UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH
PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài :
GIÚP HỌC SINH LỚP 7 SƯU TẦM VÀ LƯU GIỮ
CA DAO, TỤC NGỮ LƯU HÀNH Ở ĐỊA PHƯƠNG CỔ LOA
THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ
Giáo viên : Đỗ Thị Kim Hoà
Tổ : Xã hội
Đơn vị : Trường THCS Cổ Loa
Năm học 2003 - 2004
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
DÀN Ý
A. Đặt vấn đề:
I. Lý do chọn đề tài:
II. Cơ sở thực tiễn và lý luận:
1. Xuất phát từ mục tiêu của tiết học, mục đích của dạng bài "Chương
trình địa phương"
2. Dựa trên đặc điểm tâm sinh lý và hoàn cảnh học trò.
3. Căn cứ vào thực tế giảng dạy của giáo viên.
III. Phạm vi đề tài và đối tượng khảo sát:
B. Nội dung chính:
I. Nhận xét sơ bộ về thực trạng soạn bài của học sinh:
II. Những biện pháp cụ thể:
1. Giúp học sinh sưu tầm ca dao, tục ngữ lưu hành ở địa phương Cổ Loa.
a. Xác định nguồn sưu tầm:
- Sưu tầm từ người lớn tuổi, nghệ nhân, nhà văn, người già cả
đang sinh sống ở địa phương
- Sưu tầm từ các tạp chí văn học, sách báo của xã.
- Sưu tầm từ các tác phẩm văn học bị lãng quên.,
b. Giáo viên kiểm tra kết quả sưu tầm
8. Dấu xưa.
(Hội Nhà văn Cổ Loa - 1968)
9. Lịch sử Việt Nam - Tập I.
3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nhà thơ Xuân Diệu nói về ca dao "Trong những câu ca dao tự nghìn đời
tổ tiên để lại như có đất có nước, như có cát, có biển, như có mồ hôi
người ". Khi ta sống với cao dào thì một tên đất, tên làng, tên một thổ nghi
(đặc sản), một nét cảnh vật, một thoáng lịch sử, một điệu tâm hồn người đọc
gợi lên trong đó cũng làm động đến niềm yêu thương gắn bó với quê hương,
xứ sở, đồng bào. Cho nên khi ta sống với ca dao thì điều nó gợi lên trong lòng
ta nhiều khi lại đáng nói hơn bản thân điều nó diễn tả. Bởi vì ca dao, tục ngữ
chính là đời sống tâm tư tình cảm của nhân dân lao động các miền, các vùng,
các địa phương được đúc kết từ nghìn đời nay. Đặc biệt, những địa phương
như Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội) là một mảnh đất ngàn năm văn hiến có bề
dày lịch sử thì ắt hẳn vốn ca dao tục ngữ vô cùng phong phú. Nhiệm vụ của
thế hệ chúng ta, những người con sinh ra và lớn lên trên đất Loa Thành lịch
sử phải gìn giữ, trân trọng kho tàng văn hoá quý báu ấy. Bổn phận của người
giáo viên làm thế nào giúp học sinh sống với nó, quý tọng nó, hiểu nó và tìm
cách lưu giữ nó. Thế nhưng, đây là một công việc khó khăn, gian nan và lâu
dài. Bởi vì theo lời ông Chu Trinh (Trưởng Ban văn hoá xã Cổ Loa) thì những
sách báo viết về cao dao tục ngữ ở địa phương không có nhiều. Những câu ca
dao, dân ca, tục ngữ lưu hành trên địa phương, liên quan (nói về) địa phương
đa số chỉ được lưu truyền trong nhân dân bằng lối truyền miệng. Cổ Loa là
mảnh đất Thánh, các tích truyện, các nguồn gốc dấu ấn lịch sử hầu như mang
đậm sắc thái huyền thoại truyền thuyết, in dấu phong cách dân gian, ngay cả
ca dao tục ngữ cũng vậy, chỉ đơn thuần là truyền miệng. Vậy thì giáo viên và
lớp 7 quả là khó. Vì các em chưa có vốn sống phong phú, dụng cụ học tập
nghèo nàn, hoàn cảnh gia đình nhiều em còn khó khăn; không có tiền mua
sách báo tham khảo. Dụng cụ học tập của các em chủ yếu là sách giáo khoa.
