yêu cầu của thầy cô.
* Biên chế mỗi lớp khoảng 20 học sinh để giáo viên có đủ thời gian giúp
đỡ những em chưa biết cầm bút viết.
* Mở chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học cần chỉ ra quy trình chung
một bài dạy và những vấn đề trọng tâm cần chú trọng với học sinh dân tộc. Đặc
biệt quan tâm đến vấn đề tăng cường tiếng Việt cho học sinh ở tất cả các môn
học. Ngoài ra, cần mở thêm chuyên đề về sử dụng đồ dùng dạy học và cách tổ
chức trò chơi học tập làm cho giờ học nhẹ nhàng mà hiệu quả.
Vũ Thị Vân – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái Trang 8
Đề tài
: Nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 . . . . . . . . . …
* Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị , đồ dùng dạy học đặc biệt là hệ
thống tranh ảnh, thẻ từ vì trực quan sinh động giúp học sinh hiểu các khái niệm,
các kiến thức mới dễ dàng hơn. Tạo mọi điều kiện để 100% học sinh đầy đủ
sách vở, đồ dùng học tập mỗi khi đến lớp.
* Mở lớp dạy 2 buổi/ ngày hoặc tăng thêm ít nhất 3 buổi / tuần. Chương
trình Bộ Giáo dục biên soạn là chương trình học 2 buổi / ngày. Vì thế, nếu học
sinh dân tộc chỉ được học 1 buổi / ngày sẽ không đảm bảo chất lượng.
* Tăng thời lượng cho 2 môn Toán và Tiếng Việt . Mỗi tiết Toán, Tiếng
Việt giáo viên có thể dạy 40 – 50 phút; giảm bớt thời gian của các môn học
khác, vì đây là 2 môn học công cụ, học sinh phải biết đọc thông viết thạo, biết
chương trình.
* Nghiệm thu kết quả giáo dục vào cuối năm học để đánh giá đúng thực
trạng chất lượng học sinh từng lớp.( Sáng kiến kinh nghiệm đạt giải A cấp huyện
và giải C cấp tỉnh năm học 2009 – 2010 ).
* Động viên khen thưởng kịp thời những giáo viên giảng dạy đạt chất
lượng cao và làm tốt công tác chủ nhiệm vì so với những khối lớp khác thì giáo
viên dạy lớp 1 học sinh dân tộc vất vả nhất, đặc biệt là giai đoạn đầu năm học
khi cô phải cầm tay giúp các em viết từng nét chữ.
* Phối hợp với Chính quyền địa phương, Ban đại diện cha mẹ học sinh làm
tốt công tác tuyên truyền giảm thiểu tình trạng học sinh nghỉ học, bỏ học ngang
chừng. Khuyến khích phụ huynh dùng tiếng Việt giao tiếp hàng ngày giúp tăng
cường khả năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh ngay từ môi trường gia đình.
* Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm nắm bắt tình hình học sinh từng lớp.
Tư vấn trực tiếp những phụ huynh có con thường xuyên nghỉ học để tìm ra
nguyên nhân và cách khắc phục.
* Mở chuyên đề, mời giáo viên dân tộc Ê-đê dạy cho giáo viên Kinh những
từ ngữ thông dụng trong giao tiếp, sinh hoạt hàng ngày của người Ê-đê giúp giáo
viên dễ dàng tiếp cận và hiểu học sinh của mình hơn.
3.2.Những yêu cầu đối với giáo viên
* Nắm chắc nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy từng môn học,
vận dụng phù hợp với học sinh dân tộc.
* Hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 1, gần gũi ,thân thiện với các
em. Tích cực học tiếng dân tộc của địa phương qua đồng nghiệp và một số
người dân hoặc cán bộ xã để có thể hiểu và giao tiếp cùng học sinh.
Vũ Thị Vân – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái Trang
10
Đề tài
: Nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 . . . . . . . . . …
* Mỗi thầy cô giáo hãy yêu thương học sinh như chính con em của mình.
