ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Thị Nga
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH QUẢN LÝ NGUỒN THẢI GÂY Ô
NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG NHUỆ
ĐOẠN CHẢY QUA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS: Nguyễn Mạnh Khải Hà Nội – 2012
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Đại học Khoa học Tự nhiên Cao học môi trường K18LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành tới nhà tài trợ QG-12-17, lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải
về sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ của
tôi.
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong bộ
môn qu
ản lý môi trường, thầy xô trong Khoa môi trường đã dạy dỗ, giúp đỡ tôi có
phương pháp nghiên cứu khoa học, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu
trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà
Nội.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo, các cán bộ của Chi cục Bảo vệ môi
trường, Trung tâm quan trắc và phân tích Tài nguyên môi trường Hà Nội đã tạo điều
kiệ
n giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân cùng những người
bạn đã giúp đỡ, khích lệ tinh thần, đóng góp nhiều ý kiến cũng như sẻ chia các
thông tin, tài liệu trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài.
2.3. Phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 19
2.3.2. Phương pháp điều tra và khảo sát thực tế 20
2.3.3. Phương pháp lấy mẫu và bảo quản 20
2.3.4. Phương pháp phân tích các thông số ô nhiễm 23
2.3.5. Phương pháp đánh giá chất lượng nước 24
2.3.6. Phương pháp có sự tham gia của cộng đồng 29
2.4.7. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 29
Chương 3-KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ………… 30
3.1. Thực trạng chất lượng nước sông Nhuệ 30
3.1.1. Đánh giá chất lượng nước mặt và diễn biến chất l
ượng nước theo mùa mưa
và mùa khô thông qua các chỉ tiêu riêng lẻ 30
3.1.2. Đánh giá chất lượng nước mặt theo chỉ số tổng hợp chất lượng nước WQI 44
3.2. Nguồn gây ô nhiễm môi trường nước lưu vực sông Nhuệ đoạn chảy qua địa
phận Hà Nội 48
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Đại học Khoa học Tự nhiên Cao học môi trường K183.2.1. Nước thải sinh hoạt 48
3.2.2. Nước thải công nghiệp 49
3.2.3. Nước thải làng nghề 49
3.2.4. Nước thải y tế 50
3.2.5. Chất thải rắn 50
3.3. Đề xuất mô hình quản lý nguồn thải vào sông Nhuệ 51
3.3.1. Kiểm soát chất lượng nước liên vùng nhằm đảm bảo chức năng của sông 51
3.3.2. Thiết lập hệ thống vận hành các cống - đập 53
3.3.3. Thiết lập qui trình vận hành điều tiết, giảm nhẹ ô nhiễm cho hệ thống 54
3.3.4. Tăng cường quá trình pha loãng nước sông 54
Bảng 2.3 Bảng quy định các giá trị q
i
, BP
i
26
Bảng 2.4 Bảng quy định các giá trị BP
i
và qi đối với DO
% bão hòa
27
Bảng 2.5 Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với thông số pH 28
Bảng 2.6 Đánh giá chất lượng nước theo WQI 28
Bảng 3.1 Chất lượng nước sông Nhuệ và chỉ số WQI năm 2011 44
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Đại học Khoa học Tự nhiên Cao học môi trường K18DANH MỤC HÌNH
Hình 3.16 Diễn biến nồng độ Fe theo mùa 39
Hình 3.17 Nồng độ Ni tại các điểm quan trắc 40
Hình 3.18 Diễn biến nồng độ Ni theo mùa 40
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Đại học Khoa học Tự nhiên Cao học môi trường K18Hình 3.19 Nồng độ Zn tại các điểm quan trắc 41
Hình 3.20 Diễn biến nồng độ Zn theo mùa 41
Hình 3.21 Nồng độ As tại các điểm quan trắc 42
Hình 3.22 Diễn biến nồng độ As theo mùa 42
Hình 3.23 Nồng độ C
6
H
5
OH tại các điểm quan trắc 43
