nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây thìa canh bằng hạt và bằng hom tại công ty cổ phần thiên nhiên dk xóm đồng phủ ii, xã yên ninh, huyện phú lương, tỉnh thái nguyên - Pdf 24



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MA THỊ TIỆP NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY
THÌA CANH (GYMNEMA SYLVESTRE (RETZ.) R.
BR. EX SCHULT) BẰNG HẠT VÀ BẰNG HOM
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIÊN NHIÊN DK (DK
- NATURA) XÓM ĐỒNG PHỦ II, XÃ YÊN NINH,
HUYỆN PHÚ LƢƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : Lâm học
Mã số: 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. ĐẶNG KIM VUI Thái Nguyên - 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện.
Số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực.
Các kết luận khoa học của luận văn chưa nhà khoa học nào công bố trong các nghiên
cứu khác.
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên.

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2014
Ngƣời làm cam đoan Ma Thị Tiệp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ii
LỜI CẢM ƠN

LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU TRONG KHÓA LUẬN vi
MỞ ĐẦU 1
1. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.1. Mục tiêu tổng quát 2
1.2. Mục tiêu cụ thể 3
2. Ý nghĩa của đề tài 3
2.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
2.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Tổng quan về cây dược liệu 4
1.2. Một số nghiên cứu về nhân giống 4
1.2.1. Gieo hạt 4
1.2.2. Giâm hom 10
1.3. Tổng quan về cây Thìa canh 13
1.3.1. Tình hình nghiên cứu 13
1.3.2. Sơ lược về GACP 16
1.4. Một số khái niệm 19
1.4.1. Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) 19
1.4.2. Chất điều hòa sinh trưởng thực vật 19
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom 20
1.5.1. Các nhân tố bên trong 20
1.5.2. Các nhân tố bên ngoài 23
1.6. Tổng quan khu vực nghiên cứu 26
1.6.1. Vị trí địa lý, địa hình, địa thế 26
1.6.2. Dân số, lao động, việc làm, thu nhập 27


1. Kết luận 67
4.2. Kiến nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
I. Tiếng Việt 69
II. Tiếng Anh 70
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐH
Đại học
IBA
Indol butiric acid
IAA
Indol acetic acid
NAA
Napthalen acetic acid
GACP
Good Agricultural and Collection Practices
LSNG
Lâm sản ngoài gỗ
CTTN
Công thức thí nghiệm
ĐTĐ
Đái tháo đường
GAP

cho số cặp lá trên cây LSD = 0,774 44
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của loại hom đến hiệu quả giâm hom cây Thìa canh 46
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của loại hom đến hiệu quả giâm hom cây Thìa canh sau 60 ngày tuổi 47
Bảng 3.8: Bảng sai dị từng cặp
xjxi
(phụ lục 3, mục 3.3) 47
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của thuốc KT ra rễ IBA đến tỷ lệ sống của hom 49
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của IBA đến ra rễ của hom 50
Bảng 3.11: Bảng sai dị từng cặp
xjxi
(phụ lục 3, mục 3.4.1) 50
Bảng 3.12: Tỷ lệ sống của cây hom khi sử dụng thuốc KTST NAA 51
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của NAA đến khả năng ra rễ của hom 52
Bảng 3.14: Bảng sai dị từng cặp
xjxi
53
Bảng 3.15 : Ảnh hưởng của IAA đến tỷ lệ sống của hom 54
Bảng 3.16 : Ảnh hưởng của IAA đến khả năng ra rễ của hom 55
Bảng 3.17: Bảng sai dị từng cặp
xjxi
56
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của Ktra rễ IBA, NAA, IAA đến ra rễ của hom cây Thìa canh 57
Bảng 3.19: Thời vụ giâm hom ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của hom 58
Bảng 3.20: Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra rễ của hom 59
Bảng 3.21: Ảnh hưởng của giá thể giâm hom đến tỷ lệ sống của hom 62
Bảng 3.22: Ảnh hưởng của giá thể giâm hom đến tỷ lệ ra rễ của hom cây thìa canh sau 60 ngày 63
Bảng 3.23: Bảng sai dị từng cặp
xjxi
63


Hình 3.16: Hom Dây thìa canh ra rễ vào vụ xuân hè 61
Hình 3.17: Ảnh hưởng của giá thể giâm hom tới tỷ lệ sống của hom 62
Hình 3.18: Ảnh hưởng của giá thể đến khả năng ra rễ của hom 64 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1
MỞ ĐẦU

