nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sự biến động đất nông nghiệp huyện đông anh, thành phố hà nội - Pdf 24



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phan Đức Tuấn
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ ĐÔ THỊ
HÓA ĐẾN SỰ BIẾN ĐỘNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐÔNG
ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - Năm 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


1.2 Nghiên cứu ngoài nước 3
1.3 Nghiên cứu trong nước 11
1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến sự biến động đất
nông nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 17
Chương 2- ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
Chương 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đông Anh 33
3.1.1. Vị trí địa lý 33
3.1.2. Thời tiết, khí hậu 34
3.1.3 Địa hình 35
3.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 39
3.3 Ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến diện tích đất nông nghiệp khu
vực nghiên cứu 41
3.3.1 Tình hình phát triển công nghiệp 41
3.3.2 Tình hình phát triển đô thị 44
3.3.3 Ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến diện tích đất nông nghiệp
46
3.4 Ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến chất lượng đất nông nghiệp khu
vực nghiên cứu 55

3.5 Nguyên nhân làm suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa 63
3.6 Đề xuất các biện pháp trong quản lý và sử dụng hiệu quả quỹ đất nông nghiệp 66
3.6.1. Các giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường đất 66
3.6.1.1 Giải pháp về quy hoạch KCN, đô thị gắn với bảo vệ môi trường 66
a. Lồng ghép BVMT với quy hoạch phát triển KT-XH của vùng 66
b. Xem xét môi trường đối với quy hoạch phát triển công nghiệp 67

Bảng 3.2. Dân số huyện Đông Anh tính từ năm 2005 đến năm 2011
40
Bảng 3.3. Cơ cấu dân số huyện Đông Anh chia theo giới tính
40
Bảng 3.4. Tỷ suất sinh tính từ năm 2005 đến năm 2011
40
Bảng 3.5. Danh sách các công ty trong khu công nghiệp, chế xuất huyện
Đông Anh
43
Bảng 3.6. Dân số và tỷ lệ đô thị hóa huyện Đông Anh
45
Bảng 3.7. Biến động sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005
47
Bảng 3.8. Biến động đất lâm nghiệp giai đoạn 2000- 2005
48
Bảng 3.9. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Đông Anh năm 2006
49
Bảng 3.10. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm từ năm 2008- 2011
51
Bảng 3.11. Biến động sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2006- 2011
53
Bảng 3.12. Cơ cấu sử dụng đất phần nông thôn đến năm 2020 huyện Đông
Anh
54
Bảng 3.13. Thành phần dinh dưỡng trong bùn cát sông Hồng và sông
56

Đuống
Bảng 3.14. Kết quả phân tích nước thải
63

GDP Tổng sản phẩm nội địa
KC Kim Chung
KCN Khu công nghiệp
KN Kim Nỗ
KTTĐPB Kinh tế trọng điểm phía Bắc
KTXH Kinh tế xã hội
NH Nam Hồng
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
QH&TKNN Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp
TD Tiên Dương
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
VN Vân Nội
1

LỜI MỞ ĐẦU
Sau khi mở rộng, diện tích đất nông nghiệp Hà Nội mới có khoảng 192 nghìn
ha (chiếm 54,7% diện tích tự nhiên), trong đó đất sản xuất nông nghiệp trên 160
nghìn ha. Diện tích đất này được quy hoạch đến năm 2020 nhằm:
Phát triển nông nghiệp sinh thái, ven đô hình thành các vùng sản xuất hàng
hóa quanh các đô thị, các vành đai rau an toàn, hoa, cây ăn quả sạch, phát triển rừng
và cây xanh phục vụ cho các đô thị, khu công nghiệp, đảm bảo môi trường sinh thái
của Thủ đô.
Từng bước ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, trước mặt tập
trung vào khâu chọn giống, công nghệ canh tác tiên tiến và các sản phẩm mũi nhọn,
xây dựng các trung tâm công nghệ cao.
Sản xuất nông nghiệp Hà Nội sẽ tập trung chủ yếu vào các sản phẩm có thế
mạnh của Thủ đô.
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Thành phố Hà Nội, bên cạnh những

