đánh giá ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tại huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an - Pdf 24


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Đàm Anh Tuấn

ĐÁNH GIÁ Ô NHIỄM HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT
TẠI HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả luận văn
Đàm Anh Tuấn

ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, cá nhân trong và
ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ts.Võ Thành Vinh - Trung tâm Công
nghệ xử lý môi trường - Bộ Tư lệnh Hóa học - Bộ Quốc Phòng và các anh chị
phòng Phân tích của Trung tâm đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Quản lý môi
trường - Khoa Môi trường đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và đóng góp bổ sung
ý kiến cho luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới toàn thể gia đình, bạn bè
những người đã giúp đỡ, động viên và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2012
Học viên


1.1.3. Về điều kiện kinh tế - xã hội 13
1.1.3.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 13
1.1.3.2. Thực trạng phát triển kinh tế các ngành kinh tế 14
1.1.3.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 17
1.1.3.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 17
1.2. Tổng quan về tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam 20
1.2.1. Sự ô nhiễm hoá chất BVTV sau chiến tranh ở Việt Nam 23
iv
1.2.2. Hiện trạng quản lý và xử lý hoá chất BVTV ở Việt Nam và Nghệ An . 26
1.2.2.1. Ở Việt Nam 26
1.2.2.2. Ở Nghệ An 29
1.2.3. Các nhóm thuốc bảo vệ thực vật 32
1.2.3.1. Thuốc trừ sâu và các động vật gây hại khác 32
1.2.3.2. Thuốc trừ bệnh 32
1.2.3.3. Thuốc xông hơi 34
1.2.3.4. Thuốc trừ cỏ 35
1.2.3.5. Chất điều khiển sinh trưởng cây trồng 36
1.2.4. Sự chuyển hóa của thuốc bảo vệ thực vật trong đất 36
1.2.4.1. Sự bay hơi 36
1.2.4.2. Hoà tan, rửa trôi, chảy tràn 37
1.2.4.3. Quang phân 37
1.2.4.4. Phân giải hoá học 38
1.2.4.5. Tác dụng phân giải của vi sinh vật 38
1.2.4.6. Tác dụng hấp phụ thuốc BVTV của đất 39
1.2.4.7. Sự bền vững của thuốc trong đất 40
1.2.4.8. Sự phân giải DDT trong đất 41
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phân bố của thuốc bảo vệ thực vật trong
đất 42
1.2.6. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến hệ sinh vật sống trong đất 44
1.2.6.1. Tác động của thuốc BVTV đến các sinh vật sống trong đất. 44


i kho thu

c t

i HTX nông nghi

p Nghi Trung 65
3.2.2.1. Hiện trạng môi trường nước 65
3.2.2.2. Hiện trạng môi trường đất 66
3.2.3. Kho thuốc tại xóm 8- Nghi Công Bắc 69
3.2.3.1. Hiện trạng môi trường nước 69
3.2.3.2. Hiện trạng môi trường đất 70
3.2.4. Kho thuốc tại xóm 8, xã Nghi Hoa 73
3.2.4.1. Hiện trạng môi trường nước 73
3.2.4.2. Hiện trạng môi trường đất 74
3.2.5. Kho thuốc tại xóm 3, xã Nghi Phương 77
3.2.5.1. Hiện trạng môi trường nước 77
3.2.5.2. Hiện trạng môi trường đất 78
3.3. Biện pháp xử lý nhằm giảm thiểu tác động ô nhiễm 82
3.3.1. Giải pháp kỹ thuật 82
3.3.2. Giải pháp khoa học và công nghệ 84
3.3.3. Giải pháp tuyên truyền, giáo dục và nâng cao năng lực 85
3.3.4. Giải pháp quản lý 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 93
vi

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VSV : Vi sinh vật
PCBs : Polychlorinated biphenyls (một nhóm các hoá
chất nhân tạo)
POPs : Persistent organic pollutants (các chất ô nhiễm
hữu cơ khó phân huỷ) vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

1. DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2006-2011 14
Bảng 1.2: Lượng thuốc DDT nhập khẩu được sử dụng để trừ muỗi từ năm 1957 đến
1990 22
Bảng 1.3: Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam và ước tính số lượng vỏ bao
bì thải 23
Bảng 1.4: Các thuốc trừ cỏ chủ yếu được sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam
trong thời kỳ 1962 – 1971 23
Bảng 1.5: Lượng thuốc trừ cỏ đã sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam 24
Bảng 1.6: Lượng thuốc trừ cỏ được sử dụng 24
Bảng 1.7: Lượng thuốc trừ sâu trong các mẫu nước (mg/ml) 25
Bảng 1.8: Mức dư lượng HCH và DDT trong đất, nước và không khí ở các vùng lân
cận các kho trừ sâu cũ tại vùng trồng rau ngoại thành Hà Nội 25
Bảng 1.9: Mức độ rửa trôi, hoà tan của các loại TBVTV trong đất 37
Bảng 1.10. Ảnh hưởng và nồng độ một số thuốc trừ cỏ và pH đất đến lượng hấp phụ
39
Bảng 1.11: Thời gian tồn tại của một số loại thuốc BVTV 40
Bảng 1. 12: Ảnh hưởng của TBVTV lên hoạt động của enzim đất 47
Bảng 1.13: Các thuốc trừ sâu độc đối với giun đất, làm giảm lượng giun đất có thể
kể tên như sau: 48

Hình 3.10. Bản đồ phân vùng ô nhiễm hóa chất BVTV tại kho thuốc xã Nghi Trung ở độ
sâu 0- 0,5m 67
Hình 3.11. Bản đồ phân vùng ô nhiễm hóa chất BVTV tại kho thuốc xã Nghi Trung ở độ
sâu 0.5- 1m 69
Hình 3.12. Hiện trạng môi trường nước tại khu vực kho thuốc xóm 3, xã Nghi Trung 70
Hình 3.13. Bản đồ phân vùng ô nhiễm hóa chất BVTV tại kho thuốc xã Nghi Công Bắc ở
độ sâu 0- 0,5m 72
Hình 3.14. Bản đồ phân vùng ô nhiễm hóa chất BVTV tại kho thuốc xã Nghi Công Bắc ở
độ sâu 0,5- 1m 73
Hình 3.15. Hiện trạng môi trường nước tại khu vực kho thuốc xóm 8, xã Nghi Hoa 74
Hình 3.16. Bản đồ phân vùng ô nhiễm hóa chất BVTV tại kho thuốc xã Nghi Hoa ở độ sâu
0-0,5m 75
Hình 3.17. Bản đồ phân vùng ô nhiễm hóa chất BVTV tại kho thuốc xã Nghi Hoa ở độ sâu
0,5- 1m 76
Hình 3.18. Bản đồ hiện trạng môi trường nước tại kho thuốc xã Nghi Phương 77
Hình 3.20. Bản đồ phân vùng ô nhiễm hóa chất BVTV tại kho thuốc xã Nghi Phương ở độ
sâu 0,5-1m 81 1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của các ngành khoa
học khác, lĩnh vực hoá học và kỹ thuật sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV) đã
có sự thay đổi mạnh mẽ. Sự hiểu biết sâu sắc hơn về phương thức tác động đã cho
phép phát hiện ra nhiều hoạt chất mới có phương thức tác động khác trước, có hiệu
lực cao với dịch hại, dùng ở liều lượng thấp nhưng lại an toàn với con người và hệ
động thực vật.

thế nào đang là thách thức của các nhà chuyên môn và quản lý.
Ở Nghệ An hiện nay đã thống kê được 913 địa điểm bị ô nhiễm (sơ cấp và
thứ cấp) thuốc BVTV nằm trên 19 huyện, thành, và thị xã, với tổng diện tích đất bị
ô nhiễm trên 550 ha, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp [2]. Lượng thuốc tồn dư
này ngày càng gây những ảnh hưởng xấu tới môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến
sức khỏe của người dân. Huyện Nghi Lộc được coi là “vùng đặc biệt" ô nhiễm môi
trường từ nhiều năm qua có nguyên nhân từ sự tồn lưu lớn thuốc bảo vệ thực vật
độc hại. Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, huyện Nghi Lộc bị ô nhiễm khá
nặng và thành phần gây ô nhiễm chủ yếu là các loại hóa chất: hexachlorobenzene
(HCB), Lindan, Aldrin, DDT, 666. Hiện nay các tồn dư hoá chất BVTV đang có
chiều hướng phát tán ra khu vực xung quanh. Nhưng thực tế chưa có cơ quan chức
năng nào tiến hành đánh giá chiều hướng và tốc độ lan truyền của chúng một cách
chi tiết để đề ra các giải pháp xử lý cho từng khu vực có mức độ ô nhiễm khác nhau.
Vì vậy, việc điều tra, đánh giá, mức độ, phạm vi lan truyền tồn dư thuốc BVTV là
rất cần thiết và cấp bách. Để góp phần vào điều này chúng tôi tiến hành lựa chọn và
thực hiện đề tài: “Đánh giá ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tại huyện Nghi Lộc,
tỉnh Nghệ An”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ
a. Mục tiêu
Đánh giá mức độ ô nhiễm và xây dựng bản đồ khoanh vùng ô nhiễm hóa
chất BVTV tồn lưu trong đất, nước tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
b. Nhiệm vụ
- Thu thập, phân tích và hệ thống hóa các tài liệu liên quan tới khu vực
nghiên cứu.
- Xác định một số tính chất và lượng tồn dư hoá chất BVTV trong đất, nước
liên quan đến sự tồn tại hoá chất BVTV vùng nghiên cứu. 3