Hiện nay nhu cầu của con người về nguồn dược liệu ngày càng tăng, nguồn
dược liệu con người đang sử dụng có thể được tổng hợp bằng nhiều con đường khác
nhau như tổng hợp từ hóa học, tổng hợp từ vi sinh vật, song nguồn dược liệu từ thực
vật đã được con người sử dụng từ rất lâu và nhu cầu ngày càng lớn. Tuy nhiên các
loài cây trong tự nhiên đang bị giảm về số lượng và chất lượng bởi sự khai thác quá
mức, các điều kiện ngày càng bất lợi của môi trường tự nhiên… dẫn đến nhiều loại
cây dược liệu quý hiếm bị tuyệt chủng, ảnh hưởng đến nguồn cung cấp dược liệu bền
vững cho con người.
Cây Thìa canh là một loại dược liệu quý cho bệnh nhân mắc bệnh tiểu
đường. Ở Việt Nam cây thuốc này được phát hiện từ năm 2006, nằm trong đề tài
nghiên cứu cấp Bộ của nhà nước. Kết quả nghiên cứu của trường Đại học Dược Hà
Nội đã được ứng dụng để xây dựng vùng nguyên liệu cây Thìa canh theo tiêu chuẩn
quốc tế tại các tỉnh Nam Định, Thái Nguyên, đảm bảo hàm lượng hoạt chất ổn định.
Dược liệu này có thể sử dụng trong phòng và điều trị cho cả đối tượng tiền đái tháo
đường và người đã bị đái tháo đường, người bị mỡ máu cao.
Tác dụng hạ đường huyết của cây Thìa canh có những điểm tương đồng như
insulin nhanh: Đỉnh tác dụng là hạ đường huyết ở 2h và duy trì đến 4h; mức độ hạ

Như vậy việc bảo tồn và phát triển các loài dược liệu không những có giá trị
về mặt kinh tế mà còn mang ý nghĩa lớn trong khoa học. Để có cơ sở khoa học cho
việc phát triển các loài dược liệu, cần thiết phải nghiên cứu khả năng nhân giống và
gây trồng các loài cây dược liệu. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, được sự đồng
ý của khoa sau Đại học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Thìa canh (Gymnema sylvestre
(Retz.) R. Br. ex Schult) bằng hạt và bằng hom tại Công ty cổ phần thiên nhiên
DK (DK - NATURA) xóm Đồng Phủ II, xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh
Thái Nguyên”. Việc nghiên cứu đề tài này là rất quan trọng nhằm tìm ra phương
pháp cách thức gieo ươm trồng cây cây Thìa canh đại trà đáp ứng việc nhân giống
và cung cấp giống cây trồng có giá trị nhằm bảo tồn và phát triển cây cây Thìa canh.
1. Mục tiêu nghiên cứu
1.1. Mục tiêu tổng quát
Sản xuất giống cây Thìa canh bằng hạt và bằng hom với chất lượng và tỷ lệ
xuất vườn cao, phục vụ phát triển trồng cây Thìa canh có hiệu quả cao, trồng trên
diện tích rộng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3
1.2. Mục tiêu cụ thể
- Biết được ảnh hưởng của nhiệt độ nước xử lý hạt giống tới tỷ lệ nảy mầm của
hạt cây Thìa canh.
- Biết được ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tình hình sinh trưởng phát triển
của cây con Thìa canh trong giai đoạn vườn ươm.
- Biết được ảnh hưởng của loại hom đến khả năng sống của hom.
- Biết được ảnh hưởng của thuốc kích thích ra rễ đến khả năng ra rễ của hom.
- Biết được ảnh hưởng của giá thể giâm hom đến khả năng ra rễ của hom.
- Biết được ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra rễ của hom.