hóa đến sự biến động đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”. 3

Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là quá trình chuyển
khu vực nông thôn từ nông nghiệp cổ truyền thành khu vực có nền kinh tế thị
trường phát triển với hệ thống phân công lao động đạt trình độ cao, dựa trên nền
tảng kỹ thuật- công nghệ hiện đại và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu trong khuôn
khổ quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa toàn bộ nền kinh tế. Đây cũng là quá
trình đô thị hóa, cải biến xã hội nông thôn lên trình độ văn minh cao hơn, bảo đảm
cho mọi người dân có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao.
Đô thị hóa là hiện tượng kinh tế- xã hội liên quan đến các dịch chuyển về
mặt kinh tế- xã hội, văn hóa, không gian, môi trường sâu sắc gắn liền với những
tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động, chuyển đổi nghề
nghiệp, hình thành các nghề nghiệp mới; thúc đẩy sự dịch cư vào trung tâm các đô
thị và thúc đẩy phát triển kinh tế làm thay đổi đời sồng xã hội và văn hóa, nâng cao
mức sống người dân và làm thay đổi cả lối sống và hình thức giao tiếp xã hội…
Nông nghiệp hóa đô thị là một ngành sản xuất, chế biến và buôn bán thực
phẩm, chất đốt (thể hiện tính cơ giới cao) dựa trên các vùng đất và mặt nước nằm
xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô. Theo cách hiểu truyền thống thì
“nông nghiệp đô thị” là nông nghiệp trong các vùng cận thành phố hoặc đang trong

mang đường xá, nhà cửa, các khu công nghiệp, thương mại du lịch, phát triển cơ sở
hạ tầng và tập trung dân cư nên các hệ sinh thái trong đô thị có thể bị phá hoại hoặc
được quản lý chặt chẽ. Nhiều sức ép về môi trường cũng làm thay đổi các yếu tố tự
nhiên của các hệ sinh thái đô thị. Thảm thực vật bị ô nhiễm ở mức độ cao, các sông
ngòi tự nhiên bị bồi lắng và lấp dần bởi rác và các chất ô nhiễm khác, bề mặt che
phủ bị bê tông hóa làm ngăn cản nguồn nước mưa bổ sung cho nước dưới đất…[1].
5

1.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến số lượng
đất nông nghiệp
Kinh nghiệm của các nước châu Á vốn lấy cây lúa nước là cây lương thực
chính cho thấy qua mấy chục năm tiến hành công nghiệp hóa, đô thị hóa thì tỷ lệ
mất đất canh tác từ 0,2- 2%/năm. Tỷ lệ mất đất canh tác trong thập niên 1980- 1990
của Trung Quốc là 0,5%/năm, Hàn Quốc 1,4%/năm, Đài Loan 2%/năm, Nhật Bản
1,6%/năm. Diện tích đất canh tác bị mất chủ yếu là đất lúa đã đe dọa an ninh lương
thực. Để tăng sản lượng, nhiều nước đã tăng năng suất bằng cách sử dụng phân bón
hóa học với liều lượng cao và kết quả là làm cho môi trường đất bị ô nhiễm.
Trung Quốc: trong những năm 1990, thời kỳ đầu của quá trình cải cách, mở
cửa, tốc độ đô thị hóa của Trung Quốc diễn ra rất nhanh chóng. Diện tích đất canh
tác ngày càng bị thu hẹp, ước tính diện tích đất canh tác bị mất hàng năm trên 1
triệu ha, trong khi dân số Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng. Để giải quyết vấn đề này
chính phủ Trung Quốc đã xây dựng các mô hình xí nghiệp hương trấn (tên gọi
chung của các xí nghiệp hoạt động ở nông thôn) hoạt động như các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh nhằm chuyển giao các thành tựu của công nghệ sinh học (lai tạo
giống lúa, cây trồng và vật nuôi), thủy lợi hóa, cơ giới hóa và hóa học hóa nông
nghiệp tại các vùng nông nghiệp ven đô để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh
tế cao phục vụ cho cư dân đô thị và xuất khẩu.
Nhật Bản: quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tại Nhật Bản diễn ra trong
thời gian trước khi trở thành một cường quốc về công nghiệp. Tài nguyên đất đai
của Nhật Bản hạn hẹp với diện tích đất canh tác nông nghiệp chưa đầy 14% diện