Hình 3.24 Diễn biến nồng độ C
6
H
5
OH theo mùa 43
Hình 3.25 Chỉ số chất lượng nước WQI trên các vị trí quan trắc 47
Hình 3.26
Một điểm cống xả nước thải ra sông Nhuệ tại khu vực
Cầu Nòi (Cầu Diễn, Hà Nội)
49
Hình 3.27
Nước thải từ quy trình chế biến dong riềng được xả ra
các cống rãnh lộ thiên trong làng nghề Cát Quế, Dương
Liễu, Minh Khai rồi chảy ra kênh T2 với màu nước đen
TNMT Tài nguyên và Môi trường
UBND Ủy ban nhân dân
TW Trung ương
WQI Chỉ số chất lượng nước
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 1 Cao học môi trường K18MỞ ĐẦU
Tại Việt Nam, trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, nước mặt tại các thủy
vực nói chung và nước mặt trong các dòng sông có sự thay đổi lớn theo chiều
hướng suy giảm về chất lượng. Các sông lớn như Đồng Nai, sông Cầu, sông Đáy,
sông Nhuệ… đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi các hoạt động dân sinh và
suy giảm chức năng cung cấp nước cho hoạt động s
ản xuất, sinh hoạt. Sông Nhuệ là
sông cung cấp nước quan trọng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của nhiều địa
phương. Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc, cấp nước tưới cho
hệ thống thủy nông Đan Hoài. Bên cạnh đó sông Nhuệ còn có nhiệm vụ tiều nước
cho thành phố Hà Nội, thị xã Hà Đông và chuyển nước cho sông Đáy tại thành phố
Phủ Lý. Do đó, vi
ệc nghiên cứu, đánh giá chất lượng nước sông là cần thiết cho
công tác quản lý môi trường nước của sông Nhuệ [7].
Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế - xã hội trong lưu vực sông
Nhuệ diễn ra rất mạnh mẽ, đem lại nhiều lợi ích kinh tế góp phần nâng cao đời sống
cho người dân, giải quyết công ăn việc làm cho một số lượng lớn người lao động.
Tuy nhiên, ngoài những l
ợi ích mang lại thì tình trạng ô nhiễm môi trường nói
chung và môi trường nước nói riêng trong lưu vực ngày càng nghiêm trọng, dòng
chảy bị hạn chế gây ảnh hưởng đến sức khoẻ cho cộng đồng dân cư sống quanh
vùng. Nguyên nhân của tình trạng này là do: công tác quản lý Nhà nước trong thời
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 3 Cao học môi trường K18Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về tài nguyên nước
1.1.1. Tổng quan về tài nguyên nước trên thế giới
Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước
biển. Nguồn nước mặt thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại trong các
thủy vực ở trên mặt đất như: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy,
đồ
ng ruộng, và băng tuyết. Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan
trọng nhất, được sử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất. Tài nguyên nước là tài
nguyên có khả năng tái tạo, nằm trong chu trình tuần hoàn của nước, dưới các dạng
như: mây, mưa, trong ao hồ, sông suối, đầm, biển, đại dương, cơ thể sinh vật, các
vật chất, đất đai… Khoảng 97% tổng lượng nước trên hành tinh là nước mặn tồn tại
trong các biển và đại dương, chỉ còn 3% là nước ngọt, nhưng 75% tồn tại dưới dạng
băng, đá. Trong gần 0,8% lượng nước ngọt còn lại thì có đến 90% tồn tại trong đất
3
/năm, nếu kể cả lượng nước chảy từ các quốc gia lân cận vào đạt 889 tỷ
m
3
/năm, trữ lượng tiềm năng nước dưới đất là 48 tỷ m
3
/năm. Tuy nhiên, nhu cầu
nước của Việt Nam tăng mạnh từ 79,61 tỷ m
3
/năm vào năm 2000, có thể lên đến vài
trăm tỷ m
3
/năm vào những thập niên đầu của thế kỷ 21 và nguy cơ thiếu nước biểu
hiện ở nhiều vùng, kể cả châu thổ sông Hồng. Lượng mưa phân bố không đều theo
mùa và theo khu vực, lượng nước mặt dự trữ có tới hơn 2/3 bắt nguồn từ khu vực
ngoài biên giới lãnh thổ và lượng nước dưới đất có dấu hiệu cạn kiệt [1].