Cây dược liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ
cơ thể khi con người sử dụng. Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ lâu đời. Từ
thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc
phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hoá, hoặc hôn mê có khi chết người, do đó cần có
nhận thức phân biệt được loại nào ăn được, loại nào có độc không ăn được.
Theo sự phát triển của con người, việc khám khá và khai thác, sử dụng các
loại dược liệu ngày càng phát triển. Thực tế người ta có thể tổng hợp nhân tạo được
những hợp chất dùng trong y học nhưng việc làm này nhiều khi chưa hiệu quả và
giá thành cao. Bởi vậy việc khai thác các cây dược liệu đóng một vai trò quan trọng.
Hơn thế, việc khai thác này và việc chiết xuất các loại cây để làm thuốc có tác dụng
mạnh và ít độc hơn.
Cây dược liệu dùng để chữa bệnh có thể là các loại cây cỏ dùng trực tiếp để
chữa bệnh như cây gừng, cây tía tô, cây ngải cứu…
Cây dược liệu làm nguyên liệu để từ đó bào chế như: đại hoàng phơi khô là
sinh địa, đun sấy là thục địa, hoặc các loại cây như: sâm, quy, bạch truật, hồi, quế,
cam thảo, ý dĩ, sa nhân, tam thất…
Các cây dược liệu làm nguyên liệu chiết xuất các hoạt chất trung gian để
tổng hợp thành thuốc như: Hoa hòe chiết xuất rutin, Mã tiền chiết xuất strychnin
bruxin, Anh túc chiết xuất moocphin, Cỏ ngọt chiết xuất steviozit.
1.2. Một số nghiên cứu về nhân giống
1.2.1. Gieo hạt
1.2.1.1. Cơ sở khoa học
- Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để cung
cấp hạt hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các bước cải thiện
giống theo các phương thức sinh sản thích hợp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

6
mặt đất của cây (thân, lá, hoa quả) cây trồng phát triển bình thường.
+ Bón phân qua lá: (Lá, thân, cành, quả, cây) lượng phân hòa tan vào nước ở
một nồng độ cho phép. Phun ướt đẫm lá và thân cây quả, chất dinh dưỡng được
ngấm qua lá.
Bón phân vào đất cây hấp thụ thường không hết nên giữ lại trong đất hoặc tự
rửa trôi. Còn bón phân qua lá nồng độ bón phân qua lá thường nhỏ. Nếu bón nồng độ
cao thì cây có thể chết. Nếu bón nồng độ quá thấp thì hiệu quả không rõ. Vì vậy trong
một đời cây phải bón nhiều lần ở những nồng độ thích hợp. Trong vườn ươm hầu hết
phân bón được trộn với đất trong hỗn hợp ruột bầu, tùy theo tính chất đất, đặc tính sinh
thái học của cây con mà tỉ lệ pha trộn hỗn hợp ruột bầu cho phù hợp. Bón phân cần kết
hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh thường
xuyên để phát huy tối đa hiệu lực của phân bón. [21]
1.2.1.2. Những nghiên cứu trên thế giới
Tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu và khu vực đã làm
cho môi trường ô nhiễm, rừng suy giảm về diện tích và chất lượng, đặc biệt ảnh
hưởng trực tiếp dến đời sống sức khoẻ con người. Đứng trước tình hình đó các nhà
khoa học về lĩnh vực nông lâm nghiệp đặc biệt là sự đóng góp của các nhà khoa học
lâm nghiệp đã và đang lỗ lực để tìm ra những phương pháp tạo giống cây mới đóng
góp vào ngân hàng giống ngày càng chất lượng.
Từ thế kỉ XVIII - XIX đã có những ý tưởng về nghiên cứu giống cây lâm
nghiệp và sản xuất giống cây rừng cũng như nhân giống sinh dưỡng. Đầu thế kỉ XX
các nước ở Bắc Âu như Đức, Thuỵ Điển, Đan Mạch là những nước có nền Lâm
Nghiệp phát triển mạnh cũng đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về khảo
nghiệm xuất xứ, chọn giống, lai giống, xây dựng vườn giống bằng cây ghép cho các
loại Thông, Dương và Sồi, Dẻ. [12], [21]

cho cây sinh trưởng phát triển nhanh hơn, phân bón còn giúp cây chống chịu được
với hạn hán, sâu bệnh. Phân bón sinh học trở thành phân bón phổ biến và không thể
thiếu trong sản xuất nông nghiệp.
Theo Thomas (1985), chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng
chất khoáng. Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát
triển của cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của
lá. Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức độ
thiếu hụt dinh dưỡng của cây con. [12], [21]
Ở Mỹ, Canada, Braxin… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương pháp bón
phân đã tăng năng xuất từ 6,5 tấn/ha lên 25tấn/ha. Do đó tính ưu việt của chế phẩm sinh
học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng chất phát huy hiệu lực phân đa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

