ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN HÓA HỌC
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT CỦA CHẤT LỎNG ION
VÀ ỨNG DỤNG TRONG PHÂN TÍCH ĐIỆN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Chương 1
TỔNG QUAN
3
1.1.
Giới thiệu chung về CLIO
3
1.1.1.
Định nghĩa
4
1.2.1.
Các loại CLIO thường gặp
4
1.2.
Tính chất của CLIO
6
1.2.1.
Độ nhớt
6
1.2.2.
Độ dẫn
8
1.2.3.
Cửa sổ điện hóa
9
1.2.4.
Độ tan và khả năng sonvat hóa
11
1.3
Ứng dụng
11
1.5.2.
Điện cực so sánh Calomen
19
1.5.3.
Điện cực so sánh Ag/AgCl
20
1.5.4.
Điện cực so sánh khác
20
1.6.
Ưu nhược điểm của điện cực so sánh thông thường
21
1.7.
Phương pháp đo điện trở dùng hệ bốn điện cực
21
Chương 2
THỰC NGHIỆM
23
2.1.
Dụng cụ, hóa chất, thiết bị, vật liệu
23
2.2.
Chế tạo CLIO
24
2.3.
Chế tạo điện cực so sánh loại mới
26
2.3.1
Chế tạo màng CLIO
3.1.
Khảo sát điện trở của màng CLIO sau khi chế tạo
32
3.2.
Khảo sát sự biến đổi điện trở của màng CLIO khi thay đổi
thời gian ngâm trong môi trường nước
33
3.3.
Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian ngâm đến điện
trở màng
34
3.4.
Khảo sát ảnh hưởng của thời gian ngâm đến điện trở màng
CLIO trong môi trường KCl bão hòa.
36
3.5.
Khảo sát ảnh hưởng của thời gian siêu âm đến điện trở màng
CLIO
38
3.6.
Điện trở của điện cực so sánh sử dụng màng CLIO
39
3.7.
Khảo sát độ lặp lại của điện cực so sánh loại mới sử dụng
cầu dẫn màng CLIO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- ASV : Von – ampe hòa tan anot
- Ac : Axit acetic
- [EMIM][BF
4
] : 1-ethyl-3-methylimidazolium tetrafluoroborate
- [BMIM][OTf] : 1-butyl-3-methylimidazolium trifluoromethanesulfonate
- [bmpyrr][NTf
2
] : 1-butyl-1-methylpyrrolidinium bis(trifluoromethanesulfonyl)imide
- [BMIM][PF
6
] : 1-ethyl-3-methylimidazolium hexanflourophosphonium
- CSV : Von – ampe hòa tan catot
- CLIO : Chất lỏng ion
- CE : Điện cực đối
- DEA : Điethanolamine
- DPP : Phương pháp Von- ampe hòa tan xung vi phân
- HMDE : Điện cực giọt thủy ngân treo
- MFE : Điện cực màn thủy ngân
- Of : Axit foocmic
- RE : Điện cực so sánh
- SV : Phương pháp Von- ampe hòa tan
- SQW : Phương pháp Von- ampe hòa tan sóng vuông
Bảng 3.2:
Điện trở màng CLIO sau thời gian ngâm trong nước 60phút,
120phút, 420phút
33
Bảng 3.3:
Điện trở của màng CLIO sau thời gian ngâm nước đồng thời có
gia nhiệt
35
Bảng 3.5:
Ảnh hưởng của thời gian siêu âm đến điện trở màng CLIO
38
Bảng 3.6:
Điện trở của điện cực so sánh sử dụng cầu dẫn màng CLIO và
điện cực so sánh than xốp tự chế tạo
43
Bảng 3.7:
Cường độ dòng lớn nhất của Pb
2+
sử dụng điện cực so sánh bằng
cầu dẫn khối đúc CLIO
46
Bảng 3.8:
Sự khác nhau giữa hai dung môi CLIO chế tạo được và nước
trong việc khảo sát tính chất điện hóa của TNT trong vi điện cực
sợi than.