của Hàn Quốc xếp hạng 10 trên thế giới. Hàn Quốc cũng là một nước phát triển có
sự tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, với tốc độ tăng trương GDP bình quân là 5% mỗi
năm- một phân tích gần đây nhất bởi Goldman Sachs năm 2007 đã chỉ ra GDP bình
quân đầu người của đất nước này nhảy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỷ
lục 10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007.
7

Trong những năm 1970 đến 1980, kinh tế Hàn Quốc tập trung vào ngành
công nghiệp nặng và sản xuất ô tô. Với sự hỗ trợ của chính phủ, các cơ sở công
nghiệp hình thành nhanh chóng như POSCO, Hyundai Heavy Industries và
Samsung Heavy Industries, Hyundai Kia Automotive Group, đưa Hàn Quốc đứng
vào các nước có nền công nghiệp hóa, đô thị hóa phát triển trên thế giới.
Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của Hàn Quốc là 2,1 triệu ha (chiếm
17% diện tích bán đảo Triều Tiên), quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã làm
diện tích đất nông nghiệp của Hàn Quốc mất hàng năm khoảng 1,4%/năm (28,8
nghìn ha/năm) cho phát triển công nghiệp, du lịch và các hoạt động ngoài nông
nghiệp. Việc hình thành các khu công nghiệp, đô thị đã lấy đi những vùng đất mầu
mỡ của Hàn Quốc và gây xói mòn đất đai, ô nhiễm do rác thải sinh hoạt và sản xuất,
sức khỏe của con người bị đe dọa. Để sản xuất nông nghiệp trong điều kiện đất canh
tác vùng ven đô ít, giá công lao động cao, từ đầu những năm 1990 nông nghiệp Hàn
Quốc chuyển sang nông nghiệp công nghệ cao nhờ ứng dụng thành tựu của công
nghệ sinh học, hóa học và điện tử vào nông nghiệp.
Đài Loan: diện tích đất canh tác của Đài Loan rất nhỏ chỉ khoảng 851,5
nghìn ha và có tới 72% hộ nông dân có dưới 1 ha đất canh tác. Do ảnh hưởng của
quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, diện tích đất canh tác nông nghiệp hàng
năm bị mất khoảng 17,03 nghìn ha, trong đó hình thành 128 cụm điểm dân cư thành
thị với 5,97 nghìn ha. Do diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và dân số
lao động nông nghiệp ngày càng giảm nên nông nghiệp chủ yếu áp dụng ở quy mô
sản xuất nhỏ có tính chất gia đình với các biện pháp thâm canh và thực hiện cơ giới
hóa. Diện tích đất trồng lúa giảm để chuyển sang trồng rau, quả phục vụ cho nhu

Đất đai bị nhiễm mặn.
Rác thải, chất thải công nghiệp và đô thị ngấm vào đất.
Sử dụng các chất độc hại, tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật.
9