8
lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả cao. Nên trên thế giới đặc biệt là các nước
phát triển việc nghiên cứu, sử dụng các chế phẩm sinh học rất được chú trọng đầu tư. Phân
bón sinh học trở thành loại phân phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất, nông lâm
nghiệp hiện đại.
1.2.1.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Nước ta, rừng trồng chải dài trên diện tích rộng lớn, cây rừng sống lâu năm,
trình độ cơ giới hoá trong sản xuất, nhân lực, vốn đầu tư có hạn. Rừng sau khi trồng
ít có điều kiện chăm sóc, do đó công tác giống có tầm quan trọng đặc biệt. Có thể
nói giống là một những khâu quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến sản lượng
chất lượng rừng trồng.
Những năm trước thời kì đổi mới chúng ta chưa đánh giá đúng tầm quan
trọng và vai trò to lớn của công tác giống trong sản xuất lâm nghiệp. Sự quan tâm
của công tác giống lúc bấy giờ chủ yếu là làm sao có đủ số lượng giống cho rừng
trồng, hầu như chưa coi trọng đến chất lượng giống. Sử dụng giống không rõ nguồn

Nguyễn Tuấn Bình (2002) nhận thấy độ tàn che 25% - 50% là thích hợp cho sinh
trưởng của Dầu song nàng 12 tháng tuổi.
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thước bầu đến sinh trưởng của cây
gỗ non cũng đã được nhiều tác giả quan tâm. Theo Nguyễn Tuấn Bình (2002)[2],
kích thước bầu thích hợp cho gieo ươm Dầu song nàng là 20*30 cm, đục 8 - 10 lỗ.
Luận án tiến sĩ về đề tài phương pháp nhân giống cây thân gỗ nhiệt đới mới
tại Đại học Sunshine Coast (USC - Úc) của Cao Đình Hùng. Ông gọi đó là những
hạt nhân tạo “kiểu mới” và chúng có rất nhiều ưu điểm so với những hạt “kiểu cũ”:
Cho chất lượng gỗ tốt, sức tăng trưởng nhanh, chịu được sâu bệnh và khí hậu lạnh.
Các chuyên gia thuộc Viện Ứng dụng công nghệ vừa nhân giống thành công
hai loài lan hài quý: Hài Hằng (đặc hữu VN) và Hài Tam Đảo (đặc hữu Đông
Dương) bằng phương pháp gieo hạt trong ống nghiệm.
Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp Tây Bắc xây dựng hướng dẫn kỹ
thuật gieo ươm từ khâu thu hái hạt giống, bảo quản hạt giống, xử lý hạt giống, kỹ
thuật gieo ươm và chăm sóc cây con.
Một vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu là thành phần hỗn hợp
ruột bầu. Theo Nguyễn Văn Sở (2004), sự phát triển của cây con phụ thuộc không chỉ
vào tính chất di truyền của cây, mà còn vào môi trường sinh trưởng của nó (tính chất lý
hóa tính của ruột bầu). Tuy nhiên không phải tất cả các loài cây đều cần một loại hỗn
hợp như nhau, mà chúng thay đổi tùy thuộc vào đặc tính sinh thái học của mỗi loài cây.
Khi nghiên cứu gieo ươm Dầu song nàng (Dipterrocarpus dyerii), Nguyễn Tuấn Bình
(2002) cũng nhận thấy hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng của
cây con. [12], [14], [21] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

10
Theo Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006), khi gieo ươm cây Huỷnh liên (Tecoma
stans (L.) H.B.K), hỗn hợp ruột bầu thích hợp bao gồm đất, phân chuồng hoai, xơ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