Sơ đồ nguyên lý của hệ đo bốn điện cực
21
Hình 2.1:
Hệ thống thiết bị phân tích điện hóa đa năng CPA- HH
*
23
Hình 2.2:
Mô hình điều chế CLIO
24
Hình 2.3:
Điện cực so sánh Ag/AgCl sử dụng màng CLIO làm cầu dẫn
24
Hình 2.4:
Sơ đồ chế tạo điện cực so sánh kiểu mới sử dụng khối đúc CLIO
làm cầu dẫn
27
Hình 2.5:
Điện cực so sánh Ag/AgCl sử dụng khối đúc CLIO làm cầu dẫn.
28
Hình 2.6:
Sơ đồ đặt màng CLIO để đo điện trở bằng hệ đo bốn điện cực
29
Hình 2.7:
Hình ảnh đo dựa trên hệ đo bốn điện cực
29
Hình 3.1:
Hình dạng và vị trí các miếng màng CLIO
31
41
Hình 3.11:
Sơ đồ tương đương của hệ đo ba điện cực
41
Hình 3.12:
Mô hình hệ đo hai điện cực
42
Hình 3.13:
Sơ đồ tương đương hệ đo hai điện cực
42
Hình 3.14:
Cường độ dòng lớn nhất của Pb
2+
sử dụng điện cực so sánh.
44
Hình 3.15:
Thế của Pb
2+
sử dụng điện cực so sánh với cầu dẫn bằng khối
đúc CLIO
46
Hình 3.16:
Đồ thị thời gian bay hơi của aceton trong CLIO
48
Hình 3.17:
Tín hiệu DPP của TNT trong CLIO
49
Hình 3.18:
Tín hiệu DPP của TNT trong các khoảng thế quét khác nhau
thiện với môi trường [35].
Trong lĩnh vực phân tích điện hóa CLIO đặc biệt trong kỹ thuật Von-ampe
CLIO được sử dụng như là môi trường điện ly thay thế cho chất điện ly trong môi
trường nước, trước hết do “cửa sổ điện hóa” rộng. Cửa sổ điện hóa là khoảng rộng
của thế, trong vùng thế đó không xảy ra phản ứng ô xi hóa khử chất điện ly nền.
Ngoài ra, tính tan và các tính chất điện hóa khi xảy ra trong môi trường CLIO mở ra
một chân trời mới cho các nhà nghiên cứu điện hóa và phân tích điện hóa. Các
CLIO không tan trong nước có khả năng tạo thành màng ngăn lỏng hoặc rắn sử
dụng trong công nghệ điện hóa hoặc làm cầu muối trong các điện cực so sánh cho
các thiết bị đo điện hóa.
Các cầu muối thông thường được chế tạo từ các vật liệu xốp: gốm, thủy tinh,
carbon xốp hoặc các gel chứa các muối tan như thạch aga vv… Các cầu muối này
có ưu điểm là dễ kiếm, dễ chế tạo, đặc tính dẫn điện tốt, ít tan, ít trộn lẫn, độ bền
cao nên nhiều nhà khoa học trên thế gới đã nghiên cứu sử dụng CLIO làm cầu dẫn
cho các điện cực so sánh. Tuy nhiên, các cầu muối này thường có nhược điểm dễ bị
rò rỉ, đóng cặn các kim loại (Ag) trong điện cực Ag/AgCl. . . làm cho thế điện cực
bị thay đổi hoặc làm bẩn dung dịch đo.
Ở Việt Nam, kỹ thuật phân tích điện hóa von-ampe được sử dụng rộng rãi.
Một trong những thuận lợi của phương pháp này là chúng ta đã tự chế tạo được thiết
bị đo. Việc chế tạo được các điện cực làm việc cũng như điện cực so sánh có chất
lượng cao là một trong những yêu cầu bức thiết để mở rộng khả năng ứng dụng của
kỹ thuật phân tích có rất nhiều ưu việt này.