Đất đai bị xói mòn, sa mạc hóa và hoang mạc hóa.
Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã nảy sinh ra vấn đề ô nhiễm chất
thải ảnh hưởng đến môi trường đất. Trung quốc là nước có tốc độ công nghiệp hóa
và đô thị hóa cao nhất tại châu Á hiện tại, hàng năm lượng chất thải công nghiệp và
đô thị tạo ra rất lớn. Năm 1990, cứ tạo ra được 1 USD sản phẩm thì Trung Quốc
cũng tạo ra 2 kg chất thải công nghiệp (EASCAP,1995). Tuy nhiên, lượng rác thải
này giảm đi chút ít vào năm 1995 thế kỷ 20 và môi trường cũng giảm bớt đi sự ô
nhiễm (NEPA, 1993).
Nông nghiệp tại các nước châu Á- Thái Bình Dương là ngành sản xuất chủ
yếu từ hàng thế kỷ qua. Nhưng gần đây, đất đai dùng cho sản xuất nông nghiệp bị
thu hẹp, để tạo ra năng suất cao người lao động đã sử dụng phân hóa học, thuốc trừ
sâu, chất kích thích sinh trưởng với một số lượng lớn, nồng độ cao và do đó gây ô
nhiễm đất, xói mòn đất đai và gây hại cho con người.
Hình 1.1. Các nguyên nhân làm suy thoái đất tại châu Á- Thái Bình Dương (Nguồn: [1])
Thống kê của FADINAP năm 1993 cho thấy: Sản xuất nông nghiệp tại các
nước thuộc châu Á- Thái Bình Dương đã sử dụng một số lượng lớn phân bón hóa

3
), hoặc trong quá trình
vẫn chuyển băng cơ giới, chôn lấp rác thải. Sau một khoảng thời gian, các chất độc
lắng đọng và kết hợp với nước hoặc các chất có trong đất hình thành nên các axit có
nồng độ cao và gây độc cho cây trồng. Hơn nữa, lượng axit này sẽ phá hủy kết cấu
đất và giải phóng các kim loại nặng khác như nhôm (Al) và mangan (Mn), 2 hợp
chất này gây hại cho cây trồng và làm chua đất ở nồng độ cao. Theo ước tính, tại
Nga có khoảng 5 triệu ha đất canh tác có nồng độ axit cao (UNEP, 2000) và cũng có
khoảng 25% diện tích đất canh tác của Ba Lan có hàm lượng axit đất cao với pH <
11

4,5 (Korytkowsky và Wojewódzki, 1993). Một số nghiên cứu về tài nguyên đất và
bảo vệ tài nguyên đất của UNEP đối với châu Âu cho thấy hàng năm các nước
thuộc khu vực này mất khoảng 30 tỷ USD do đất bị lắng đọng axit.
1.3 Nghiên cứu trong nước
1.3.1 Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa phát triển công nghiệp và đô
thị đến phát triển công nghiệp và nông thôn
Ở Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa được thực hiện từ những năm 1960,
kể từ sau đổi mới, nền kinh tế càng phát triển thì quá trình công nghiệp hóa, đô thị
hóa diễn ra càng nhanh. Đến nay số dân cư đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư
toàn quốc với khoảng 700 trung tâm đô thị lớn nhỏ. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
đến hết tháng 7 năm 2007 cả nước đã có 150 khu công nghiệp được thành lập với
tổng diện tích đất tự nhiên 32,3 ngàn ha. Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu
đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình
công nghiệp hóa và có tác động rõ đến phát triển nông nghiệp và nông thôn như: tạo
ra thị trường tiêu thụ nông sản, thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp,
tạo cơ hội cho việc ứng dụng các thành tựu trong chọn tạo giống, kỹ thuật canh
tác, hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao để tạo ra khối lượng sản phẩm
hàng hóa đáng kể góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, góp phần
chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống, thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông

nông nghiệp, nông thôn ven đô thành phố Hà Nội, Lê Quốc Doanh cho rằng quá
trình đô thị hoá vừa tạo ra những ảnh hưởng tích cực cho nông nghiệp vừa có những
ảnh hưởng tiêu cực. Tích cực là vì nó tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm, thu hút
lao động dư thừa từ nông nghiệp Tiêu cực là gia tăng ô nhiễm, ngập úng, mất đất
nông nghiệp, không gian nông thôn bị phá vỡ. Lợi thế của nông nghiệp đô thị so với
những vùng nông nghiệp khác không chỉ là điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu mà
là khoảng cách với thị trường. Khai thác lợi thế này, nông nghiệp Hà Nội đang
hướng đến việc sản xuất các sản phẩm tươi sống và có khối lượng lớn. Nông nghiệp
đô thị Hà Nội đang phát triển hình thành các vành đai nông nghiệp khác nhau, được
13

