thực trạng phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của các doanh nghiệp việt nam - Pdf 24

LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, ở Việt Nam đang sôi động một loại thị trường : thị
trường chứng khoán. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cơn sốt chứng khoán
như hiện nay, trong đó phải kể đến những món lợi về kinh tế mà nó mang lại
cho các nhà đầu tư. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường tại Việt
Nam, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, nhiều làn sóng kinh doanh mới đã và
đang ùa vào nước ta. Nhu cầu tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh
tranh đã buộc các doanh nghiệp phải minh bạch hoá cơ chế quản lý, kinh
doanh. Chính vì lẽ đó, các công ty cổ phần ra đời và ngày càng thể hiện
bước đi đúng đắn của mình khi đưa cổ phiếu của công ty đến với công
chúng, gắn liền lợi ích của công ty với các cổ đông. Qua đó, chúng ta cũng
có thể thấy vai trò của thị trường chứng khoán nói chung và thị trường cổ
phiếu nói riêng đến sự phát triển nền kinh tế đất nước. Việc phát hành cổ
phiếu lần đầu ra công chúng đã không còn chỉ là việc của các doanh nghiệp
mà là của tất cả mọi người, những ai quan tâm đến thị trường chứng khoán.
Các công ty càng có uy tín trong kinh doanh thì sự chú ý của các nhà đầu tư
vào đợt phát hành cổ phiếu của chúng càng lớn. Cũng vì thế, nhìn vào giá
của cổ phiếu mà chúng ta có thể thấy một phần kết quả kinh doanh của công
ty. Như vậy, phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng(IPO) là một bước
tiến rất quan trọng, nó đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của công ty. Tuy
cũng đã hình thành ở nước ta trong một thời gian nhưng IPO vẫn còn khá
non yếu nếu đem so với thế giới. Có nhiều câu hỏi đặt ra là: IPO nên được
hiểu như thế nào là đúng, những công ty nào mới được phép tiến hành IPO
và thực trạng phát hành cổ phiếu ở nước ta trong những năm qua có những
nét gì đặc biệt? cũng như những giải pháp cho vấn đề này trong giai đoạn
hiện nay? Tất cả những nội dung đó cũng là đề tài nghiên cứu chính trong
1
bài thuyết trình của nhóm1 lớp Anh 1:”Thực trạng phát hành cổ phiếu lần
đầu ra công chúng của các doanh nghiệp Việt Nam”
Chương I: Lý luận chung về vấn đề phát hành cổ phiếu lần đầu
ra công chúng

chắc đã là IPO. Điểm khác nhau quan trọng giữa IPO và phát hành sơ cấp là
phát hành sơ cấp là việc phát hành chứng khoán mới, còn IPO phải là lần
phát hành chứng khoán đầu tiên của một công ty. Từ đó có thể thấy một
công ty có thể có nhiều lần phát hành sơ cấp nhưng chỉ có duy nhất một lần
phát hành IPO.
(1)Tiếp theo lần phát hành IPO, những lần phát hành tiếp thêm các cổ
phiếu ra công chúng của một công ty được gọi là phát hành bổ sung (SOEs –
seasoned equity offerings).
(1)Công chúng trong định nghĩa về IPO được hiểu là một số lượng lớn
nhất định các nhà đầu tư tham gia mua một tỷ lệ nhất định chứng khoán phát
hành. Tỷ lệ này phụ thuộc vào quy định cho phép của Nhà nước, thường thì
các nước khác nhau có tỷ lệ khác nhau. Điều 3 khoản 7 Nghị định
144/2003/NĐ-CP Về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán quy định:
“Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc chào bán một đợt chứng
khoán có thể chuyển nhượng được thông qua tổ chức trung gian cho ít nhất
3
50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành.”
(1)Việc phát hành IPO phải gắn liền với việc cổ phiếu này sẽ phải được
giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán. Khi đó, đối tượng các nhà đầu tư
sẽ rất rộng. Họ sẽ mua cổ phiếu nhằm nhiều mục đích khác nhau: Mua để
đầu tư, mua để đầu cơ, ăn chênh lệch giá…
(1) Phát hành IPO có các đặc điểm sau: Chứng khoán phát hành là những
chứng khoán có chất lượng cao; Công ty phát hành là các công ty có triển
vọng phát triển trong tương lai.
II) Điều kiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của các
doanh nghiệp Việt Nam
1) Điều kiện phát hành
. Theo điều 12 của bộ luật chứng khoán được Quốc hội thông qua vào ngày
29/6/2006 thì điều kiện để chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng
gồm có:

của công ty phải có độ tin cậy cao nhất. Điều này có nghĩa là các báo cáo tài
chính của công ty phải được kiểm toán bởi các tổ chức kiểm toán có uy tín.
Các tài liệu khác phải được lập theo đúng quy định, ngôn từ và các ký hiệu
trong các tài liệu phải rõ ràng và phải được lập hay thẩm tra của các tổ chức
theo quy định;
4.Công ty phải có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt
phát hành;
Công ty phải được một hoặc một số các tổ chức bảo lãnh phát hành đứng ra
5
cam kết bảo lãnh cho đợt phát hành
Việc phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng của các công ty
thường phải đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn cao của các cơ quan quản lý thị
trường chứng khoán và phải hoàn thành các thủ tục khá phức tạp trước và
sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng. Nguyên nhân khiến các cơ
quan quản lý đặt ra các yêu cầu cao cho việc phát hành IPO là do:
1. Phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng là việc phát hành
chứng khoán cho một số lượng lớn công chúng đầu tư. Nhiều người trong số
đó là các nhà đầu tư nhỏ, các nhà đầu tư không có sự hiểu biết và khả năng
phân tích cao về chứng khoán. Để bảo vệ các nhà đầu tư này, chứng khoán
phát hành phải là các chứng khoán có chất lượng cao và công ty phát hành
phải là các công ty có triển vọng phát triển trong tương lai.
2. Do các công ty nêu trên là các công ty lần đầu phát hành ra công
chúng nên các thông tin liên quan đến các công ty không được nhiều người
biết đến. Các chuyên gia phân tích cũng không có điều kiện theo dõi các
công ty này trước khi công ty thực hiện việc phát hành . Việc đưa ra các yêu
cầu cao về chất lượng đối với các công ty lần đầu phát hành ra công chúng là
để bù đắp những sự thiếu hụt về thông tin cho công chúng đầu tư.
3. Ở các nước đang trong giai đoạn xây dựng thị trường chứng khoán
như Việt Nam, thị trường chứng khoán còn là một khái niệm mới mẻ nên
nhiều tầng lớp dân cư còn dè dặt trong việc chọn thị trường chứng khoán là