Một số học sinh có điều kiện tốt lắm cũng chỉ thêm được vài cuốn sách: Bài tập
trắc nghiệm, Bài tập Ngữ văn, đa số học sinh chưa yêu thích môn văn học.
3. Thực tế giảng dạy của giáo viên (Thuận lợi, khó khăn)
Giáo viên chúng tôi ở vùng ngoại thành cũng gặp rất nhiều thuận lợi
trong công tác giảng dạy như được cấp trên đầu tư cho nhiều đồ dùng dạy
học, được giảng dạy tại một địa phương có bề dày về vốn văn học dân gian,
nằm giữa vùng văn hoá dân gian lâu đời. Song chúng tôi còn gặp nhiều khó
khăn về phương tiện dạy học. Trình độ sử dụng còn hạn chế, chất lượng băng
hình chưa tốt (không rõ tiếng, hình ảnh chưa nét ) Có những bài chúng tôi
cần băng hình nhưng đi tìm không có. Ví như băng hình lễ hội đền Cổ Loa,
Hội Gióng, Hội Chèm nhưng không sưu tầm được cho nên chúng tôi giải
quyết những khó khăn ấy bằng cách thay thế vào đó là những bức tranh, ảnh,
biểu bảng để dùng trong giờ dạy.
5
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
Từ những xuất phát điểm trên, tôi trăn trở và băn khoăn trước một vấn
đề: "Làm thế nào giúp học sinh lớp 7 sưu tầm và lưu giữ ca dao tục ngữ
lưu hành ở địa phương, nói về địa phương xã Cổ Loa" trong khi vốn sống
của các em còn non nớt, nghèo nàn, điều kiện dạy học của giáo viên còn khó
khăn.
Qua một năm thử nghiệm những biện pháp "Giúp học sinh lớp 7 sưu
tầm và lưu giữ ca dao, tục ngữ lưu hành ở địa phương Cổ Loa" đã có kết
quả, tôi mạo muội để xuất trong đề tài này một vài biện pháp hữu hiệu.
III. PHẠM VI ĐỀ TÀI VÀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT:
Đối tượng thử nghiệm của chúng tôi là học sinh lớp 7 vùng ngoại thành
các em được sinh ra và lớn lên trên đất Loa Thành lịch sử, có truyền thống
các tạp chí văn học, sách báo của xã (Ban văn hoá xã), từ những tác phẩm văn
học viết về địa phương.
1. Hướng dẫn học sinh sưu tầm ca dao, tục ngữ lưu hành ở địa phương.
a. Xác định nguồn sưu tầm cho học sinh:
Như trên tôi đã hướng dẫn học sinh tìm nguồn sưu tầm, những nguồn
sưu tầm ấy có tác dụng phụ trợ, bổ sung cho nhau thêm hoàn thiện hơn.
* Sưu tầm từ người lớn tuổi, nghệ nhân, nhà văn, người già cả đang sinh
sống ở địa phương.
7
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
Thế hệ những người này có sự am hiểu dày dạn về địa phương mình cư
trú. Họ hay tham gia các hoạt động cộng đồng, giao lưu văn hoá, có những
người đã giữ những chức vụ chủ chốt trong lĩnh vực văn hoá xã (Trưởng ban
văn hoá xã) Họ có vốn hiểu biết phong phú về cội nguồn ca dao, tục ngữ.
Tôi đã khuyến khích các em phải biết "tận dụng" trí tuệ của họ: hãy về địa
phương tìm cách hỏi người lớn trong xã mình và tôi mách cho các em một số
địa chỉ: Ông Chu Trinh (xóm Nhồi), ông Nguyễn Văn Viển (xóm Mít), ông
Lại Duy Lực (xóm Lan Trì), bà Nguyễn Thị Ngâm (xóm Mít) Đây là những
địa chỉ các em có thể tìm đến để học hỏi.
* Sưu tầm từ các Tạp chí văn học, sách báo của xã:
Xã Cổ Loa là một xã có truyền thống văn hoá, có nhiều di tích lịch sử,
cách mạng, văn hoá đã được Nhà nước xếp hạng. Nối nghiệp truyền thống
cha anh, nhân dân Cổ Loa cũng như các cán bộ xã Cổ Loa thời nay đã và
đang gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp ấy. Đảng uỷ, UBND xã, các
cấp lãnh đạo đã kết hợp với Bưu điện huyện Đông Anh đặt một trụ sở: Phòng
văn hoá xã chợ Sa - Cổ Loa. Nơi này Đảng uỷ đã lập phòng đọc để nhân dân
đến đây đọc sách báo, Tạp chí. Từ trẻ em đến người già đều có quyền đến
đây học hỏi, giao lưu văn hoá và cũng tại nơi đây có rất nhiều tư liệu quý giá
mà tôi và các em học sinh đang cần đến. Chỉ có điều từ xưa đến nay, các em
* Kiểm tra thường xuyên định kỳ.