Từ nhu cầu về các nghiên cứu, ứng dụng CLIO trong phân tích tích điện hóa,
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Vũ Thị Thu Hà, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài:
Nghiên cứu tính chất của CLIO và ứng dụng trong phân tích điện hóa
Nội dung của luận văn tập trung vào:
- Bước đầu chế tạo được một số loại CLIO
- Sử dụng CLIO và poly(vinylidene fluoride-co-hexanfluoropropylene) để chế
Hussey trình bày trong [17]. Các CLIO trên cơ sở AlCl
3
có thể xem là thế hệ đầu
tiên của các CLIO. Bản chất hút ẩm của các CLIO trên cơ sở AlCl
3
làm giảm hiệu
quả sử dụng của chúng trong nhiều lĩnh vực do chúng cần được điều chế và cất giữ
dưới điều kiện ngặt nghèo như khí trơ. Do đó, việc tổng hợp các CLIO bền trong
không khí và nước, loại chất được xem là thế hệ thứ hai của CLIO, đã cuốn hút việc
sử dụng CLIO trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Năm 1992, Wilkes và Zaworotko
trình bày CLIO bền ẩm và khí đầu tiên dựa trên cation 1-ethyl-3-
methylimidazolium với hoặc là anion tetrafluoroborate hay anion
hexafluorophosphate. Không giống như CLIO chloroaluminate, các CLIO này có
thể được điều chế và bảo quản trong điều kiện không cần khí trơ. Nói chung, các
CLIO này là không háo nước, tuy nhiên, nếu để lâu trong môi trường ẩm, dễ dẫn
đến việc thay đổi một vài tính chất vật lý và hóa học của chúng. Điều này là do sự
tạo thành HF làm phân hủy CLIO khi có mặt của nước. Do đó, các CLIO có mặt các
anoin ưa nước hơn như tri-fluoromethanesulfonate (CF
3
SO
-
3
), bis-
(trifluoromethanesulfonyl)imide [(CF
3
SO
2
)
2
N
Có nhiều cách phân chia CLIO: CLIO ở nhiệt độ phòng (room-temperature
ionic liquid) – CLIO khối (task-specific ionic liquid); CLIO kỵ nước (hydrophobic
ionic liquid) – CLIO ưa nước (hydrophilic ionic liquid)
1.2.1. Các loại CLIO thƣờng gặp
Giống như các hợp chất ion khác, CLIO gồm hai phần chính là cation và
anion. Các cation thường dùng trong CLIO là: imidazolium, pyridinium,
phosphonium, pyrrolidinium, tetraalkylphosphonium, tetraalkylammonium và
trialkylsulfonium. Các anion thông dụng gồm: tetrafloroborat, hexanfluoro,
phosphat, trifluorotris(pentafluoroethyl)phosphate, thiocyanat, dicyanamide, ethyl
sulfate, và bis(trifluoromethylsunfonyl)amide.
Hình 1.1: Các CLIO thường gặp của gốc amoni, photpho,
và gốc sunfonyl Hình 1.2: Các CLIO thường gặp của gốc Imidazolium và pyrrolidindium
Hình 1.3: Các CLIO thường gặp của gốc pyridinium
1.2. Tính chất của các CLIO
CLIO được sử dụng rộng rãi trong điện hóa vì những tính chất tuyệt vời của
nó như: độ dẫn ion tốt, cửa sổ điện hóa rộng, độ nhớt cao, độ bền nhiệt, khoảng tồn
tại ở trạng thái lỏng rộng, tính chất dung môi có thể điều chỉnh được. Hầu hết các
CLIO bao gồm các cation alkylpyridinium, alkylphosphonium, alkylammonium kết
hợp với các anion BF
4
-
, CH
-1
Độ phân cực
Trung bình
Độ dẫn riêng
< 10mScm
-1
, tốt
Độ dẫn phân tử
<10Scm
2
mol
-1
Cửa sổ thế
Lớn hơn 2V, thậm chí là 4,5V,
loại trừ các axit Brostest
Dung môi hoặc chất xúc tác
Rất phù hợp cho nhiều phản ứng hữu cơ
Áp suất hơi
Không đáng kể
1.2.1. Độ nhớt
Độ nhớt là một trong những tính chất quan trọng của CLIO trong nghiên
cứu điện hóa, vì nó có ảnh hưởng mạnh lên quá trình di chuyển của các chất lỏng
và các thành phần tan trong chúng. Độ nhớt được cho là tính chất vật lý quan trọng
nhất trong bất kỳ một ứng dụng nào của CLIO [25]. CLIO có độ nhớt cao hơn hầu
hết các dung môi thông thường khác, độ nhớt của CLIO dao động từ 30 mPa.s đến
100 mPa.s, tuy nhiên có một số công trình đã công bố, độ nhớt của CLIO có thể đạt
được 500-600 mPa.s, thậm chí có CLIO có độ nhớt lớn hơn 1000 mPa.s [5, 36].
