BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
LÊ TRÍ KHẢI THANH TOÁN CHI PHÍ KHÁM CHỮA BỆNH
BẢO HIỂM Y TẾ THEO ĐỊNH SUẤT TẠI MỘT
SỐ TRẠM Y TẾ XÃ THUỘC HUYỆN ĐĂK TÔ
TỈNH KON TUM
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 62.72.03.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI - 2014
Công trình được hoàn thành tại
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học:
chung đối với DVYT nói chung cũng như đối với dịch vụ
khám chữa bệnh (KCB) bảo hiểm y tế (BHYT) nói riêng. Với
PTTT này, việc kiểm soát chi phí là vô cùng khó khăn do bản
chất của PTTT theo dịch vụ là khuyến khích cơ sở cung ứng
càng nhiều dịch vụ càng có lợi.
Luật BHYT quy định 3 phương thức cơ bản thanh toán chi
phí KCB BHYT là theo định suất, theo dịch vụ và theo trường
hợp bệnh. Liên Bộ Y tế - Tài chính xác định lộ trình áp dụng
thanh toán theo định suất là đến năm 2015 tất cả cơ sở y tế
đăng ký KCB ban đầu tại địa phương thực hiện PTTT theo
định suất. Trạm y tế (TYT) xã là một trong những cơ sở y tế
đăng ký KCB ban đầu chính ở địa phương. Trên thế giới, PTTT
chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) tiên tiến nhất và ưu việt
nhất hiện nay là PTTT theo định suất, bởi vì nó hướng hoạt
động chăm sóc sức khỏe cho người dân tới các hoạt động y tế
dự phòng (YTDP), nâng cao sức khỏe và quản lý các bệnh mạn
tính tại cộng đồng. PTTT theo định suất hiện đang áp dụng tại
Việt Nam còn nhiều điểm bất cập về cả thiết kế cũng như triển
khai thực hiện và tác động.
2
Nhằm cung cấp bằng chứng khoa học cập nhật phục vụ cho
việc xây dựng và hoàn thiện PTTT chi phí KCB BHYT theo
định suất tại trạm y tế xã để có thể áp dụng ở phạm vi lớn hơn,
chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thanh toán chi phí
khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo định suất tại một số trạm
y tế xã thuộc huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum” với mục tiêu: (1)
Mô tả thực trạng thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm
y tế theo phương thức dịch vụ tại một số trạm y tế xã thuộc tỉnh
Kon Tum năm 2011-2012; (2) Đánh giá hiệu quả đối với một
số chỉ số khám chữa bệnh, kê đơn thuốc hợp lý và việc kiểm
TỔNG QUAN
1.1. Các PTTT chi phí DVYT trên thế giới
1.1.1. PTTT CSSKBĐ
(Primary Health Care Payment Methods)
Có ba PTTT chính dành cho CSSKBĐ: Thanh toán theo
mục lục ngân sách (Line-item budget), thanh toán theo dịch vụ
(Fee-for-service) và thanh toán theo định suất (Capitation).
1.1.2. PTTT bệnh viện
(Hospital Payment Methods)
Có năm PTTT bệnh viện chính. Hai phương thức đã được
trình bày ở trên (theo mục lục ngân sách và theo dịch vụ) có
thể được áp dụng cho các dịch vụ điều trị nội trú. Ba phương
thức khác là theo ngày điều trị (per diem), theo trường hợp
bệnh (case-based) và tổng ngân sách (global budget).