phân biệt bởi các mức độ đa dạng, khả năng thâm canh, khả năng thích ứng với
những điều kiện mới của quá trình đô thị hoá ở mỗi vùng .
Theo Phạm Ngọc Đăng, việc mở rộng không gian đô thị và các khu công
nghiệp sẽ dẫn đến chiếm dụng đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến vấn đề an toàn
lương thực quốc gia nói chung và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân ngoại
thành nói riêng như: mất đất, mất kế sinh nhai, các ảnh hưởng này có tính lâu dài và
phức tạp. Đô thị hóa dẫn đến tài nguyên đất bị khai thác triệt để, tỷ lệ diện tích cây
xanh và mặt nước trong đô thị bị giảm, gây nên ngập úng cục bộ ở nội thành cũng
như ngoại thành. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng, phát sinh nhiều chất thải gây ô
nhiễm môi trường nước, đất, không khí và chất thải rắn ngày càng tăng thêm. Đô thị
hóa cũng làm tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thành thị làm tăng sức ép về
nhà ở và vệ sinh môi trường đô thị [4].
Tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, do ảnh hưởng của chính sách thu hút
đầu tư và mở cửa nền kinh tế, vấn đề đô thị hóa và công nghiệp hóa phát triển mạnh
mẽ từ những năm đầu thập kỷ 90, khi mà lần đầu tiên có sự đầu tư của nước ngoài
vào lĩnh vực công nghiệp với quy mô lớn tại TPHCM, đó là sự ra đời của khu chế
xuất Tân Thuận (1991) và khu chế xuất Linh Trung (1993), sau đó bắt đầu tăng tốc
khoảng năm 1996 với sự hình thành hàng loạt các KCN ở TPHCM và mở rộng ra
các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu. Đến năm 2000 vùng kinh tế

nhiễm đã ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng dân cư, tác động xấu đến cây trồng
vật nuôi, làm tăng sự tích lũy các kim loại nặng trong sản phẩm, ảnh hưởng đến sức
khỏe người tiêu dùng.
Các nghiên cứu của Phạm Bình Quyền, Nguyễn Xuân Thành và bộ môn Thổ
nhưỡng trường Đại học Khoa học Tự nhiên cũng cho thấy đất đai xung quanh các
khu công nghiệp Văn Điển, Hanel- Sài Đồng, hóa chất Đức Giang bị ô nhiễm kim
loại nặng vượt quá tiêu chuẩn cho phép do ảnh hưởng của các chất thải công
nghiệp, đô thị. Việc ô nhiễm môi trường đất gây ra do sử dụng thuốc bảo vệ thực
15

vật quá mức tại các vùng nông nghiệp thâm canh cao cũng đã trở thành vấn đề được
quan tâm [22].
Trong quá trình nghiên cứu biến động môi trường do thực hiện quy hoạch
phát triển kinh tế xã hội, các biện pháp kiểm soát bảo đảm phát triển bền vững vùng
ĐBSH, Phan Huy Chi cho rằng trong thời gian qua ở vùng ĐBSH ô nhiễm kim loại
nặng trong đất chỉ diễn ra cục bộ ở xung quanh các khu công nghiệp cũ, các làng
nghề tái chế kim loại, ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật xảy ra ở các vùng trồng rau
thâm canh cao ngoại thành Hà Nội. Dự báo đến năm 2010, ô nhiễm NO
3
chỉ xuất
hiện cục bộ ở vùng thâm canh, chuyên canh nông nghiệp, không đến mức đe dọa cả
vùng, ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật có xu hướng giảm, ô nhiễm kim loại nặng
phụ thuộc nhiều vào mức độ đầu tư đổi mới công nghệ, khắc phục ô nhiễm của các
cơ sở sản xuất
Mặc dù những nghiên cứu về ô nhiễm kim loại nặng và hóa chất bảo vệ thực
vật trong môi trường đất chưa thật đầy đủ và tiêu biểu đối với vùng ĐBSH nói
chung, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc nói riêng. Tuy nhiên, từ những nghiên cứu
trên cho thấy rõ ràng sự tồn tại, hoạt động và xả nước thải, chất thải có chứa kim
loại nặng từ các khu công nghiệp đã làm gia tăng đáng kể hàm lượng của các
nguyên tố này trong môi trường đất khu vực lân cận, ảnh hưởng đến sản xuất nông