1.1.1. Về điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Nghi Lộc là huyện thuộc đồng bằng ven biển, nằm từ 18
0
41' đến 18
0
54' vĩ độ
Bắc và 105
0
28' đến 105
0
45' kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp : Huyện Diễn Châu, Yên Thành.
- Phía Nam giáp : Huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên và thành phố Vinh.
- Phía Đông giáp : Thị xã Cửa Lò và biển Đông.
- Phía Tây giáp : Huyện Đô Lương.
Toàn huyện có diện tích tự nhiên là 34.800,96 ha, bao gồm 29 xã và 1 thị
trấn với dân số 185.461 người (đứng thứ 5 toàn tỉnh sau Quỳnh Lưu, Yên Thành,
Diễn Châu và thành phố Vinh).
Là khu vực vùng đệm của thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, vị trí tiềm năng để
quy hoạch phát triển thành phố Vinh mở rộng sau này, là khu vực thuận lợi cho việc
phân bố các khu công nghiệp và các nhà máy sản xuất kinh doanh thúc đẩy sự phát
triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Nghệ An. Huyện có 10 xã
nằm trong Khu kinh tế Đông Nam sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc thu hút các nguồn
đầu tư trong và ngoài nước thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trong tương lai sẽ là vệ tinh
của khu Kinh tế Đông Nam Nghệ An và thành phố Vinh (đô thị loại I).
Với mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ khá thuận lợi.
Có nhiều tuyến giao thông của Trung ương và tỉnh chạy qua địa bàn huyện như:
Quốc lộ 1A, Quốc lộ 46, đường sắt Bắc - Nam, các đường Tỉnh lộ 534, 535 và 536.
Với chiều dài 14 km bờ biển, có 2 con sông lớn chảy qua địa bàn huyện là sông

trung ít dân cư khoảng 57.842 người chiếm 31,4% tổng dân số của cả huyện.
b. Vùng đồng bằng
Khu vực trung tâm và phía Đông, Đông Nam của huyện địa hình tương đối
bằng phẳng, chỉ có ít đồi núi thấp xen kẽ độc lập, độ cao chênh lệch từ 0,6 - 5,0 m,
với diện tích tự nhiên khoảng 16.686 ha, chiếm 48% so với diện tích của cả huyện.
Do đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng có thể phân thành 2 vùng:
- Vùng thấp hoặc trũng: Chủ yếu là đất phù sa của hệ thống sông Cả, có độ
cao từ 0,6 - 3,5 m, địa hình thấp, nguồn nước khá dồi dào, đây là vùng trồng lúa
trọng điểm của huyện, gồm các xã Nghi Vạn, Nghi Diên, Nghi Hoa, Nghi Thuận và
một phần của Nghi Long, Nghi Tiến, Nghi Yên, Nghi Xá, Nghi Trung.
Hình 1.2. Bản đồ địa hình huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
- Vùng cao: Chủ yếu là đất cát biển, có độ cao từ 1,5 - 5,0 m, là vùng đất
màu của huyện, gồm các xã Nghi Trường, Nghi Thịnh, Nghi Thạch, Nghi Long,
Nghi Xá, Nghi Khánh, Nghi Yên, Nghi Tiến, Nghi Thiết, Nghi Thái, Phúc Thọ, 7