1.2. Thực trạng áp dụng các PTTT ở Việt Nam
PTTT chi phí DVYT ở nước ta đã trải qua một thời gian dài
áp dụng phân bổ kinh phí theo mục lục ngân sách (giường bệnh
cho khu vực điều trị và số biên chế cho khu vực YTDP). Từ
4
khi có chính sách thu một phần viện phí năm 1989, thanh toán
theo dịch vụ là phương thức kết hợp, được áp dụng song song
với phần phân bổ kinh phí theo mục lục ngân sách nhà nước và
dần trở thành PTTT chính trong mạng lưới KCB. Thanh toán
theo định suất mới được áp dụng thí điểm từ năm 2005, với
quy mô ngày càng lớn về số địa phương và số cơ sở cung ứng
dịch vụ. Thanh toán theo trường hợp bệnh mới chỉ áp dụng thí
điểm cho một số nhóm bệnh và hiện đang trong giai đoạn
chuẩn bị cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc phát triển và áp dụng
ở phạm vi lớn hơn. Thanh toán dựa trên kết quả hoạt động cũng
các Trung tâm Y tế (TTYT) huyện bao gồm cả chi phí KCB
ngoại trú tuyến trên. Một nghiên cứu mới gần đây tại Thái Lan
đã chứng minh được nguồn tài chính có sự dịch chuyển từ
tuyến tỉnh về tuyến huyện và đã mang lại nhiều lợi ích cho
người nghèo đang sinh sống tại Thái Lan. Trong quá trình thực
hiện thanh toán theo định suất, việc theo dõi giám sát, nhất là
các chỉ số về sử dụng và chất lượng dịch vụ KCB được đặc biệt
chú trọng. Nhờ hệ thống thông tin khá tốt nên việc theo dõi các
chỉ số về sử dụng, chi phí và chất lượng dịch vụ được cập nhật
đầy đủ và thường xuyên. Kết quả theo dõi và đánh giá cho
thấy, việc thanh toán theo định suất làm tăng sử dụng thuốc
theo tên gốc, việc chẩn đoán và điều trị phù hợp hơn, do đó làm
giảm chi phí điều trị và tăng hiệu suất cung ứng DVYT.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
6
2.1.1. Huyện, xã can thiệp: Huyện Đăk Tô được chọn có chủ
đích để triển khai thí điểm. Tiêu chí lựa chọn xã thí điểm can
thiệp là: (i) Tỷ lệ tham gia BHYT và đăng ký KCB ban đầu tại
TYT xã đạt từ 70% dân số trở lên; (ii) Là xã có bác sĩ và có sự
cam kết triển khai thực hiện thí điểm của các thành viên TYT;
(iii) TYT xã có máy vi tính và các cán bộ sử dụng tốt máy vi
tính để triển khai phần mềm thanh toán chi phí KCB BHYT; và
(iv) Khoảng cách từ xã đến bệnh viện huyện không quá gần
(≥10 Km) để hạn chế tình trạng vượt tuyến trong KCB. Đối
chiếu với tiêu chí trên, chúng tôi chọn được 3 xã (Ngọc Tụ,
Đăk Rơ Nga và Đăk Trăm) để triển khai can thiệp.
2.1.2. Huyện, xã đối chứng: Các tiêu chí chọn huyện, xã đối
Mục tiêu 2:
- Nghiên cứu mô tả: Hiệu quả được đo lường bằng chỉ
số KCB được cải thiện, tỷ lệ gia tăng các chỉ số KCB ít
hơn và chi phí KCB BHYT được kiểm soát ở thời điểm
sau can thiệp so với trước can thiệp và nhóm chứng.
Định
lượng
- Nghiên cứu kê đơn thuốc hợp lý: Hiệu quả được đo
lường bằng số đầu thuốc sử dụng BQ/đơn ít hơn; tỷ lệ
đơn thuốc sử dụng kháng sinh (KS) trong nước, tỷ lệ
đơn thuốc KS kê theo tên gốc, tỷ lệ đơn thuốc có số
ngày dùng KS từ 5 ngày trở lên và tỷ lệ đơn thuốc có
thuốc KS kê phù hợp với chẩn đoán cao hơn ở thời điểm
sau can thiệp so với trước can thiệp và nhóm chứng.