4
Dimethylsulfoxide
1,987
2,7
1
5
[EMIM][N(Tf)2]
28
8,4
6
[BMIM][N(Tf)2]
44
2
3,9
3
7
[C6MIM][N(Tf)2]
59
28
[C8MIM][N(Tf)2]
74
29
độ nhớt của CLIO, mặc dù bản chất của liên kết là liên kết hidro. Ví dụ, perfluorinat
BF
4
-
và PF
6
-
tạo thành các CLIO có độ nhớt lớn hơn (chứa tương tác mạnh H F)
so với các CLIO được tạo thành từ các anion có liên kết yếu như N(Tf)
2
-
, tại vị trí
của điện tích âm của hai nhóm sulfoxide không định cư. Sự thay đổi cation hữu cơ
1
. Độ dẫn của dung môi hữu cơ có chứa 0,1M tetrabutylammonium perclorat ở 22
0
C
2
. Độ nhớt đánh giá từ các tài liệu tham khảo
3
. Ở 20
0
C
gây ra sự biến đổi không thể dự đoán được về độ nhớt của các CLIO và các tác giả
cho rằng điều đó là do ảnh hưởng của tương tác Van-de Vals, độ nhớt thường tăng
theo kích cỡ của cation (ví dụ tăng độ dài của mạch alkyl). Như vậy, bản chất và
cấu trúc của các cation và anion đều ảnh hưởng lớn đến độ nhớt của chúng [11].
Độ nhớt của các CLIO phụ thuộc vào nhiệt độ [12], tuy nhiên sự phụ thuộc
có thêm các chất điện ly vô cơ, nhưng độ lớn không đáng kể [18].
Tuy nhiên, chúng lại có độ dẫn kém hơn so với các chất điện ly pha nước đậm
đặc, điều đó góp phần làm giảm khả năng dẫn điện từ các ion có kích thước lớn. So
với các chất điện ly hữu cơ thì CLIO có độ dẫn tốt hơn, có áp suất hơi thấp phù hợp
cho các thiết bị điện phân. Độ dẫn của các anion so với các cation trong CLIO giảm
dần theo thứ tự sau: Imidazolium > pyrrolidinium> ammmonium [17]. Sự biến đổi
của độ nhớt theo nhiệt độ ở nhiệt độ phòng được trình bày bằng đường thẳng
Arrhenius, nhưng khi chúng tiến sát đến nhiệt độ thủy tinh hóa thì chúng tuân theo
phương trình Vogel-Tammann-Fulcher [17, 18].
1.2.3. Cửa sổ điện hóa
Cửa sổ điện hóa được hiểu như một khoảng thế mà trong khoảng đó các chất
điện phân không bị oxi hóa hoặc khử. Giá trị này, một mặt, định tính cho độ ổn định
điện hóa của CLIO, giới hạn của cửa sổ điện hóa tương ứng tới điểm đầu vào điểm
cuổi của sự phân hủy điện hóa của các ion bên trong nó (giả sử rằng các cation bị
khử trên catot và các anion bị oxi hóa trên anot). Mặt khác, độ rộng của cửa sổ điện
hóa xác định khoảng thế cho phép để quá trình điện hóa không làm ảnh hưởng đến
dung dịch. Hầu hết các loại CLIO đều có cửa sổ thế khoảng 2,0V hoặc lớn hơn tùy
theo bản chất của từng loại ion có mặt trong CLIO. Hiện nay, có rất nhiều công
trình đã công bố về cửa sổ thế của CLIO có thể đạt từ 3,0V đến 4,5V [5, 18]. Dễ
dàng nhận thấy rằng, CLIO sẽ linh động hơn khi có cửa sổ thế rộng hơn.