Nghi Xuân, Nghi Phương, Nghi Trung, Nghi Quang. Do địa hình tương đối cao, xa
nguồn nước ngọt nên việc cung cấp nguồn nước tưới cho vùng này còn khó khăn,
chủ yếu dựa vào nước mưa, năng suất cây trồng thấp.
1.1.1.3. Địa chất
Huyện Nghi Lộc nằm trong vùng địa chất Bắc Trung Bộ, nằm trùng với hệ
địa máng - uốn nếp Caledoni Việt Lào. Các phức hệ địa máng phát triển có thể từ
Cambri cho đến cuối Silur hoặc đầu Đevon. Trên địa bàn huyện Nghi Lộc, các phức
hệ của hệ tầng sông Cả phát triển dày tới 700 – 1000m, gồm cát kết thạch anh và
phiến thạch anh sericit ở phía nam huyện. Các khối đá vôi (C-Pbs) phát triển ở phía
Tây bắc và khu trung tâm huyện. Các đá cát cuội kết của phía hệ T
2
đt phân bố ở đới


+ Gió mùa Đông Bắc nằm sâu trong lục địa lạnh lẽo của vùng Sibia và Mông
Cổ từng đợt thổi qua Trung Quốc và Vịnh Bắc Bộ tràn về, gọi là gió Bắc. Gió mùa
Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
+ Gió Đông Nam mát mẻ từ biển Đông thổi vào mà nhân dân gọi là gió
Nồm, xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10.
Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn ảnh hưởng bởi luồng gió Tây Nam ở tận
Vịnh Băng-gan tràn qua lục địa, luồn qua dãy Trường Sơn, thổi sang được người dân
thường gọi là gió Lào nhưng chính là gió tây khô nóng. Gió Tây Nam là một loại
hình thời tiết đặc trưng cho mùa hạ của vùng Bắc Trung Bộ. Ở Nghi Lộc thường xuất
hiện vào tháng 6, 7, 8. Gió Tây Nam đã gây ra khô, nóng và hạn hán ảnh hưởng đến
sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân trên phạm vi toàn huyện.
- Độ ẩm không khí: Bình quân khoảng 86%, cao nhất trên 90% (tháng 1, tháng
2), nhỏ nhất 74% (tháng 7).
- Lượng bốc hơi nước: Bình quân năm là 943 mm. Lượng bốc hơi nước trung
bình của các tháng nóng là 140 mm (từ tháng 5 đến tháng 9). Lượng bốc hơi trung
bình của những tháng mưa là 59 mm (tháng 9, tháng 10, tháng 11).
Những đặc trưng về khí hậu: Biên độ nhiệt độ giữa các mùa trong năm lớn,
chế độ mưa tập trung vào mùa mưa bão (tháng 8 - tháng 10), mùa nắng nóng có gió
Lào khô hanh, đó là những nguyên nhân chính gây nên mưa lũ xói mòn hủy hoại đất
nhất là trong điều kiện cây rừng bị chặt phá và sử dụng đất không hợp lý.
1.1.1.5. Thủy văn
- Nguồn nước mặt: Ngoài nước mưa thì nguồn nước tưới chính cho đồng
ruộng chủ yếu lấy từ kênh Nhà Lê, sông Tân Giai, sông Cấm, kênh Kẻ Gai và một
số hồ đập lớn ở vùng bán sơn địa để đáp ứng nhu cầu sản xuất của người dân như
đập Khe Nu, hồ Khe Thị, hồ Khe Gỗ, hồ Khe Bưởi Tuy nhiên đối với đất trồng
màu do địa hình cao, nguồn nước ngọt xa nên việc giải quyết nước tưới cho vùng
này còn khó khăn. Nguồn nước sông Cấm khá dồi dào nhưng do nhiễm mặn nên việc
sử dụng nguồn nước này bị hạn chế, ở đây về mùa mưa lại hay bị úng lụt. Việc tưới
tiêu cũng là một bài toán khó cho các nhà quản lý vì nó ảnh hưởng đến sự phát triển

khoảng 6.715 ha chiếm 19,30% diện tích các loại đất.
Là loại đất trước đây cũng được bồi đắp phù sa, song chịu tác động của yếu
tố địa hình đặc biệt là quá trình đắp đê ngăn lũ nên lâu nay không được bồi đắp
thêm phù sa mới nữa. Nơi có địa hình tương đối cao, thoát nước tốt, thoáng, đất
không có gley, nơi địa hình thấp thường có gley yếu. 10