Sông ngòi Việt Nam được nuôi dưỡng bởi m
ột nguồn nước mưa dồi dào, là
hệ quả hoạt động của các khối không khí và hoàn lưu gió mùa. Mùa lũ là mùa nước
sông dâng cao ứng với mùa mưa, và tương ứng mùa cạn - mùa nước trong sông
tương đối ổn định ứng với mùa khô [12]. Việt Nam hầu như nằm ở cuối hạ lưu các
sông lớn như: sông Hồng, sông Mê Kông…Sông Mê Kông có 90% diện tích lưu
vực nằm ở nước ngoài và cũng 90% lượng nước sông Mê Kông chảy vào Vi
ệt Nam
từ nước ngoài; Sông Hồng có gần 50% diện tích lưu vực nằm ở Trung Quốc và 30%
lượng nước hàng năm bắt nguồn từ Trung Quốc. Do đó, khả năng có nước, đặc biệt
là mùa khô, khi các nước ở vùng thượng nguồn gia tăng sử dụng nguồn nước là điều
nằm ngoài kiểm soát của Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với việc khi các nước láng
giềng dùng nhiều n
ước thì lượng nước đổ vào nước ta sẽ giảm, ngoài ra còn kéo
đã thuộc số các quốc gia thiếu nước [1].
Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu: sự biến đổi khí hậu toàn cầu đã,
đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Theo đánh giá bước đầu vào
khoả
ng năm 2070 với kịch bản nhiệt độ không khí tăng lên 2,5
0
C đến 4,5
0
C, lượng
dòng chảy sông ngòi ở Việt Nam cũng sẽ biến đổi tùy theo mức độ của lượng mưa.
Nếu lượng mưa giảm 10% thì dòng chảy năm có thể giảm 17% đến 53% đối với
kịch bản nhiệt độ không khí tăng 2,5
0
C và giảm 26% -90% với kịch bản nhiệt độ
không khí tăng 4,5
0
C, mức độ biến đổi mạnh nhất ở Nam Trung Bộ và Đông Nam
Bộ. Trái đất nóng lên có thể làm cho nước biển dâng cao thêm 0,3m-1,0m và do đó
nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và
ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển. Nếu nước biển dâng 1m, diện
tích ngập lụt là 40.000 km
2
chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, 1.700 km
2
vùng
đất ngập nước cũng bị đe dọa và 17 triệu người sẽ chịu hậu quả của lũ lụt [6].
1.2. Tổng quan về tình hình ô nhiễm nước sông trên thế giới và Việt Nam
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 6 Cao học môi trường K18
tiên việc phát triển kinh tế, đặt vấn đề môi trường và phát triển bền vững xuống
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 7 Cao học môi trường K18hàng thứ yếu, sự hạn chế về năng lực và yếu kém đi cùng thiếu trách nhiệm trong
công tác quản lý tài nguyên và môi trường cũng đã góp phần làm gia tăng những
hiểm họa về suy thoái chất lượng nước, đặc biệt ở các thành phố lớn [4].
1.2.2.1. Môi trường nước sông tại vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) miền Bắc
Trong số con sông đã khảo sát (sông Đuống, sông Cà Lồ, sông Cấm, sông
L
ạch Tray, sông Bạch Đằng, sông Cầu) không có con sông nào đạt quy chuẩn nước
mặt loại A1 (nguồn cung cấp nước sinh hoạt), một số sông (sông Cầu, sông Ngũ
Huyện Khê, sông Cà Lồ) không đạt quy chuẩn nước mặt loại B1 (dùng cho mục
đích tưới tiêu thủy lợi) do có các thông số BOD
5
và COD vượt quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT [4].