Có nhiều cách khác nhau để tìm ra thế giới hạn anot và catot. Cửa sổ điện hóa
bị ảnh hưởng bởi bản chất của các ion. Khi nghiên cứu phần thay thế Imidazolium
tetracloro aluminat, độ rộng thế được ghi nhận khoảng 2V, và chúng bị giới hạn bởi
thế anot. Ví dụ, tại thế khoảng 1,2V, axit Lewis tetrachloroaluminat xảy ra phản
ứng trên anot được miêu tả như sau:
2AlCl
4
-
= Al
2
-
=(C-F
BF
3
)
el
+ e
-
Sự phân hủy điện hóa của PF
6
-
thành PF
5
và F
-
. Với cùng một điều kiện như
vậy trên điện cực Vonfram đưa ra kết quả mật độ dòng và độ rộng thế thấp: đối với
1-bu-3-MeImBF
4
là 6.10V và đối với 1-bu-3-MeImPF
6
là 7,10V. Do đó, việc chọn
lọc các CLIO phù hợp với mục đích sử dụng là điều hết sức quan trọng [30].
Giá trị của thế giới hạn và sự khác nhau của CLIO cũng bị ảnh hưởng bởi vật
liệu làm điện cực đo, điện cực so sánh và các điều kiện đo (nhiệt độ, tốc độ quét
thế ). Trong thực tế, phép đo điện thế xảy ra khi đặt vào điện cực so sánh (ngoài ra
còn một thuật ngữ tương đương là điện cực giả so sánh) dây bạch kim. Tuy nhiên,
chúng ta không thể so sánh được giá trị thế trong điều kiện này với thế trong dung
môi truyền thống, bởi vì có sự khác nhau về bản chất phân tử của các dung môi
1-alkyl-3-methylimidazolium bị khử ở thế thấp hơn so với ion tetraalkylammonium
hoặc N,N-dialkylpyrrolidinium [18].
1.2.4. Độ tan và khả năng sonvat hóa
Mặc dù đây không phải là tính chất điện hóa của CLIO nhưng độ tan cũng
dành được rất nhiều sự quan tâm của các nhà hóa học nghiên cứu về CLIO. Hầu
như các CLIO là các chất lưỡng cực. Khả năng sonvat hóa phụ thuộc vào bản chất
của các thành phần cấu tạo nên CLIO: các anion với mật độ điện tích lớn và các
cation hữu cơ với mạch alkyl ngắn phân cực hơn các phân tử phân cực, do vậy các
CLIO ưa nước có khả năng khuếch tán lớn hơn trong các cation [18].
1.3. Ứng dụng
Với những đặc tính ưu việt của mình như khả năng sonvat tốt, độ dẫn cao,
không bay hơi, độc tính thấp, cửa sổ điện hóa rộng, độ bền cao, làm cho CLIO phù
hợp với rất nhiều lĩnh vực, một số lượng lớn các công trình đã công bố về ứng dụng
của chúng trong lĩnh vực chế tạo sensor, trong các phản ứng hữu cơ, trong phân
tích, đặc biệt là trong phân tích điện hóa [34]. Hình 1.4 biểu diễn một số ứng dụng
chính của CLIO:
Pin nhiên liệu
Quang điện
Sensor điện hóa trạng thái tĩnh
Sensor
điện hóa Chiết và tách
Sensor quang
Nền MALDI Điện thế
Cực phổ
QCM Sắc ký khí
Sắc ký lỏng
Điện di mao
quản
Phản ứng hữu cơ và xúc tác phản ứng
Thiết bị điện hóa
Shamsipur M và các cộng sự đã xác định được hàm lượng 2-furaldehyde trong
dầu và nước thải của quá trình lọc dầu từ quá trình tái chế bằng cách sử dụng ba
Pan Zy và các cộng sự đã xác định được hàm lượng vết Cd trong nước bằng
cách cải biến điện cực than thủy tinh sử dụng CLIO [BMIM][PF
6
], các nguyên tố
chì, thủy ngân, bạc và một số kim loại nặng khác không gây ảnh hưởng đến tín hiệu
đo, khoảng tuyến tính được xác định từ 4,0.10
-8
mol.L
-1
đến 2,2.10
-7
mol.L
-1
, giới
hạn phát hiện là 2,0.10
-8
mol.L
-1
[38].