d. Đất phù sa cũ có nhiều sản phẩm Feralit
Tập trung hầu hết các xã vùng lúa, đất có nguồn gốc của hệ thống sông Cả ở
vùng địa hình tương đối thấp, diện tích khoảng 6.540 ha chiếm 18,79% diện tích các
loại đất. Đất có pH từ chua đến trung bình, hàm lượng các chất dinh dưỡng từ trung
bình đến nghèo. Địa hình tương đối bằng phẳng, thích hợp cho trồng lúa.
e. Đất mặn
Phân bố ở vùng hạ lưu sông Cấm thuộc các xã Nghi Quang, Nghi Tiến,
Nghi Thuận, Nghi Thiết, Nghi Xá và rải rác ở một số xã ven biển. Do ảnh hưởng
của nguồn nước mặn, vì vậy tỷ lệ muối tan thay đổi theo mùa. Về mùa mưa tỷ lệ
muối tan rất thấp ít gây tác hại cho cây trồng nhất là cây lúa nước.
Phần lớn đất mặn ít thường có kết von, thành phần cơ giới thịt trung bình
hoặc thịt nặng, một số ít có cơ giới cát pha, thịt nhẹ, diện tích 997,59 ha chiếm
2,87% diện tích các loại đất, một số diện tích đã được cải tạo để trồng lúa, nuôi trồng
thủy sản.
f. Đất Feralit biến đổi do trồng lúa
Phân bố ở một số thung lũng thuộc các xã Nghi Kiều, Nghi Văn, Nghi Đồng,
diện tích 2.629 ha chiếm 7,55% các loại đất; do quá trình tạo thành ruộng bậc thang
nên trồng lúa tương đối ổn định. Quá trình feralit tầng mặt đã bị hạn chế, tính chất
đất thay đổi, đất được sử dụng để trồng một vụ lúa, nơi có nước tưới đầy đủ có thể
trồng 2 vụ lúa nhưng năng suất không cao.
g. Đất dốc tụ

nông nghiệp và thau chua rửa mặn và ngọt hoá cho vùng đất nhiễm mặn hai bên
hạ lưu sông Cấm.
Nguồn nước ngầm: Theo kết quả nghiên cứu địa chất thuỷ văn mà tôi thu
thập được, nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện Nghi Lộc hiện có ở 3 tầng nước
chủ yếu, có ý nghĩa cho việc cấp nước sinh hoạt và xây dựng, phát triển kinh tế như
các tầng chứa nước lỗ hổng Holocen; tầng chứa nước lỗ hổng Plestocen và các tầng
chứa nước khe nứt và khe nứt Karst. Đây là nguồn nước cung cấp chủ yếu cho nhu
cầu sinh hoạt của người dân.
Tuy có nguồn nước dồi dào nhưng trên địa bàn huyện một số nơi vẫn còn
thiếu nước cục bộ cho sinh hoạt và tưới tiêu, chủ yếu là những nơi có địa hình
tương đối cao và một số nơi do nguồn nước bị nhiễm mặn.
1.1.2.3. Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp của huyện có 9.046,46 ha chiếm 25,99% diện
tích đất tự nhiên (Trong đó đất rừng sản xuất là 3.680,85 ha, đất rừng phòng hộ 12

5.365,61 ha). Rừng tập trung chủ yếu ở các vùng bán sơn địa trồng các loại cây
như thông, keo, phi lao, bạch đàn và trồng rừng ngập mặn ở các xã ven biển
để chắn sóng, chắn gió.
1.1.2.4. Về tài nguyên biển
Huyện Nghi Lộc có 14 km bờ biển, có 6 xã ven biển gồm: Nghi Xuân, Phúc
Thọ, Nghi Quang, Nghi Thiết, Nghi Tiến, Nghi Yên. Tài nguyên biển ở đây đa dạng
phong phú về số loài, trong đó có nhiều đặc sản có giá trị kinh tế cao như mực, tôm,
sò… nhưng số lượng cá thể không lớn, phân bố ít tập trung và kém ổn định, ít hình
thành đàn lớn. Trữ lượng và khả năng thuỷ sản chưa có điều kiện điều tra thăm dò và
đánh giá đầy đủ. Hàng năm, sản lượng khai thác dao động từ 3000-5000 tấn các loại.
Dọc theo bờ biển là các bãi bồi, cồn cát đã được cải tạo trồng phi lao và các
làng mạc dân cư sinh sống từ lâu đời. Có hàng trăm héc ta (ha) ao, hồ, đầm, nhiều