1.2.2.2. Môi trường nước sông tại vùng KTTĐ miền Trung
Các con sông lớn trong vùng chảy qua các khu công nghiệp và đô thị có hàm
lượng các chất ô nhiễm tập trung cao ở phía hạ lưu: hàm lượng COD và BOD
5
đạt
QCVN 08:2008/BTNMT loại B1, phần lớn các kim loại nặng và các muối dinh
dưỡng đạt QCVN 08:2008/BTNMT loại B1 [4].
Nước thải tại các khu công nghiệp được quan trắc có hàm lượng chất rắn lơ
lửng, chất hữu cơ, Coliform, Nitơ tổng số vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP). Nước
thải tại các khu đô thị: độ đục, hàm lượng chất rắn lơ lửng, hàm lượng chất hữu cơ,
hàm lượng N-NH
giải pháp hữu hiệu khống chế nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải, giảm tải lượng
chất ô nhiễm đổ xuống sông Sài Gòn. Không cấp phép đầu tư cho các dự án thuộc
nhóm ngành có gây ô nhiễm cao như: Hóa chất, cao su, sản xuất bột giấy, chế biến
thực phẩm… trên khu vực thượng ngu
ồn. Giải pháp di dời trạm lấy nước cung cấp
cho sinh hoạt lên phía thượng nguồn cũng đang được bàn tới nếu tình trạng ô nhiễm
của sông Sài Gòn [4].
Lưu vực sông Đồng Nai và Thị Vải: là nơi tập trung của nhiều khu công
nghiệp, đặc biệt là các khu công nghiệp, các nhà máy đã hình thành khá lâu đời.
Tuy nhiên, mức độ tập trung các nhà máy gây ô nhiễm nghiêm trọng như sản xuất
phân bón, hóa chất… chủ yếu tập trung ở phía hạ
lưu và nhánh sông Thị Vải trong
đó đáng chú ý là khu công nghiệp Phú Mỹ 1 và Công ty cổ phần hữu hạn Vedan
Việt Nam là hai đơn vị xả thải các chất gây ô nhiễm môi trường cao nhất. Các thông
số ô nhiễm như hữu cơ, chất rắn lơ lửng, vi sinh… vượt quy chuẩn cho phép hàng
chục, thậm chí hàng trăm lần [4].
Ngoài ra, nước thải sinh hoạt phát sinh từ các đô thị, khu dân cư đang ảnh
hưởng nghiêm trọng đến chấ
t lượng nước tại các dòng sông nói riêng và các nguồn
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 9 Cao học môi trường K18nước nói chung tại các vùng KTTĐ. Hiện nay, tại các đô thị lớn như Thành phố Hồ
Chí Minh, Vũng Tàu, Biên Hòa và một số các khu đô thị đã bắt đầu tiến hành quy
hoạch và xây dựng các hệ thống xử lý nước thải cho khu dân cư. Tuy nhiên, một số
dự án đã triển khai nhưng tiến độ chậm và chưa đạt hiệu quả mong muốn [4].
1.3. Khái quát một số đặc điểm tự nhiên và kinh t
ế xã hội lưu vực sông Nhuệ
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
8 Ứng Hoà 18.370 15.841
9 Phú Xuyên 17.110 15.187
10 Thường Tín 12.770 12.040
11 Duy Tiên ( Hà Nam ) 13.500 12.303
12 Kim Bảng ( Hà Nam ) 18.490 7.047
13 Thành phố Phủ Lý (Hà Nam ) 3.420 3.420
Cộng 106.971 84.760
(Nguồn: Sở Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội) [12]
1.3.1.2. Đặc điểm địa hình
Lưu vực sông Nhuệ nằm hoàn toàn trên vùng đồng bằng thấp thuộc châu thổ
sông Hồng, không có đồi và núi. Địa hình có dạng lòng máng cao ở phần sông
Hồng, sông Đáy và thấp dần vào trục sông Nhuệ theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Độ cao của khu thượng nguồn sông Nhuệ ở Từ Liêm khoảng 5-7m, tại khu lân cận
quận Hà Đông cao 4-7m, khu Thường Tín cao 1,1-3,5m. Độ dốc c
ủa lòng sông
Nhuệ có cao độ mặt phổ biến từ +2,0 đến +6,0 m. Cao trình biến đổi từ +1,0 m đến
+ 9,0 m. Vùng ven sông Hồng và sông Đáy là đất cát lẫn phù sa mịn, hoặc đất cát
pha thịt, biến đổi dần sang đất thịt pha cát và tới khu vực lân cận sông Nhuệ là đất
thịt, đất thịt pha sét. Từ cao trình +2,5 m trở lên, đất thuộc loại trung tính, ít chua,
độ pH từ 5,5 - 6,0 chiếm khoảng 70% diện tích lưu vực. Phần đất trũng thấ
p hơn
+1,5m tập trung ở hạ lưu vực, đất bị chua, độ pH thấp hơn 5,5 một số nơi có hiện
tượng gây - sét hoá do bị ngập nước thường xuyên [12].