Định
lượng
- Nghiên cứu sự hài lòng của người bệnh: Hiệu quả được
đo lường bằng tỷ lệ người bệnh hài lòng với dịch vụ
KCB tại TYT xã cao hơn ở thời điểm sau can thiệp so
với nhóm chứng.
Định
lượng
- Nghiên cứu định tính về hiệu quả can thiệp của mô
hình thí điểm: Hiệu quả được đo lường bằng những ý
kiến nhận xét, đánh giá của những người được phỏng
vấn về chất lượng dịch vụ KCB được nâng lên, tỷ lệ
chuyển tuyến giảm, tần suất KCB vượt chỉ tiêu mong
(DVKT) BQ/lượt khám (hiện tại có giá trị mặc định bằng 0, sẽ
xác định cụ thể sau); S là tiền công khám; V1 là vật tư y tế tiêu
hao (VTYTTH).
* Quỹ ĐS cho mỗi TYT: Quỹ ĐS = (NxC)+(NxQuỹ ĐT-KT)
Trong đó: Quỹ ĐS là Quỹ định suất; N là số thẻ BHYT đăng
ký KCB ban đầu tại cơ sở y tế; C là suất phí trên đầu thẻ; Quỹ
ĐT-KT là Quỹ điều tiết - khen thưởng = 10% của C.
2.5. Đối tượng nghiên cứu: Các dịch vụ KCB BHYT tại 6
TYT xã nghiên cứu; đơn thuốc điều trị ngoại trú có KS năm
2011 và năm 2012 của 6 TYT xã nghiên cứu; người dân tham
gia BHYT từ 18 tuổi trở lên được KCB tại 6 TYT xã nghiên
cứu trong năm 2012; đại diện một số cán bộ có liên quan đến
9
việc triển khai thực hiện mô hình thí điểm ở tuyến tỉnh, huyện,
xã; chi phí tài chính đối với hàng hoá và các dịch vụ mua vào
tại 6 TYT xã nghiên cứu trong năm 2012.
2.6. Cỡ mẫu
2.6.1. Nghiên cứu mô tả: Các chỉ số KCB và chi phí KCB
BHYT năm 2011 và năm 2012 của người tham gia BHYT tại 6
TYT xã và 2 TTYT huyện nghiên cứu.
2.6.2. Nghiên cứu kê đơn thuốc hợp lý
- Áp dụng công thức tính cỡ mẫu so sánh hai tỷ lệ, ta có:
- Trong đó: n là cỡ mẫu tối thiểu; Z
(1-α/2)
: Với khoảng tin cậy
95%, kiểm định 2 phía, Z
(1-α/2)
= 1,96;
p
(1-α/2)
= 1,96;
p
= (p1+p2)/2; 1-β là
lực mẫu, trong trường hợp này ta lấy 1-β = 85%; p1: Tỷ lệ
10
người được phỏng vấn hài lòng với dịch vụ KCB tại các TYT
xã can thiệp ở thời điểm sau can thiệp, ước tính p1 = 85%; p2:
Tỷ lệ người được phỏng vấn hài lòng với dịch vụ KCB tại các
TYT xã đối chứng ở thời điểm sau can thiệp, ước tính p2=70%.
- Thay số vào công thức ta có n = 138, nhân với hệ số thiết kế
bằng 2 cỡ mẫu sẽ là 276 người cần được phỏng vấn ở mỗi
nhóm. Như vậy, mỗi xã sẽ phỏng vấn 92 người được KCB tại
TYT xã trong năm 2012. Trên thực tế đã phỏng vấn được 636
người (Ngọc Tụ: 107, Đăk Rơ Nga: 106, Đăk Trăm: 104, Đăk
Tre: 108, Đăk Pne: 106 và Đăk Kôi: 105 người).
2.6.4. Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu (PVS): 7 cuộc;
thảo luận nhóm (TLN): 5 cuộc.