4. Ban chuẩn bị cùng với tổ hợp bảo lãnh phát hành, công ty kiểm toán và
tổ chức tư vấn tiến hành định giá chứng khoán phát hành. Định giá chứng
khoán là khâu khó khăn nhất và phức tạp nhất khi tiến hành phát hành chứng
khoán ra công chúng. Nếu định giá chứng khoán quá cao thì sẽ khó khăn
trong việc bán chứng khoán, còn nếu định giá chứng khoán quá thấp thì sẽ
làm thiệt hại cho tổ chức phát hành. Vì thế, việc định giá chứng khoán một
cách hợp lý sao cho người mua và người bán đều chấp nhận được là hết sức
quan trọng và cần phải được phối hợp của tổ chức bảo lãnh, công ty kiểm
toán và tổ chức tư vấn của công ty.
5.Tổ chức phát hành nộp hồ sơ lên Uỷ ban chứng khoán. Thông thường
tổ chức phát hành sẽ được trả lời về việc cấp hay từ chối cấp giấy phép trong
một thời hạn nhất định kể từ ngày nộp hồ sơ xin phép phát hành đầy đủ và
hợp lệ. Trong thời gian chờ Uỷ ban chứng khoán Nhà nước xem xét hồ sơ,
tổ chức phát hành có thể sử dụng nội dung trong bản cáo bạch sơ bộ để thăm
dò thị trường.
6.Sau khi được cấp phép phát hành, tổ chức phát hành phải ra thông báo
phát hành trên các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời công bố ra
công chúng bản cáo bạch chính thức và việc thực hiện việc phân phối chứng
khoán trong một thời gian nhất định kể từ khi được cấp giấy phép. Thời hạn
phân phối được qui định khác nhau đối với mỗi nước. ở Việt nam, theo qui
định tại Nghị định 48/Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán
thì thời hạn này là 90 ngày, trong trường hợp xét thấy hợp lý và cần thiết, Uỷ
ban chứng khoán nhà nước có thể gia hạn thêm.
7.Tiến hành đăng ký, lưu giữ, chuyển giao và thanh toán chứng khoán
8
sau khi kết thúc đợt phân phối chứng khoán.
8.Sau khi hoàn thành việc phân phối chứng khoán, tổ chức phát hành
cùng với tổ chức bảo lãnh phát hành phải báo cáo kết quả đợt phát hành cho
Uỷ ban chứng khoán và tiến hành đăng ký vốn với cơ quan có thẩm quyền.
9.Trường hợp tổ chức phát hành có đủ điều kiện niêm yết thì có thể làm

tiếng của công ty, nhờ vậy công ty sẽ dễ dàng hơn và tốn ít chi phí hơn trong
việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu ở những lần sau. Thêm
vào đó, khách hàng và nhà cung ứng của công ty thường cũng sẽ trở thành
cổ đông của công ty và do vậy công ty sẽ rất có lợi trong việc mua nguyên
liệu và tiêu thụ sản phẩm.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ làm tăng giá trị tài sản ròng,
giúp công ty có được nguồn vốn lớn và có thể vay vốn của ngân hàng với lãi
suất ưu đãi hơn cũng như các điều khoản về tài sản cầm cố sẽ ít phiền hà
hơn. Ví dụ như các cổ phiếu của các công ty đại chúng dễ dàng được chấp
nhận là tài sản cầm cố cho các khoản vay ngân hàng. Ngoài ra, việc phát
hành chứng khoán ra công chúng cũng giúp công ty trở thành một ứng cử
viên hấp dẫn hơn đối với các công ty nước ngoài với tư cách làm đối tác liên
doanh.
10
- Phát hành chứng khoán ra công chúng giúp công ty có thể thu hút và
duy trì đội ngũ nhân viên giỏi bởi vì khi chào bán chứng khoán ra công
chúng, công ty bao giờ cũng dành một tỷ lệ chứng khoán nhất định để bán
cho nhân viên của mình. Với quyền mua cổ phiếu, nhân viên của công ty sẽ
trở thành cổ đông, và được hưởng lãi trên vốn thay vì thu nhập thông
thường. Điều này đã làm cho nhân viên của công ty làm việc có hiệu quả
hơn và coi sự thành bại của công ty thực sự là thành bại của mình.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty có cơ hội tốt để xây
dựng một hệ thống quản lý chuyên nghiệp cũng như xây dựng được một
chiến lược phát triển rõ ràng. Công ty cũng dễ dàng hơn trong việc tìm
người thay thế, nhờ đó mà tạo ra được tính liên tục trong quản lý. Bên cạnh
đó, sự hiện diện của các uỷ viên quản trị không trực tiếp tham gia điều hành
công ty cũng giúp tăng cường kiểm tra và cân đối trong quản lý và điều hành
công ty.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng làm tăng chất lượng và độ chính
xác của các báo cáo của công ty bởi vì các báo cáo của công ty phải được

CỔ PHIẾU: (tên cổ phiếu)
12
Kính gửi: Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