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 11 Cao học môi trường K18 1.3.1.3. Đặc điểm khí hậu, thủy văn
a. Đặc điểm khí hậu
Lưu vực sông Nhuệ có nền khí hậu mang đầy đủ những thuộc tính cơ bản của khí
0
C. Trong trường hợp cực
đoan, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 40
0
C, và nhiệt độ tối thấp có thể xuống tới dưới
9
0
C. Chế độ nhiệt của nước phụ thuộc vào chế độ nhiệt của không khí đã ảnh hưởng
đến các quá trình hóa lý xảy ra trong nước, nó ảnh hưởng đến đời sống các vi sinh
vật và vi khuẩn sống trong nước [12].
- Chế độ gió:
Mùa đông gió có hướng thịnh hành là Đông Bắc, tần suất đạt 60-70%. Một số nơi
do ảnh hưởng của địa hình, hướng gió đổi thành Tây Bắc và Bắc, tần su
ất đạt 25-
40%. Mùa hè các tháng 5, 6, 7 hướng gió ổn định, thịnh hành là Đông và Đông
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 12 Cao học môi trường K18Nam, tần suất đạt 60-70%. Tháng 8 hướng gió phân tán, hướng thịnh hành nhất
cũng chỉ đạt tần suất 20-25%. Các tháng chuyển tiếp hướng gió không ổn định [12].
- Chế độ mưa ẩm:
Do địa hình lưu vực sông Nhuệ đa dạng và phức tạp nên lượng mưa cũng biến đổi
không đều theo không gian. Phần hữu ngạn của lưu vực có mưa khá lớn (X>1800
mm), nhất là vùng đồi núi phía Tây (X>2000 mm). Trung tâm mưa lớn nhấ
t ở
thượng nguồn sông Tích thuộc núi Ba Vì (X = 2200-2400mm). Phần tả ngạn lưu
vực, lượng mưa tương đối nhỏ (X=1500-1800 mm), nhỏ nhất ở thượng nguồn sông
Đáy, sông Nhuệ (X = 1500 mm), và lại tăng dần ra phía biển (X = 1800 - 2000 mm)
[12].
Sông Đăm: dài trên 6 km, chảy qua khu vực Phúc Lý, Phúc Diền, Cổ Nhuế
và đổ vào sông Nhuệ ở cầu bắt qua sông tại thôn Hoàng - xã Cổ Nhuế.
Kênh n
ối từ nhánh sông Tô Lịch tại Hoàng Liệt chảy qua thôn Nhân Hoà,
Tả Thanh Oai đổ vào sông Nhuệ tại Siêu Quần (xã Đại Áng) kênh dài 5,5 km,
rộng 5-10 mét.
Kênh Hòa Bình: chảy từ xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, qua Tân Ước, Liên
Châu đổ vào sông Nhuệ ở xã Hồng Minh. Kênh dài trên 10km, chiều rộng từ 10 - 12 m.