2.6.5. Nghiên cứu chi phí đầy đủ của dịch vụ KCB tại TYT:
Chi phí đầy đủ của dịch vụ KCB 2012 tại 6 TYT nghiên cứu.
2.7. Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu cụm có chủ đích theo
ba giai đoạn: Giai đoạn 1 chọn huyện can thiệp và huyện đối
chứng, giai đoạn 2 chọn 3 xã can thiệp và 3 xã đối chứng, giai
đoạn 3 chọn đơn vị mẫu.
2.8. Biến số, chỉ số và nội dung nghiên cứu: Dựa theo mục
tiêu nghiên cứu và các tiểu nghiên cứu để đưa ra các biến số,
chỉ số và nội dung nghiên cứu chính.
2.9. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu
- Đối với nghiên cứu mô tả và nghiên cứu chi phí đầy đủ của
dịch vụ KCB tại TYT xã, số liệu sau khi thu thập được làm
Y
=
n
2
Trong đó:
Y
là chi phí BQ/thẻ/năm; y
i
là số tiền chi cho lượt KCB thứ i (i=1, 2 ); n
2
là số thẻ
đăng ký KCB ban đầu tại TYT trong năm.
+ Công thức tính tỷ lệ gia tăng năm 2012 so với năm 2011:
(Chỉ số
2012
- Chỉ số
2011
) x 100
Tỷ lệ gia tăng (%) =
Chỉ số
2011
- Sử dụng phần mềm Stata 10.0 để kiểm định sự khác biệt giữa
các giá trị của hai năm 2011 và 2012 bằng các trắc nghiệm
thống kê: Wilcoxon signed-rank test đối với số liệu định lượng
phân bố không chuẩn; Z test đối với 2 tỷ lệ; khi bình phương
(2) hoặc fisher’s exact test cho biến định tính của trên 1
nhóm; Mann-Whitney test cho biến định lượng của 2 nhóm độc
lập. Mức ý nghĩa thống kê p<0,05 được áp dụng.
năm
1,0 1,2 25,9 0,3173
Tỷ lệ % chuyển tuyến 5,6 4,9 -13,3 0,0152 Z test
Số lượt người bệnh
được KCB tại TTYT
huyện
891 909 2,0 -
+ Có GGT 475 527 10,9 -
Tỷ lệ % 53,3 58,0 8,8 0,0224 Z test
+ Không có GGT 416 382 -8,2 -
Tỷ lệ % 46,7 42,0 -10,0 0,0224 Z test
Bảng 3.1 cho thấy, so với năm 2011, năm 2012 tỷ lệ
chuyển tuyến giảm 13,3%, tỷ lệ người bệnh được KCB tại
TTYT huyện có giấy giới thiệu tăng 8,8% và các sự khác biệt
này đều có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
13
Bảng 3.2: Chi phí KCB BHYT tại 3 TYT huyện Kon Rẫy
Đơn vị: 1000 VNĐ
Nội dung 2011 2012
Gia tăng
(%)
p
Trắc nghiệm
thống kê
Tổng chi phí
KCB BHYT
680.714
871.511
Bảng 3.2 cho thấy tổng chi phí KCB BHYT tại 3 TYT năm
2012 tăng 28,0% so với năm 2011, trong đó tiền công khám
tăng 19,9%, tiền thuốc tăng 26,2%, tiền DVKT tăng 24,9% và
tăng nhiều nhất là tiền VTYTTH (2.575,7%). Tỷ lệ tiền công
khám, tiền thuốc, tiền DVKT năm 2012 giảm so với năm 2011,
trong đó tỷ lệ tiền thuốc giảm có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Tỷ lệ tiền VTYTTH năm 2012 tăng nhiều so với năm 2011 và