Chỉ có tình yêu thương và lòng yêu nghề mới giúp giáo viên vượt qua mọi khó
Vũ Thị Vân – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái Trang
11
Đề tài
: Nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 . . . . . . . . . …
khăn thử thách để hoàn thành Sứ mệnh cao cả mà Đảng và nhân dân đã tin
tưởng, giao phó.
PHẦN IV: KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
1. Đề xuất:
1.1 Với Bộ Giáo dục – Sở Giáo dục Đào tạo :
- Cần biên soạn giáo trình, tài liệu riêng để tăng cường tiếng Việt cho trẻ em dân
tộc thiểu số mầm non trước khi vào lớp 1.
- Cần có chế độ ưu tiên, cấp phát sách vở cho học sinh mầm non dân tộc thiểu
số. Vì cùng một địa bàn khó khăn, học sinh Tiểu học, Trung học cơ sở được cấp
phát sách vở nhưng học sinh mầm non phải mua . Vì vậy, có phụ huynh không
cho con đi học mẫu giáo hoặc tìm mọi cách làm lại khai sinh cho con đủ tuổi
vào lớp 1 để được cấp phát sách vở.
- Cần chỉ đạo cụ thể cho các phòng Giáo dục và đào tạo thực hiện công văn số
8114/ BGDDT- GDTH ngày 15 tháng 9 năm 2009 :
Ví dụ : mục 1.1. của Công văn đã nêu : “ Phòng Giáo dục Tiểu học chỉ đạo các
trường Tiểu học triển khai Chương trình làm quen với tiếng Việt trong hè cho trẻ
chưa học qua lớp mẫu giáo 5 tuổi để chuẩn bị cho các em học lớp 1”
Vũ Thị Vân – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái Trang
12
13
Đề tài
: Nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 . . . . . . . . . …
thất vọng, không lạc quan quá sớm trước những biểu hiện nhân cách của học
sinh.
Cần thường xuyên đề ra những yêu cầu ngày càng cao đối với học sinh.
Yêu cầu học sinh phải có sự cố gắng, có sự nỗ lực mới đạt được. Luôn nghiêm
khắc nhưng chân thành, tin tưởng, thiện chí với học sinh. “ Yêu thương mà
không mềm yếu, nghiêm khắc mà không nghiệt ngã, xét nét”.
Mỗi giáo viên phải là tấm gương sáng về đạo đức , lối sống, phải có nghệ
thuật sư phạm ; tuyệt đối tránh sự thô bạo, thiếu tôn trọng, định kiến, thiếu tin
tưởng đối với học sinh hoặc quá nuông chiều, dễ dãi, bỏ qua sai lầm khuyết
điểm của học sinh. Chỉ trách phạt công khai học sinh khi mọi biện pháp giáo dục
và các hình thức giáo dục khác không còn hiệu quả.
Phải coi trọng tác động tình cảm, biết khích lệ và nêu gương đúng mức,
kịp thời, tạo cho học sinh thường xuyên có niềm vui và hứng thú trong học tập,
rèn luyện ; biết tự giác thực hiện nghiêm túc yêu cầu giáo dục. Loại trừ cách dạy
thuyết giáo, áp đặt, đánh đập, sỉ nhục học sinh.
Mỗi giáo viên cần hiểu không phải giáo dục đạo đức cho học sinh là chỉ ở
môn học đạo đức mà sau mỗi bài học cụ thể của từng môn học cần làm toát ra ý
nghĩa giáo dục học sinh, giúp các em dần dần biến các chuẩn mực xã hội thành
nhân cách của mình. Hiểu và làm được những điều nêu trên là điều hết sức cần
thiết với mỗi Nhà giáo.
Những đứa trẻ đi chân trần đến lớp
Tóc vàng hoe vì nắng gió trưa hè
Mắt đen láy tròn xoe ngơ ngác
Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM
CẤP TRƯỜNG
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Vũ Thị Vân – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái Trang
16
Đề tài
: Nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 . . . . . . . . . …
Điểm : ………………………
Xếp loại : ………………………
…… ngày …. Tháng. . . năm
2011
CẤP HUYỆN
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Điểm : ………………………
Xếp loại : ………………………
…… ngày …. Tháng. . . năm
2011
CẤP TỈNH
………………………………………………………………………………