Công việc sưu tầm được thực hiện trong 10 tuần đầu của học kỳ II.
Trong 10 tuần này, tôi yêu cầu học sinh cứ mỗi tuần cô sẽ kiểm tra 1 lần vào
ngày thứ 2 đầu tuần. Tổ nào sưu tầm chăm chỉ, tích cực hơn, sưu tầm được
nhiều hơn, cô sẽ thưởng. Các em rất hiếu thắng, ai cũng muốn tổ mình hơn
nên các em thi đua nhau rất quyết liệt. Và kết quả không ngờ, chỉ sau 5 tuần
các tổ đã đạt chỉ tiêu tối thiểu: 20 câu, có tổ các em còn sưu tầm được trên 20
câu (tổ 3 và 4).
* Xác minh, kiểm nghiệm tính đúng đắn, xác thực của nguồn tư liệu.
Để đảm bảo tính xác thực của những tư liệu, tôi tìm đến gặp gỡ và tiếp
cận với các nguồn sưu tầm. Theo báo cáo của học sinh, tôi tìm đến nhà ông
Chu Trinh, năm nay ông 78 tuổi, địa chỉ: Xóm Nhồi - xã Cổ Loa. Ông là
thương binh 1/4. Ông làm Trưởng ban văn hoá xã Cổ Loa từ năm 1953, suốt
30 năm giữ chức vụ này ông rất tâm huyết với sự nghiệp văn hoá xã nhà. Tôi
muốn kiểm nghiệm lại nguồn tư liệu và thấy rằng học sinh đã thu lượm học
hỏi được rất nhiều nguồn ca dao, tục ngữ quý giá nói về địa phương Cổ Loa
từ ông.
Như trên đã nói, tôi tìm thấy hai cuốn sách cũ kỹ xuất bản từ những năm
1968 có ghi chép những tư liệu rất quý. Trên trang đầu tập sách "Loa Thành
thánh tích" có in câu đối bằng phiên âm chữ Hán, nguyên văn như sau:
"Lạc quốc thuỷ kinh doanh ngũ thập niên, tiền thần chính tích.
Loa Thành vô kim cổ ức thiên tải hậu thánh phong thanh"
9
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
Tôi tìm đến ông Chu Trinh (một trong các tác giả của cuốn sách đó) nhờ
ông giảng nghĩa dùm. Đôi câu đối kia diễn Nôm như sau:
"Năm mươi năm chiến tích còn đây, khi khởi thuỷ sửa sang nước Lạc.
Ngàn vạn thuở tiếng tăm để lại, khắp xưa nay duy mỗi thành Loa"
Ý nghĩa của hai câu này muốn ca ngợi An Dương Vương và giá trị của
Thứ hai, tôi hướng dẫn học sinh sắp xếp biên tập lại thứ tự ABC các câu
ca dao, tục ngữ (dựa vào chữ cái đầu câu) theo từng chủ đề. Sau khi sàng lọc,
sắp xếp, các em được một văn bản sưu tầm:
VĂN BẢN SƯU TẦM
* Ca dao:
- Chủ đề: Ca dao về tình cảm con người (tình bạn, tình người, tình yêu
làng xóm, quê hương).
Câu 1:
Loa Thành khắp mọi miền quê
Một làng trăm họ tụ về sống chung.
Câu 2:
Thuần phong mĩ tục tâm đồng
Xứng danh con Lạc, cháu Hồng Cổ Loa
- Chủ đề 2: Ca dao về vị trí địa lý, thuần phong, mĩ tục, dấu ấn lịch sử,
văn hoá.
Câu 3:
Ai về thăm huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa thành Thục Vương
Cổ Loa thành ốc khác thường
Trải bao năm tháng nẻo đường còn đây
Câu 4:
Ai về thăm huyện Đông Ngàn
Ghé xem thành ốc Rùa Vàng tiên xây
Căm hờn giếng Ngọc tràn đầy
Máu pha thành luỹ ngàn cây bóng tà.