11
Trong những năm 1950 có hàng loạt cuốn sách về chọn giống cây rừng đã
được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới. Bắt đầu từ năm 1964 Girodano đã giâm
hom bạch đàn E.Camalodulensis một năm tuổi đạt tỷ lệ ra rễ 60%. Tới năm 1963
nhà nghiên cứu người Pháp là Franclet đã đưa ra một danh sách gồm 58 loài Bạch
đàn đã thử nghiệm giâm hom và đã thành công.
Bắt đầu từ năm 1984, nhà nghiên cứu người Đức R.Kleins Chmit đã tiến
hành nhân giống cây Vân sam ở CHLB Đức, cùng thời gian đó Ruden cũng bắt đầu
tại Na uy. Từ đầu thập kỷ 80 đến nay thì công tác nghiên cứu đã đạt được nhiều
thành công như các loài cây lá kim, cây lá rộng. Ở Đông Nam Á những năm gần
đây việc nghiên cứu và sản xuất cây hom đã được tiến hành ở nhiều nước. Trung
tâm cây rừng Asean- Canada (ACLTSC) đã tổ chức thử nghiệm nghiên cứu giống
hom từ năm 1988 và đã thu được nhiều kết quả với các loài cây họ Đậu.
Tại Trung Quốc đã xây dựng được một quy trình công nghệ về sản xuất cây con
bằng mô hom cho hàng chục loài cây gỗ, cây ăn quả và cây cảnh. Qua quá trình
nghiên cứu của các nhà khoa học đã tạo ra được những cây con giống đáp ứng được
những yêu cầu thực tiễn đã mở ra một hướng đi mới triển vọng trong công tác tạo
giống cây trồng.
1.2.2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam đã và đang ứng dụng những thành tựu trong nghiên cứu tạo giống
cây trồng bằng hạt và giâm hom. Các nhà khoa học đã không ngừng nỗ lực,
tìm tòi sáng tạo, tạo ra những quy trình, kỹ thuật áp dụng cho giâm hom cây rừng
nói chung và những cây dược liệu quý nói riêng.
Năm 1976, lần đầu tiên tại Việt nam đã thử nghiệm nhân giống hom đối
với một số loài cây như Bạch đàn, Thông được tiến hành tại Phù Ninh- Phú Thọ.
Năm 1984, Nguyễn Ngọc Tân đã giâm hom thành công loài cây mỡ từ cây
non hoặc từ gốc trưởng thành. Ông cho biết tỷ lệ ra rễ ở hom chưa hóa gỗ của cây
Mỡ khi các hom này được xử lý với thuốc kích thích 2,4-D nồng độ 50ppm trong 3

áp dụng cho các loài cây bản địa, phục vụ các chương trình trồng rừng ở các địa
phương, các chương trình làm giàu rừng. Dầu rái (Dipterocarpus alatus) là loài cây
trồng rừng chủ yếu trong các chương trình làm giàu rừng ở các tỉnh miền Nam và
Tây Nguyên, cũng là loài cây được trồng rất thành công trên các đường phố ở thành
phố Hồ Chí Minh. Xuất phát từ việc khó thu hái và bảo quản hạt giống, việc nhân
giống bằng hom lại đóng vai trò rất quan trọng đối với loài cây này. Lê Đình Khả,
Đoàn Thị Bích đã nghiên cứu trên đối tượng Dầu rái 8 tháng tuổi và hom chồi của
cây 5 tuổi, xử lý các chất điều hòa sinh trưởng IBA, IAA, ATB ở các thang nồng độ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

13
khác nhau. Kết quả cho thấy IBA là chất có tác dụng kích thích ra rễ tốt nhất cho
Dầu rái, tỷ lệ ra rễ có thể đạt 70 - 80%. Tùy theo điều kiện cụ thể, có thể xử lý hom
giâm Dầu rái trong chất điều hòa sinh trưởng IBA ở dạng dung dịch nồng độ 100
ppm trong thời gian 3 giờ (có tỷ lệ ra rễ đạt 80%), hoặc nồng độ 2000 ppm trong
thời gian 3 giây (có tỷ lệ ra rễ đạt 86,7%) và dạng bột nồng độ 1,0% (có tỷ lệ ra rễ
đạt 90%) [2], [4], [14].
Các kết quả nhân giống bằng hom và bước đầu trồng thử nghiệm các dòng vô
tính cây rừng ở nước ta rất khả quan. Đó là cơ sở khoa học và có ý nghĩa thực tiễn
rất lớn, tạo điều kiện cho chúng ta tiếp tục đi sâu nghiên cứu, ứng dụng các thành
tựu khoa học công nghệ vào cải thiện giống, bảo tồn nguồn gen của cây rừng.
1.3. Tổng quan về cây Thìa canh
Tên: Cây Thìa canh.
Tên khác: Dây muôi, Lừa ty rừng.
Tên khoa học: Gymnema sylvestre (Retz.) R. Br. ex Schult., Họ Thiên lý
(Asclepiadaceae).
1.3.1. Tình hình nghiên cứu
1.3.1.1. Trên thế giới