* Nhóm kim loại màu:
Sắt có ở xã Nghi Yên trữ lượng khoảng 841,8 ngàn tấn, tuy nhiên hàm lượng
sắt ít và non.
1.1.3. Về điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.3.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
a. Tăng trưởng kinh tế
Nền kinh tế của huyện tăng trưởng với tốc độ nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển
dịch đúng hướng, trên một số lĩnh vực đã có bước đột phá. Tốc độ tăng trưởng kinh
tế bình quân trong 5 năm 2007-2011 đạt 11,20 % ; tổng giá trị sản xuất năm 2011
đạt 1.929 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 13,7 triệu đồng (tăng 2,3
lần so với năm 2007). Tổng thu nâng sách theo phân cấp trong năm năm ước đạt
352,7 tỷ đồng; tổng đầu tư toàn xã hội đạt 4.546 tỷ đồng.
Tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất 5 năm giai đoạn 2006 - 2011 đạt
12,8%. Giá trị sản xuất của ngành nông - lâm - ngư nghiệp tăng bình quân 3,20
%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 20,20 %/năm và ngành thương mại - dịch vụ
tăng 15, 50 %/năm.
b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm gần đây huyện Nghi Lộc đã tích cực chuyển đổi cơ cấu
phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, tập trung phát triển công nghiệp, làng nghề,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng mùa vụ, vật nuôi nên tốc độ phát triển kinh tế tăng
trưởng nhanh và bền vững.
Cơ cấu kinh tế của huyện huyện Nghi Lộc trong những năm qua có bước
chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành dịch 14

vụ - thương mại. Cơ cấu kinh tế, nông - lâm - ngư giảm từ 45,3% năm 2006 xuống
còn 37 % năm 2011, công nghiệp và xây dựng tăng từ 27,3% lên 34,8%, thương
mại - dịch vụ tăng từ 27,4% lên 28,2%.

nghiệp, cơ cấu cây trồng mùa vụ phù hợp nên năng suất các loại cây trồng tăng lên.
Sản lượng lương thực năm 2011 ước đạt 82.090 tấn, tăng 7.816 tấn so với năm 2006.
Giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích tăng từ 34 triệu đồng/ha năm 2006 lên 43 triệu
đồng/ha vào năm 2011 (năm 2010 đã có 2500 ha có giá trị thu nhập đạt 50 triệu
đồng/ha); 15

- Chăn nuôi: Chăn nuôi phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Trong những
năm gần đây diễn biến dịch bệnh gia súc, gia cầm có chiều hướng gia tăng, gây khó
khăn cho ngành chăn nuôi. Đề án phát triển chăn nuôi của huyện đã mang lại hiệu
quả, chương trình cải tạo đàn bò, nạc hoá đàn lợn, gà, chăn nuôi theo trang trại.
Tổng đàn trâu, bò đến năm 2011 có 38.250 con, tăng 7.606 con so với năm 2006,
trong đó đàn bò tăng 6.310 con.
Công tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm được tăng cường. Hệ
thống thú y từ xã đến huyện được củng cố, công tác tiêu độc khử trùng kịp thời nên
ngăn chặn và dập tắt các dịch bệnh.
* Lâm nghiệp:
Ngành lâm nghiệp không những có giá trị về kinh tế mà nó còn mang ý nghĩa
rất lớn đối với môi trường. Vì vậy việc chú trọng phát triển ngành lâm nghiệp đóng vai
trò quan trọng trong chiến lược phát triển của huyện Nghi Lộc. Trong giai đoạn 2001-
2010 diện tích rừng trồng tập trung đạt 2.723 ha và năm 2011 diện tích trồng rừng tập
trung khoảng 135 ha; độ che phủ rừng tăng từ 21% năm 2006 lên 23,4% vào năm
2011; phát triển diện tích rừng, giao đất khoán rừng đến từng hộ gia đình và quy hoạch
3 loại rừng được triển khai thực hiện đó mang lại hiệu quả cao. Sản lượng khai thác gỗ
bạch đàn, gỗ tràm đạt 2500 m
3
và 450 tấn nhựa thông, thực hiện tốt công tác chăm sóc
khoanh nuôi và bảo vệ rừng; nâng cao ý thức trong công tác bảo vệ rừng nên hạn chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status