Li, YH và các cộng sự đã công bố xác định đồng thời hàm lượng siêu vết chì
và cadmi bằng cách cải biến bề mặt điện cực than thủy tinh sử dụng CLIO kết hợp
với vật liệu hydroxyapatite, sử dụng phương pháp von-ampe hòa tan anot sóng
vuông pic của chì là -0,34V và pic cadmi là -0,88V. Khoảng tuyến tính là 1.10
-9
mol.L
-1
đến 1.10
-7
mol.L
-1
Hiện nay, ở Việt Nam, chúng tôi chưa tìm thấy các công trình công bố có liên
quan đến CLIO nói chung và ứng dụng của CLIO trong phân tích điện hóa nói riêng.
1.3.2. Ứng dụng khác
Công nghệ hóa học
Chiết lỏng – lỏng với lợi thế chủ yếu là: Tính chất solvat hóa có thể điều tiết được
Việc loại bỏ các chất nhiễm bẩn khỏi chất lỏng thường được làm bằng cách
cho chúng tiếp xúc với một dung môi có độ tan cao đối với chất nhiễm bẩn và có độ
trộn lẫn thấp đối với chất lỏng chứa chất bẩn. CLIO có khả năng tạo phức solvat
hóa cao với khả năng hòa tan hàng loạt chất, chúng có thể được thiết kế để không
hòa tan với nước, các dung môi hữu có phân cực và/hay các alkan. Sự mềm dẻo
trong khả năng sol vat hóa cho phép điều chỉnh sự phân bố của các cấu tử trong
dung dịch [23, 31, 35].
Lớp phủ
- Mạ điện với lợi thế chủ yếu: Độ bền điện hóa được tăng lên
Triển vọng rộng rãi của dùng CLIO thay cho dùng nước trong mạ dựa trên
cơ sở những ưu việt của nó. Việc kết hợp giữa các tính chất vật lý và hóa học, giá
thành thấp của loại vật liệu này làm cho chúng có khả năng được ứng dụng mạnh
mẽ trong công nghiệp. Việc phủ các kim loại cấu trúc với lớp phủ bảo vệ và trang
trí bằng cách điện kết tủa các kim loại và hợp kim không ăn mòn là công nghệ cơ
bản. Quá trình này bị hạn chế bởi sự có mặt của các kim loại tồn tại trong môi
trường nước. Các CLIO làm cho môi trường bền điện hóa đối với mạ điện các kim
loại hoạt động , ví dụ như nhôm.
- Xử lý chống ăn mòn với lợi thế chủ yếu: Tạo thành lớp phủ bền
Thép và các kim loại hoạt động thường có thể được bảo vệ chống ăn mòn
bằng cách tạo thành một màng bảo vệ liên kết đồng hóa trị. Dưới điều kiện hợp lý
các CLIO có thể tạo thành các bề mặt biến tính có tính chất chống ăn mòn [31].
Các sensor chuẩn đoán với lợi thế chủ yếu: độ ổn định tăng, thời gian đáp ứng,
khoảng động tốt.
Việc phát hiện điện hóa các phân tử sinh học thích hợp có thể được thực hiện
cách tập trung lên bề mặt điện cực làm việc ở một thế và thời gian xác định. Trong
quá trình làm giàu, dung dịch được khuấy trộn đều bằng cách dùng khuấy từ hoặc
cho điện cực quay. Cuối giai đoạn này, thế trên điện cực làm việc vẫn giữ nguyên
nhưng ngừng khuấy hoặc ngừng quay điện cực trong khoảng thời gian 2
30s để
chất phân tích phân bố đều trên bề mặt điện cực làm việc.
- Giai đoạn hòa tan: hoà tan chất phân tích khỏi bề mặt điện cực làm việc
bằng cách quét thế theo một chiều xác định (anot hoặc catot), đồng thời ghi đường
Von-Ampe hoà tan bằng một kỹ thuật Von-Ampe nào đó. Trong giai đoạn này
thường không khuấy dung dịch phân tích. Các kỹ thuật Von-Ampe thường dùng để
ghi tín hiệu Von-Ampe hòa tan là: Von-Ampe xung vi phân (DPP), Von-Ampe
sóng vuông (SQW)
1.4.2.2. Các điện cực dùng trong phƣơng pháp Von-Ampe hòa tan
Trong phương pha
́
p von -ampe thường sư
̉
du
̣
ng hê
̣
gồm 3 điê
̣
n cư
̣
c: điện cư
̣
c
làm việc, điện cư