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
3.2. Hiệu quả của PTTT chi phí KCB BHYT theo định suất
tại một số TYT xã thuộc huyện Đăk Tô
3.2.1. Kê đơn thuốc hợp lý
14
Bảng 3.9: So sánh tỷ lệ gia tăng 2012 so với 2011
của một số chỉ số về kê đơn thuốc giữa các TYT 2 huyện
Nội dung
Huyện Đăk
Tô (%)
Huyện Kon
Rẫy (%)
p
(Z test)
Nguồn gốc thuốc KS
- Trong nước 0 7,3 <0,0001
Tên thuốc KS
- Tên gốc 120,5 4,0 <0,0001
- Tên gốc+Biệt dựợc -33,3 200,0 <0,0001
Số ngày dùng thuốc KS
Bảng 3.17: Mô hình hồi quy logistic đa biến
Biến phụ thuộc:
Sự hài lòng của người bệnh
Đặc điểm
OR 95%CI
Huyện
- Đối chứng (nhóm so sánh) 1 -
- Can thiệp 2,3* 1,1 - 4,7
Thời gian chờ đợi
- Dưới 15 phút 75,5* 13,8 - 412,5
- 15 - <30 phút 51,1* 7,0 - 371,8
- Từ 30 phút trở lên (nhóm so sánh) 1 -
Người khám bệnh
- Bác sĩ/Y sĩ 6,7* 2,8 - 15,6
- Y tá, Điều dưỡng, Hộ sinh 2,5* 1,2 - 5,5
- Không biết (nhóm so sánh) 1 -
Cấp thuốc theo đơn- Đúng, đủ như trong đơn 44,9* 20,1 - 100,0
- Không biết (nhóm so sánh) 1 -
Ghi chú *: Có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.17 cho thấy, sau khi khống chế các yếu tố nhiễu
(các biến độc lập có trong mô hình là như nhau), người bệnh
thuộc huyện can thiệp có xác suất hài lòng với dịch vụ KCB
cao gấp 2,3 lần so với những người bệnh thuộc huyện đối
chứng và sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê (OR = 2,3;
3.2.4. Chi phí KCB BHYT
Bảng 3.23: So sánh tỷ lệ gia tăng năm 2012 so với năm 2011
của chi phí KCB BHYT giữa các TYT xã 2 huyện
Nội dung
Huyện Đăk
Tô (%)
Huyện Kon
Rẫy (%)
p
(Z test)
Tổng chi phí KCB BHYT -1,6 28,0 <0,0001
Tiền công khám 15,6 19,9 <0,0001
Tỷ lệ % tiền công khám 17,5 -6,3 <0,0001
Tiền thuốc -2,3 26,2 <0,0001
Tỷ lệ % tiền thuốc -0,7 -1,4 -
Tiền VTYTTH 53,8 2.575,7 <0,0001
Tỷ lệ % tiền VTYTTH 56,3 1.989,9 <0,0001
Tiền DVKT 20,0 24,9 <0,0001
Tỷ lệ % tiền DVKT 22,0 -2,5 <0,0001
Chi BQ/thẻ/năm -7,0 25,9 <0,0001
Bảng 3.23 cho thấy tỷ lệ gia tăng các chỉ số phản ánh chi
phí KCB BHYT giữa các TYT xã 2 huyện có sự khác biệt có ý
17
nghĩa thống kê với p<0,05, trong đó tỷ lệ gia tăng tất cả chỉ số
của huyện Đăk Tô đều ít hơn huyện Kon Rẫy, trừ tỷ lệ tiền
công khám, tỷ lệ tiền thuốc và tỷ lệ tiền DVKT.
Bảng 3.30: Cân đối quỹ định suất năm 2012
của 3 TYT xã huyện Đăk Tô
Đơn vị: 1000 VNĐ
Nội dung
KT lên đến 119.705.000 đồng và 100% số tiền này đều được
dùng để điều tiết phần kinh phí thiếu hụt của quỹ định suất.