Khi đất đã sẵn sàng, trồng những hạt giống và sau đó thêm nước để làm ẩm
đất. Lưu ý rằng bạn cần phải trồng những hạt giống ít nhất một inch (2,5 cm) dưới
mặt đất. Chờ đợi chúng phát triển.
Bước 4: Tưới nước cho cây trồng
Nó là điều cần thiết để giữ độ ẩm cho cây phát triển tốt. Theo khuyến cáo
của chúng tôi, bạn nên tưới 3 lần trên tuần và phải nhớ rằng Gymnema sylvestre
không thể chịu được úng, ngập lâu dài.
Bước 5: Bón phân đất
Lưu ý rằng, chỉ tưới nước cho cây đều đặn không đủ để thúc đẩy tăng trưởng
tối ưu của nó. Vì vậy chúng ta phải bón phân hữu cơ và vô cơ cho đất.
Bước 6: Phủ lớp đất mặt (vun xới)
Việc vun xới sẽ giúp cho chúng ta kiểm tra sự phát triển của cây, đồng thời
ngăn chặn cỏ dại, tạo sự thông thoáng cho đất. Việc vun xới phải được thực hiện ít
nhất 1 lần trong năm.
Bước 7: Tỉa và thu hái
Cuối cùng, điều quan trọng là để tỉa cây đều đặn, một khi nó bắt đầu phát
triển việc cắt tỉa giúp cho cây giảm sự cạnh tranh, phát triển tốt. Khi trưởng thành, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

15
chúng ta sẽ thu hoạch theo khuyến cáo của các nhà máy chế biến. (Mukulika
Mukherjee Kỹ sư nông nghiệp Ấn Độ - 2011)
Tại Trung Quốc, dây thìa canh cũng được sử dụng đông y cách đây hàng
trăm năm để chữa trị thấp khớp, trĩ và rắn cắn. Hiện tại dây thìa canh được trồng
nhiều ở Phúc Kiến, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam, Chiết Giang để cung cấp
nguyên liệu chế biến cao, trà, viên nén, siro Gymnema sylvestre. [1]
Do chi phí điều trị ĐTĐ cao, sử dụng thuốc có nguồn gốc tổng hợp. Việc
dùng dây thìa canh trong hỗ trợ điều trị bệnh ĐTĐ đang được rất nhiều các nhà

GACP là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Good Agricultural and
Collection Practices”, nghĩa là “Thực hành tốt trồng trọt và thu hái”.
Tiêu chuẩn GACP có thể áp dụng chung cho cả cây lương thực, cây rau, cây
ăn quả,… và đặc biệt cây làm thuốc. Xuất phát từ tiêu chuẩn của thuốc là phải có
chất lượng tốt, an toàn và hiệu quả, nên nguồn nguyên liệu làm ra thuốc cũng phải
đạt các yêu cầu này. GACP có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra nguồn nguyên
liệu làm thuốc đạt các tiêu chuẩn. Nó bao gồm hai nội dung chính:[1]
- Thực hành tốt trồng cây thuốc (GAP)
- Thực hành tốt thu hái cây thuốc hoang dã (GCP)
Mỗi quy trình có nhiều công đoạn, mỗi công đoạn lại có những tiêu chuẩn
riêng cho từng loài cây thuốc cụ thể. Nó phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, điều
kiện sinh thái, nguồn giống, đất trồng, biện pháp canh tác, chăm sóc, phòng trừ sâu
bệnh, thu hái, vận chuyển, xử lý sau thu hoạch đến cách đóng gói và bảo quản dược
liệu trong kho. Qua đó, ta thấy nội dung của GACP rất rộng và khá phức tạp, nó liên
quan đến nhiều ngành khoa học kỹ thuật như sinh học, nông học, dược học và khoa
học quản lý
GACP không đơn thuần là các trang giấy viết về tiêu chuẩn và quy trình trồng
cây thuốc hoặc thu hái từ cây thuốc hoang dã. Đó chỉ là phần mềm. Để bảo đảm các
điều kiện thực hiện tốt phần mềm này, GACP còn có các phần cứng, bao gồm:
- Cơ sở vật chất phải phù hợp điều kiện tự nhiên và đối tượng trồng trọt, thu
hái như: nhà làm việc, nơi phơi sấy, kho chứa, công cụ sản xuất, mặt bằng làm nơi
sơ chế, phòng thực nghiệm với các thiết bị đo đạc và kiểm tra chất lượng sản phẩm.
- Nhân lực: những người trực tiếp trồng trọt, thu hái cũng phải được đào tạo
để có sự hiểu biết và kỹ năng thực hiện đúng các yêu cầu kỹ thuật của GACP liên
quan đến công việc mà họ đang làm. Họ cũng phải biết những điều gì cần tránh (ví
dụ không được hoặc phải giảm đến mức tối thiểu tác động đến môi trường) và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status