Lưu vực sông Nhuệ có khá nhiều hồ. Các hồ lớn đều tập trung ở địa phận Hà
Nội như: hồ Thuỵ Phương (Từ Liêm), hồ ở xóm Chợ, xóm Đình (xã Đạ
i Mỗ, Từ
Liêm) hồ Mễ Trì, hồ Định Công, hồ Hoàng Liệt [12].
1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.3.2.1. Dân số
Theo kết quả Tổng điều tra Dân số năm 2011, dân số Hà Nội là 19.999.300
người, xếp thứ 2 về số dân sau thành phố Hồ Chí Minh. Tốc độ tăng dân số bình
quân mỗi năm là 2,11% (mức tăng này cao hơn mức tăng bình quân của cả nước
(1,2%), cao hơn hai lần m
ức tăng của vùng đồng bằng sông Hồng).
1.3.2.2. Đô thị hóa
Dân số Hà Nội sống ở khu vực thành thị có 2.632.087 người và ở khu vực
nông thôn là 3.816.750 người. Tỷ trọng dân số ở khu vực thành thị là 40,5%, nhiều
hơn 34,75% vào năm 1999 và bằng 10,37% dân số thành thị của cả nước. Trong
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên 14 Cao học môi trường K181.204.688 người tăng lên giữa hai cuộc Tổng điều tra thì 66,9% người ở khu vực
thành thị và 33,1% người ở khu vực nông thôn.
Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình đô thị hoá ở Việt
6
Làng nghề chế biến lương thực thực
phẩm thôn Tân Độ,
xã Hồng Minh Phú Xuyên
7
Làng nghề chế biến nông sản thực
phẩm Cát Quế,
xã Cát Quế Hoài Đức.
8
Làng nghề chế biến nông sản thực
phẩm Tân Hòa
xã Tân Hòa Quốc Oai
9
Làng nghề chế biến nông sản thực
phẩm xã Minh Khai
xã Minh Khai Hoàn Đức
10 Làng nghề chế biến NSTP Dương Liễu Dương Liễu Hoài Đức.
11
Làng nghề chế biến tinh bột thôn Cộng
Hòa
xã Cộng Hòa Quốc Oai
12 Làng nghề cơ khí Phùng Xá xã Phùng xá Thạch Thất
13
Làng nghề dệt khăn dệt vải dệt len thôn
Thanh thần
xã Thanh Cao Thanh Oai
14 Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc Phường Vạn Phúc Hà Đông
15 Làng nghề điêu khắc thôn Dư Dụ xã Thanh Thùy Thanh Oai
27 Làng nghề lược sừng Thụy Ứng xã Hòa Bình Thường Tín
28 Làng nghề luyện kim gò hàn Phú Thứ xã Phú Thứ Từ Liêm
29 Làng nghề mây tre đan thôn Nghĩa Hảo xã Phú Nghĩa Chương Mỹ
30 Làng nghề mây tre đan Văn La xã Văn Võ Chương Mỹ
31 Làng nghề mây tre đan Vạn Phúc xã Vạn Phúc Thanh Trì
32
Làng nghề mây tre giang đan thôn Phú
Hữu
xã Phú Nghĩa Chương Mỹ
33
Làng nghề mộc cao cấp thôn Vạn
Điểm,
xã Vạn Điểm Thường Tín
34 Làng nghề mỹ nghệ Sơn Đồng xã Sơn Đồng Hoài Đức
35 Làng nghề rèn thôn Đa sỹ xã Kiến Hưng Hà Đông.
36 Làng nghề sơn màu Hạ Thái xã Duyên Thái Thường Tín
37 Làng nghề thêu thuộc xã Thắng Lợi xã Thắng Lợi Thường tín
38 Làng nghề thêu ren thôn Đỗ Quan xã Quất Động Thường Tín
39 Làng nghề thêu ren thôn Quất Lâm xã Quất Động Thường tín
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Các hoạt động của làng nghề đã và đang làm suy thoái môi trường. Ô nhiễm
môi trường tại làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm vi một khu vực và
mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản
phẩm. Các chất thải phát sinh tại làng nghề đã và đang gây ô nhiễm và làm suy
thoái môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp tới sức khỏe người dân và ngày