3.2.5. Nghiên cứu định tính: Các ý kiến PVS và TLN cho thấy
hầu hết đều thống nhất đánh giá rất cao về hiệu quả của mô
hình thí điểm thanh toán chi phí KCB BHYT theo định suất tại
TYT xã, nhất là chất lượng dịch vụ KCB được nâng lên, tỷ lệ
chuyển tuyến giảm, tần suất KCB vượt chỉ tiêu mong đợi,
người dân ngày càng tin tưởng hơn và hài lòng hơn với dịch vụ
18
KCB tại TYT so với trước khi triển khai thực hiện mô hình thí
điểm, quỹ định suất tại các TYT được bảo đảm và có kết dư.
3.2.6. Chi phí đầy đủ của dịch vụ KCB tại TYT xã
Bảng 3.35: So sánh chi phí đơn vị và mức phí tối đa
Nội dung
Chi phí
thực tế
(1000
đồng)
Mức phí tối đa theo TTLT
số 04 (không bao gồm thuốc
và VTYTTH)
Số tiền
(1000
đồng)
Tỷ lệ mức phí
tối đa/Chi phí
thực tế (%)
1. Chi phí thường xuyên
(không bao gồm thuốc và
VTYTTH)
KCB tại TTYT huyện.
Tại Bảng 3.2 cho thấy cơ cấu chi phí KCB BHYT chủ yếu
là tiền thuốc chiếm 97-98%, tiền công khám, VTYTTH và
DVKT chiếm tỷ lệ không đáng kể. Kết quả nghiên cứu cho
thấy tổng chi phí KCB BHYT tại 3 TYT huyện Kon Rẫy năm
2012 tăng 28,0% so với năm 2011, trong đó tất cả các khoản
mục đều tăng. Sự gia tăng này có thể được giải thích là do tăng
số lượt KCB tại TYT vì chi BQ/lượt khám năm 2011 và 2012
bằng nhau (81 ngàn đồng). Tuy nhiên, chi BQ/thẻ năm 2012
tăng 25,9% so với 2011. Điều này hoàn toàn phù hợp với lý
luận của PTTT theo dịch vụ là chi phí KCB ngày một gia tăng.
4.2. Hiệu quả của PTTT chi phí KCB BHYT theo định suất
tại một số TYT xã thuộc huyện Đăk Tô
4.2.1. Kê đơn thuốc hợp lý:
Khi so sánh tỷ lệ gia tăng năm 2012 so với năm 2011 của
một số chỉ số về kê đơn thuốc giữa các TYT xã 2 huyện (Bảng
3.9) cho thấy tỷ lệ đơn thuốc sử dụng KS trong nước và tỷ lệ
gia tăng tên thuốc kê theo tên gốc của huyện Đăk Tô cao hơn
huyện Kon Rẫy, ngược lại tỷ lệ gia tăng tên thuốc kê vừa tên
gốc vừa biệt dược và đơn thuốc có số ngày dùng KS ≤ 4 ngày
20
của huyện Kon Rẫy cao hơn huyện Đăk Tô (đều có ý nghĩa
thống kê). Điều này càng chứng tỏ sự can thiệp đã có những
hiệu quả rõ rệt so với không can thiệp.