Câu 5:
Chết thì bỏ con bỏ cháu
11
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
12
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
Đống Giáo, Đống Bắn, Vườn Thuyền, Gồ Vôi
Câu 16:
Thành ốc bao bọc đế đô
Thục Vương dựng nước cơ đồ sáng tươi
Câu 17:
Viên Lôi, Thượng Ngõ, Cự Nê
Ngô Thị, Hậu Miếu, Quan Kê chung làng
Chạ Lan, Dũng Thượng, Đa Bang
Hương giai lập xóm sau làng cổ xưa
Câu 18:
Vườn Thuyền, Ao Mắm cổ xưa
Bán mua tấp nập, lụa tơ tràn đầy.
* Tục ngữ về vị trí địa lý, dấu ấn lịch sử, văn hoá:
Câu 19:
Quậy ủ Chủ tươi, Quậy cười Chủ khóc
Câu 20:
Thứ nhất lễ hội Cổ Loa
Thứ hai hội Gióng
Thứ ba hội Chèm
Vì khuôn khổ bài viết và thời gian có hạn, tôi chỉ xin trích lục 20 câu ca
dao, tục ngữ đang lưu hành ở địa phương Cổ Loa, một địa danh đã đi vào lịch
sử của nước nhà với nước dấu son chói lọi.
b. Tìm hiểu ý nghĩa, chọn bình giảng một số câu hay:
Ca dao, tục ngữ là kho tàng tri thức vốn sống của nhân dân Cổ Loa từ
xưa đến nay. Muốn cho học sinh gắn bó, quý trọng và lưu giữ ca dao, tục ngữ
thì trước hết, các em phải hiểu về nó, sống với nó. Bởi vậy trong tiết 133, tôi
dành 25 phút giúp học sinh sắp xếp các câu ca dao tục ngữ tìm được thành
câu:
Chết thì bỏ con bỏ cháu
Sống không bỏ hội mồng sáu tháng giêng
để nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như lòng biết ơn của nhân dân đối với An
DươngVương.
14
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
Sự việc An Dương Vương lên ngôi còn liên quan đến ý nghĩa của câu
tục ngũ "Quậy ủ Chủ tươi, Quậy cười Chủ khóc". An Dương Vương rời đô từ
Bạch Hạc (Phú Thọ) về vùng đất Kẻ Chủ (Cổ Loa- Đông Anh ngày nay) cao
ráo mà bằng phẳng, đất đai màu mỡ. Nhân dân vùng Kẻ Chủ tự nguyện
nhường đất để nhà vua xây thành, dựng kinh đô. Nhân dân rời về vùng Quậy
(thuộc xã Liên Hà - Đông Anh).
Bởi vậy, trong dân gian lưu truyền câu ca:
"Tổ tiên làng Quậy xưa Cổ Loa
Vua Thục dựng đô hiến quê nhà"
Vùng Quậy là đồng chiêm trũng, hễ mưa nhiều thì mất mùa, mưa ít được
mùa. Ngược lại, Kẻ Chủ là vùng đất cao ráo, hễ mưa nhiều thì được mùa, mà
mưa ít thì mất mùa(câu này nói về vị trí địa lý hai làng Quậy và Chạ Chủ (Kẻ
Chủ)). Nhưng dù thế nào, hai làng luôn kết tình anh em hoà hảo, no đói có
nhau:
"Mấy nghìn năm nghĩa tình nguyên vẹn
Thủ túc muôn đời Quậy, Cổ Loa"
Mục đích của việc dạy Văn góp phần hình thành nhân cách học sinh.
Nhà phê bình Hoài Thanh có nói: "Văn chương gây cho ta những tình cảm ta
không có, luyện những tình cảm ta sẵn có". Bất cứ dạy một giờ văn nào mục
tiêu của người giáo viên cũng nhằm giáo dục nhân cách, bồi đắp tư tưởng tình
cảm cho học sinh. Giờ "Chương trình địa phương", tôi càng coi trọng mục
tiêu này. Vì qua những hiểu biết về giá trị tinh thần của nhân dân ta, các em
Để cho việc lưu giữ có hiệu quả hơn, tôi còn yêu cầu học sinh ghi chép
vào sổ tư liệu. Đây là cuốn sổ mà chúng tôi yêu cầu học sinh phải chuẩn bị
ngay từ khi các em bước vào cấp II. Chúng tôi thống nhất trong tổ nhóm: phải
yêu cầu học sinh lập sổ tư liệu. Cuốn sổ này để ghi chép lời hay, ý đẹp, những
tư liệu quý giá. Đối với ca dao, tục ngữ lưu hành ở địa phương, tôi cho rằng
đây là những tư liệu quan trọng bổ ích, các em cần ghi chép tích luỹ. Từ đó
nâng cao dần cho học sinh khả năng tích luỹ, làm giàu vốn sống, phục vụ cho
việc viết văn.
d. Bổ sung vào Tập san Văn học của nhà trường.