I. Giới thiệu về tổ chức đăng ký phát hành:
1. Tên tổ chức đăng ký phát hành (đầy đủ):
1. Tên giao dịch:
1. Vốn điều lệ:
1. Địa chỉ trụ sở chính:
1. Điện thoại: Fax:
1. Nơi mở tài khoản: Số hiệu tài khoản:
1. Căn cứ pháp lý hoạt động kinh doanh
• Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số ngày tháng năm
• Ngành nghề kinh doanh chủ yếu: Mã số:
• Sản phẩm/dịch vụ chính:
• Tổng mức vốn kinh doanh:
1. Cơ cấu vốn cổ phần (thời điểm ):
Loại vốn Cơ cấu cổ đông
Tổ
chức
Cá nhân
Vốn cổ phần:
- Cổ đông sáng lập:
- Cổ đông lớn:
- Cổ đông nắm giữ
13
dưới 1% cổ phiếu có
quyền biểu quyết:
- Cổ phiếu quĩ:
Trong đó:

- Giá phát hành : đồng/cổ phiếu
11. Cổ phiếu phát hành cho các cổ đông hiện tại:
- Số lượng: cổ phiếu
- Giá phát hành: đồng/cổ phiếu
12a. Cổ phiếu phát hành cho người đầu tư ngoài tổ chức phát hành:
- Số lượng: cổ phiếu
- Giá phát hành: đồng/cổ phiếu
12b. Tỷ lệ cổ phần do cổ đông ngoài tổ chức phát hành nắm giữ:
- Tỷ lệ: %
- Số lượng cổ đông: người
13. Cổ phiếu phát hành cho người nước ngoài:
- Số lượng: cổ phiếu
15
- Giá phát hành: đồng/cổ phiếu
14.Thời gian đăng ký mua cổ phiếu dự kiến: từ ngày đến ngày
15. Phương thức phân phối (thông qua bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành
hay đấu giá):
IV. Cổ phiếu cùng loại hiện đang lưu hành (dùng cho trường hợp phát
hành thêm cổ phiếu để tăng vốn):
1. Tổng số cổ phiếu:
2. Tổng giá trị cổ phiếu (tính theo giá thị trường tại thời điểm báo cáo, nếu
có):
3. Đặc điểm (nêu rõ các đặc điểm hoặc các quyền kèm theo):
V. Các bên liên quan:
(Tổ chức bảo lãnh phát hành, tư vấn, kiểm toán )
VI. Cam kết của tổ chức phát hành:
Chúng tôi xin đảm bảo rằng những số liệu trong hồ sơ này là đầy đủ
và đúng sự thật, không phải là số liệu giả hoặc thiếu có thể làm cho người
mua cổ phiếu chịu thiệt hại. Chúng tôi cam kết:
• Nghiên cứu đầy đủ và thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về

(tên cổ phiếu)
(theo Giấy chứng nhận đăng ký phát hành số /ĐKPH ngày tháng
năm )
Kính gửi: Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
Tên tổ chức phát hành:
Địa chỉ trụ sở chính:
Điện thoại:
Fax:
I. Cổ phiếu phát hành:
1. Tên cổ phiếu phát hành:
2. Loại cổ phiếu:
3. Mệnh giá:
4. Số lượng cổ phiếu đăng ký phát hành:
5. Tổng khối lượng vốn huy động dự kiến :
6. Ngày phát hành:
7. Ngày bắt đầu chào bán:
8. Ngày kết thúc chào bán:
9. Thời hạn đăng ký mua: từ ngày đến ngày
18
10. Ngày thanh toán tiền mua cổ phiếu:
11. Ngày kết thúc chuyển giao cổ phiếu:
II. Tổ chức bảo lãnh phát hành:
1. Tên tổ chức bảo lãnh phát hành chính:
2. Tên các tổ chức bảo lãnh phát hành khác và số lượng cổ phiếu cam
kết bảo lãnh, số lượng cổ phiếu còn lại chưa phân phối hết của từng
tổ chức (nếu có):
3. Phí bảo lãnh phát hành:
III. Đại lý phân phối:
1. (Tên đại lý phân phối):
2.