Khi so sánh tỷ lệ gia tăng năm 2012 so với năm 2011 của
một số chỉ số tổng hợp về kê đơn thuốc giữa các TYT xã 2
huyện (Bảng 3.12) cho thấy tỷ lệ gia tăng số đầu thuốc sử dụng
BQ/đơn và đơn thuốc kê thuốc KS phù hợp với chẩn đoán có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 huyện với p<0,05; tỷ lệ
gia tăng số đầu thuốc sử dụng BQ/đơn của huyện Đăk Tô ít
công khám, tỷ lệ tiền thuốc và tỷ lệ tiền DVKT). Điều này một
lần nữa lại chứng tỏ các TYT xã thực hiện khoán định suất
kiểm soát tốt và có hiệu quả sự gia tăng chi phí KCB BHYT so
với các TYT xã thực hiện thanh toán theo dịch vụ. Tỷ lệ gia
tăng tỷ lệ tiền công khám, tỷ lệ tiền thuốc và tỷ lệ tiền DVKT ở
các TYT xã thực hiện khoán định suất nhiều hơn các TYT xã
thực hiện thanh toán theo dịch vụ là tín hiệu tốt, thể hiện các
TYT xã thực hiện khoán định suất cung cấp dịch vụ KCB ngày
càng nhiều hơn, điều này hoàn toàn khác với lý thuyết về thanh
toán theo định suất là các cơ sở nhận định suất thường có xu
hướng hạn chế cung cấp dịch vụ cho người bệnh.
4.2.5. Chi phí đầy đủ của dịch vụ KCB tại TYT xã: So với
mức phí tối đa tại Thông tư liên tịch số 04 của liên Bộ Y tế -
Bộ Tài chính, tỷ lệ thu hồi chi phí BQ chỉ tính chi phí thường
xuyên là 6,2%, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của nhóm
nghiên cứu Hoàng Văn Minh là 18,9%; nếu tính cả chi phí đầu
tư và chi phí thường xuyên, tỷ lệ thu hồi chi phí BQ là 5,4%
(Bảng 3.35). Điều này cho thấy các dịch vụ KCB của các TYT
xã nghiên cứu hiện đang rất thiếu kinh phí và cần quan tâm
nâng mức thu của các dịch vụ này trong thời gian tới.
22
KẾT LUẬN
1. Thực trạng thanh toán chi phí KCB BHYT theo phương
thức dịch vụ tại một số TYT xã năm 2011-2012
- Tổng số lượt khám bệnh tại 3 TYT xã thanh toán theo
dịch vụ năm 2012 tăng 28,0% so với năm 2011; số lượt khám
bệnh BQ và tần suất khám/thẻ năm 2012 đều tăng so với 2011.
- Tổng chi phí KCB BHYT tại 3 TYT thanh toán theo dịch
vụ năm 2012 tăng 28,0% so với 2011, trong đó tất cả khoản
tăng tất cả chỉ số phản ánh chi phí KCB BHYT của 3 TYT xã
thí điểm định suất đều ít hơn 3 TYT xã thanh toán theo dịch vụ,
trừ tỷ lệ tiền công khám, tỷ lệ tiền thuốc và tỷ lệ tiền DVKT là
tín hiệu tốt thể hiện các TYT xã thí điểm định suất cung cấp
các dịch vụ KCB nhiều hơn cho người bệnh.
- So với 2011, chi phí KCB BQ trên lượt khám và trên thẻ
của 3 TYT thí điểm định suất 2012 đều giảm ở tất cả các nhóm
đối tượng. Tỷ lệ gia tăng chi phí KCB BQ trên lượt khám theo
nhóm đối tượng, tỷ lệ gia tăng chi phí KCB BQ trên lượt khám
và trên thẻ theo giới tính và theo nhóm tuổi của 3 TYT thí điểm
định suất đều ít hơn 3 TYT thanh toán theo dịch vụ.
- Suất phí sau điều tiết của xã Ngọc Tụ, Đăk Rơ Nga và
Đăk Trăm lần lượt là 57.300, 45.900 và 49.700 đồng. Tổng số
chi phí KCB chiếm 91,8%, tỷ lệ kết dư chung là 8,2% quỹ định
suất của 3 xã và không có xã nào bị thâm hụt quỹ.
- Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy hầu hết các ý kiến
PVS hoặc TLN đều thống nhất đánh giá rất cao về hiệu quả của
mô hình thí điểm thanh toán chi phí KCB BHYT theo định suất
tại TYT xã và đề nghị cần được tiếp tục duy trì, nhân rộng mô
hình này trong thời gian sớm nhất.