Để nhân rộng đề tài và đề tài có hiệu quả hơn, tôi đã bổ sung tư liệu:
Đánh máy những câu ca dao, tục ngữ lưu hành ở địa phương đã tìm được bổ
sung vào Tập san Văn học của nhà trường. Đây là cuốn Tập san quý giá mà
tổ tôi dưới sự gợi ý của các cấp lãnh đạo đã hình thành được 3 năm nay.
Trong Tập san này có đăng những bài thơ hay, những câu chuyện hấp dẫn của
thầy trò đoạt giải các cấp huyện, thành phố như cô Bùi Thu Hà với bài
"Thương thời ấu thơ" giải nhất cuộc thi sáng tác thơ lục bát do Công đoàn
huyện Đông Anh tổ chức, cô Ngô Hương Lan (Cháu nội nhà văn Ngô Tất Tố)
16
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
giải nhì (cũng cuộc thi trên) Những câu ca dao, tục ngữ quý giá này cũng rất
đáng được nâng niu, gìn giữ. Cho nên tôi cho đánh máy, bổ sung vào cuốn Tập
san cho phong phú hơn. Vào thứ 7 hàng tuần, tôi cho nhóm phát thanh viên phát
trên loa đài của trường dưới hình thức Chuyên san: Giáo dục truyền thống địa
phương.
e. Tổ chức các hoạt động Ngoại khoá xoay quanh chủ điểm "Sưu tầm và
lưu giữ ca dao, tục ngữ lưu hành ở địa phương"
* Tổ chức các trò chơi phù hợp lứa tuổi.
Hoạt động này trước tiên tôi tiến hành thử nghiệm ở lớp tôi dạy. Vì đối
tượng học sinh chỉ trong phạm vi 1 lớp: 38 em mà thời gian 1 tiết học hạn
chọn 5 em đi du lịch Cổ Loa bằng cách đọc các câu ca dao, tục ngữ nói về địa
danh Cổ Loa. Lần lượt từ trái sang phải ai đọc nhiều nhất (người đó về sau
cùng) sẽ thắng và được động viên bằng một phần thưởng của Ban tổ chức.
Bằng một số biện pháp trên, tôi đã giúp học sinh lưu giữ, trân trọng và
hiểu về ca dao, tục ngữ nói về địa phương Cổ Loa.
g. Kết hợp với chính quyền đoàn thể thôn xóm làng xã cùng giữ gìn, trân trọng.
Kho tàng ca dao, tục ngữ về địa phương Cổ Loa là một vốn văn hoá vô
cùng quý báu của nhân dân ta. Nhưng hiện nay kho tàng ấy bị thất tán, tản
mạn rất nhiều. Những tư liệu mà tôi và học sinh sưu tầm được đa số từ ngôn
ngữ truyền miệng của những người già cả, có tuổi trong xã như ông Chu
Trinh (78 tuổi), ông Nguyễn Văn Viển (76 tuổi), bà Nguyễn Thị Ngâm (74
tuổi). Chúng tôi tìm được rất ít trong sách báo của xã những câu mang đậm
tính ca dao, dân ca, tục ngữ. Nếu thế hệ cao tuổi không còn nữa, chúng ta sẽ
mất đi những nguồn văn hoá quý giá. Vậy trách nhiệm của thế hệ chúng ta
phải trân trọng lưu giữ nó.
Tôi đã tham mưu với Phòng văn hóa - thông tin xã in ấn đầu sách có tên
"Ca dao, tục ngữ Cổ Loa". Và chúng ta phải nghiêm túc huy động trí tuệ tối
đa của nhân dân để tập hợp tư liệu.
Bên cạnh đó, tôi cũng đề nghị đoàn thể trong xã như Chi đoàn, Hội
người cao tuổi dấy lên những cuộc thi: Sưu tầm ca dao tục ngữ nói về địa
phương, ngâm vịnh về ca dao tục ngữ ở địa phương Từ đó có tác dụng khơi
dậy truyền thống ngàn năm văn hiến của đất đế đô.