đăng

mua
Số
người
được
phân
phối
Số
người
khôn
g
được
phân
phối
Số cổ
phiếu
còn
lại
Tỷ lệ
cổ
phiếu
phân
phối
19
1 2 3 4 5 6 7 8=6-7 9=3-5 10
1.
Người
lao
động

VI. Cơ cấu vốn của tổ chức phát hành sau đợt phát hành:

T
T
Danh mục 1000 đồng Tỷ lệ
(%)
Tổng vốn chủ sở hữu:
- Cổ đông sáng lập:
- Cổ đông lớn:
- Cổ đông nắm giữ dưới 1% cổ phiếu có
quyền biểu quyết:
Trong đó:
- Nhà nước:
- Người nước ngoài:
100
21
Danh sách và tỉ lệ sở hữu của các cổ đông lớn: (đính kèm)
, ngày tháng năm
( tổ chức phát hành )
8.1.1.1.1Giám đốc điều hành
(ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
Phụ lục 3:
(Ban hành kèm theo Thông tư số.60 /2004/TT-BTC ngày 18 tháng 6. năm
2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc phát hành cổ phiếu ra công chúng)
Thông báo
phát hành cổ phiếu ra công chúng
(Giấy chứng nhận đăng ký phát hành số /ĐKPH do Chủ tịch Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước cấp ngày / / )

1Tên tổ chức phát hành:

ChươngII: Thực Trạng Phát Hành IPO Ở Việt Nam
I) TÌNH HÌNH IPO TỪ 2000 ĐẾN 9/2006
Như chúng ta đã biết thì năm 2000 thị trường chứng khoán được thành lập ở
Việt Nam với sàn giao dịch tp.HCM.
Năm 2001 khi mới đi vào hoạt động được một thời gian ngắn, TTCK đã có
sự phát triển "nóng" bỏng. Khi đó chỉ số Vn-Index đạt kỷ lục 571 điểm,
ngoài sức tưởng tượng của những chuyên gia kinh tế. Dường như ngay lập
tức sau đó, TTCK Việt Nam rơi vào đợt giảm giá cổ phiếu đến mức thê
thảm, thị trường trong trạng thái nguội lạnh, chỉ số Vn-Index giảm từ hơn
500 điểm xuống chỉ còn dưới 200 điểm.(cho tới năm 2004 chỉ số VN-index
chi dao động ở mức 200 điểm)
Năm 2003 thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là cũng chưa
"nhập vai" vào nền kinh tế.
Đầu năm 2003 sau những phiên giao dịch buồn tẻ liên tục kéo dài trong suốt
9 tháng thì sự tăng giá cổ phiếu trong 3 tháng cuối năm đã tạo ra một "cú
hích" có hiệu ứng khá mạnh đủ để tạo ra một bứt phá ngoạn mục của chỉ số
VN-Index
Năm 2003 là một năm rất đáng ghi nhớ trong lịch sử hình thành và phát triển
của TTCK Việt Nam, khởi đầu bằng những phiên giao dịch hết sức buồn tẻ,
rồi liên lục kéo dài cảnh "chợ chiều" trong suốt 9 tháng đầu năm, sau đó đã
khởi dậy bằng những phiên giao dịch hết sức ấn tượng trong 3 tháng cuối
năm, chỉ số VN-Index đã bắt đầu tăng lên và ổn định trên 160 điểm, khối
24
lượng khớp lệnh qua các phiên cũng có xu hướng tăng lên Tất cả đã báo
hiệu một triển vọng tốt đẹp cho các nhà đầu tư chứng khoán năm 2004.
Tuy nhiên,sang tới năm 2004 những kết quả mà thị trường chứng khoán
(TTCK) Việt Nam mang lại sau hơn 4 năm hoạt động dường như vẫn còn
quá ít và với diễn biến như thời gian qua thì mục tiêu trở thành kênh huy
động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế còn quá xa vời
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam bước vào năm 2005 với nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status