ty hoa lan Lâm Thăng
Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, các mô hình nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao mới xuất hiện quy mô sản xuất còn chưa lớn, công nghệ ứng dụng thiếu
đồng bộ, nên hiệu quả chưa thật cao, cần tổng kết những mô hình đã có, tiếp tục
thử nghiệm và nhân ra sản xuất đại trà. Theo báo cáo ngày 21/11/2003, Bộ
NN&PTNT dự kiến xây dựng 19 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại
19 tỉnh thành phố với mục đích trình diễn làm thay đổi nhận thức của người dân và
là cơ sở để nhân rộng. Các mô hình sẽ được xây dựng gồm: lúa chất lượng cao ở An
Giang, Cần Thơ và Hải Dương; ngô ở Đồng Nai; rau, cà chua và hoa ở Hà Nội, Hải
Phòng, Lâm Đồng và TPHCM; lạc ở Nghệ An và Tây Ninh; dứa Cayen ở Ninh
17

Bình và Đồng Nai; mía ở Thanh Hóa và Bình Dương; cà phê ở ĐăkLăk; chè ở Sơn
La và Lâm Đồng; cao su ở Bình Thuận; điều ở Bình Phước; nông lâm nghiệp khép
kín ở Thái Nguyên và Gia Lai. Ngoài ra, thành phố Hà Nội đã phối hợp với Viện
Thổ nhưỡng Nông hoá nghiên cứu đưa vào sử dụng phế thải hữu cơ (chủ yếu là rác
thải thành phố) cho sản xuất nông nghiệp đô thị và thử nghiệm cho lúa, bắp cải, cam
Canh và thuốc lá để tăng hiệu quả sử dụng đất, đồng thời sử dụng nguồn rác thải
của thành phố góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Các kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước cho thấy quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa là xu hướng tất yếu trong phát triển kinh tế xã hội của mỗi
quốc gia. Bên cạnh những tác động tích cực do quá trình này mang lại, các nghiên
cứu cũng đã xác định được những tác động tiêu cực nảy sinh như: vấn giải quyết
việc làm cho những người dân bị mất đất sản xuất nói chung và đất sản xuất nông
nghiệp nói riêng, vấn đề suy thoái, xói mòn, ngập úng và ô nhiễm môi trường đất
xung quanh các khu công nghiệp, khu đô thị và các làng nghề, vấn đề sử dụng có
hiệu quả đất nông nghiệp ven các đô thị, đang là những vấn đề bức xúc cần phải
giải quyết.
1.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến sự biến
động đất nông nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc

cấp
phép
Diện
tích QH
(ha)
Diện
tích sử
dụng
(ha)
Diện
tích đã
cho thuê
(ha)
T
ỷ lệ
lấp
đầy
(%)
Công suất
CT xử lý
nước thải
(m
3
/ngày
đêm)
Bắc Ninh
3295

2263



50,9

10.000

3 Quế Võ II 2008 273

184

4 VSIP 2007 441

388

32

8,365 Thuận Thành II 2008 250

150

6 Yên Phong I 2006 351

Trích đoạn Tình hình phát triển đô thị Ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hóa đến diện tích đất nông nghiệp Xem xét môi trường đối với quy hoạch phát triển công nghiệp Giải pháp giáo dục môi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status