III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN:
Qua gần một năm thực hiện những biện pháp trên, tôi có so sánh đối
chiếu hai lớp dạy, tôi thấy kết quả như sau:
1. Lớp 7C:
Thực hiện tuần tự như SGK, giáo viên chưa đầu tư thoả đáng về công
đoạn hướng dẫn, cách thức tiến hành
18
19
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
Thục, Ngô, Phật Tử chống bạo cường"
(Chu Trinh)
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
- Từ kết quả trên và các kết quả của những giờ giảng văn trước đó, tôi
rút ra một số kinh nghiệm: Muốn thành công phải đầu tư thời gian cho bài
dạy, thiết lập những cách thức tiến hành cho từng dạng bài. Và đặc biệt chú
trọng sử dụng những phương tiện dạy học: Tư liệu gốc, biểu bảng
- Đối với những tiết Ngoại khoá, người giáo viên nên linh hoạt tổ chức
nhiều hình thức phong phú, sinh động hấp dẫn học sinh.
- Giáo viên cần có quá trình tích luỹ thường xuyên. Trước khi dạy bài
này, tôi đã phải trăn trở và băn khoan nhiều: lục tìm tư liệu, gặp gỡ nhiều
người cao tuổi trong xã để nhặt nhạnh, tích cóp có được kiến thức tối thiểu
về ca dao, tục ngữ ở địa phương.
- Về phía học sinh, người giáo viên cần có biện pháp để khích lệ (động
viên khen thưởng) học sinh chủ động lĩnh hội và giải quyết tình huống có vấn
đề. Giáo viên chỉ là người kiểm tra, sửa chữa, bổ sung những chỗ thiếu sót ở
học sinh.
- Giáo viên cũng nên hướng dẫn học sinh có những cuốn Sổ tư liệu để
tích luỹ vốn sống, tự làm giàu trí tuệ của mình. Đối với những học sinh khá
giỏi đây là việc làm thích thú và thiết thực. Còn đối với học sinh trung bình
trở xuống, giáo viên thường xuyên có biện pháp kiểm tra công việc ghi chép,
tích luỹ, hàng tháng có nhận xét, đánh giá, xếp loại Sổ tư liệu.
Tôi thiết nghĩ không chỉ môn Văn mà đối với các môn khác học sinh
cũng nên có sự tích luỹ.
20
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
tiếng thì thành Cổ Loa vừa xây hôm trước lại bị đổ.
Câu 8:
- Diệu Sơn (Núi Thất Diệu).
Câu 9:
- Đống Chuông: Xóm Bãi trông sang, Đống chuông ở phía Tây.
- Đồng Bãi: Xóm Bãi trông sang, Đồng bãi ở phía Tây.
- Đồng Chầm: Bên tay phải đường Quốc lộ 3 (địa phận từ Lộc Hà - Mai
Lâm) đến Đống Lủi.
Ba địa danh này ngợi ca những cánh đồng màu mỡ phì nhiêu của Chạ
Chủ khi xưa.
Câu 12:
- Mị Châu: Con gái của An Dương Vương, nhân dân cảm thông với mối
tình oan trái, tôn xưng bà là Bà Chúa. Để tưởng nhớ bà, nhân
dân Kẻ Chủ có tục lệ cứ đến ngày 13/8 hàng năm (ngày mà
Triệu Đà cho người sang dạm hỏi Mị Châu) cả làng ăn sêu bà
chúa: cả làng làm bún cúng lễ để ăn.
22
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đỗ Thị Kim Hoà
Câu 15:
- Đống giáo, đống bắn: Nơi tập luyện cung nỏ của quân đội Âu Lạc xưa.
- Vườn Thuyền: Nơi buôn bán sầm uất của kinh đô Âu Lạc.
Câu 17:
- Viên Lôi: Tên gọi của xóm Nhồi trước đây. Xưa kia nhân dân ta
thường gọi: Viên Lôi hạ (bây giờ là Nhồi Dưới); Viên Lôi
thượng (bây giờ là Nhồi Trên).
- Thượng Ngõ: Xóm Thượng
- Cự Nê: Tên gọi cũ của xóm Mít.
- Ngô Thị: Tên gọi cũ của xóm Chợ.
- Hậu Miếu: Tên gọi cũ của xóm Chùa.