1
PHÒNG GD & ĐT LƯƠNG SƠN
TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀ SƠN A
SÁNG KIẾN
Năm học 2007-2008
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG SOẠN - GIẢNG
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
HỌ VÀ TÊN: Nguyễn Văn Xung
CHỨC VỤ: Hiệu trưởng
ĐƠN VỊ : Trường tiểu học Hoà Sơn A
LƯƠNG SƠN, THÁNG 05 NĂM 2008
Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quá trình dạy học bao gồm hệ thống những tác động từ phía người dạy (giáo
viên) đến người học (học sinh), nhằm làm cho học sinh tích cực và chiếm lĩnh tri
thức, hình thành những phẩm chất nhân cách và năng lực phù hợp với nhu cầu
ngày một cao của xã hội hiện đại.
Thiết kế nội dung (Soạn giáo án) và cách thức dạy học là một khâu đột phá
quan trọng để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng
giảng dạy. Để việc dạy học có hiệu quả, người giáo viên bao giờ cũng dành một
thời gian thích đáng để thiết kế bài. Muốn dạy học có kết quả cần thiết kế chu đáo
bài học. Khi thiết kế bài học cần chú trọng đến nhiều khía cạnh tác động đến quá
trình dạy học như: Đặc điểm lứa tuổi học sinh, nhu cầu, hứng thú, các phương tiện
kỹ thuật đồ dùng trực quan, cơ sở vật chất trường lớp Từ đó có định hướng rõ rệt
để xác định những tiêu chí cụ thể cần đạt cũng như cách thức (sự lựa chọn phương
pháp phù hợp) để đạt được mục tiêu bài dạy.
Kết quả một giờ dạy không những phụ thuộc khá nhiều vào sự chuẩn bị bài
dạy mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác nhau cũng như yếu tố chủ
quan không thể tránh khỏi. Đó chính là phụ thuộc vào năng lực sư phạm, sự tự tin,
Hoạt động dạy và học trong trường tiểu học hiện nay được thực hiện chủ yếu
bằng hình thức dạy và học trên lớp. Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng
dạy học. Vì vậy dễ hiểu rằng vì sao cả hiệu trưởng và giáo viên đều tập trung sự
chú ý, mọi cố gắng của mình vào giờ lên lớp với một mục đích là nâng cao chất
lượng toàn diện giờ lên lớp nhưng mỗi người có vai trò riêng đối với giờ lên lớp.
Trực tiếp quyết định kết quả giờ lên lớp là người giáo viên. Quản lý thế nào để các
giờ lên lớp của giáo viên có kết quả tốt là việc làm của hiệu trưởng.
Nhiệm vụ của hoạt động dạy và học ở trường tiểu học của người giáo viên là
làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có
những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong học tập, trong lao động và trong cuộc sống
của trẻ. Trong những kĩ năng cần được rèn luyện cho học sinh thì quan trọng nhất
là làm cho học sinh có được kĩ năng học tâp để thực hiện “Hình thành hoạt động
học tập” - Hoạt động chủ đạo của các em trong thời kỳ này.
Phát triển trí tuệ học sinh trong quá trình nắm tri thức, trước hết là phát triển
tư duy độc lập sáng tạo, hình thành năng lực nhận thức và hoạt động của học sinh.
Ở học sinh tiểu học, trí tưởng tượng rất phong phú nhưng trình độ chuẩn bị sẵn
sàng về mặt trí tuệ (hoạt động tư duy) cho học tập chưa phát triển đến mức cần
thiết. Cho nên dạy học chẳng những phải phát triển trí tưởng tượng của các em mà
còn phải rèn luyện các thao tác tư duy để phát triển năng lực nhận thức, năng lực
hoạt động khoa học, sáng tạo.
Những nhiệm vụ dạy và học nói trên được thực hiện đồng thời và thống nhất
với nhau trong quá trình dạy hoc. “Quá trình dạy và học là tập hợp những hành
động liên tiếp của giáo viên và học sinh, được giáo viên hướng dẫn. Những hành
động này nhằm làm cho học sinh tự giác nắm vững hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ
sảo và trong quá trình đó, phát triển được năng lực nhận thức, nắm được các yếu
4
tố của văn hoá, lao động trí óc và chân tay, hình thành những cơ sở của thế giới
quan và hành vi cộng sản chủ nghĩa ” (ÊXiPôp).
Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là hai hoạt động trung tâm
của một quá trình dạy học và là hai hoạt động mang tính chất khác nhau. Song
- Trình độ Cao đẳng: 09 giáo viên.
- Còn lại 100% đạt trình độ trung cấp sư phạm.
* Phân loại giáo viên năm học 2006 - 2007 như sau:
- Giáo viên giỏi cấp tỉnh: 0
- Giáo viên giỏi cấp huyện: 04
- Giáo viên giỏi cấp trường: 12
* Xếp loại thi đua năm học 2006 - 2007 như sau:
- Chiến sỹ thi đua cơ sở: 02
- Lao động giỏi: 13
Năm học 2006 – 2007 có 10 lớp và 265 học sinh trong đó 130/265 học sinh
là dân tộc. Nhìn chung điều kiên học tập của học sinh khá tốt, chỉ có một bộ phận
nhỏ còn gặp khó khă do phụ huynh chưa quan tâm đúng mức vì nhà nghèo. Tuy
vậy đa số học sinh ngoan ngoãn, lễ phép có ý thức học tập tốt.
Với tình hình như trên đã nêu nhà trường đứng trước những thử thách vô
cùng to lớn: Đó là làm gì và làm như thế nào để việc soạn giảng của giáo viên đạt
được kết quả cao, đáp ứng được ngày một cao của xã hội.
Qua kiểm tra hồ sơ giáo án và dự giờ giáo viên, chúng tôi thấy tuy có nhiều
cố gắng nhưng kết quả chưa được là bao. Trước hết xin nêu thực trạng thiết kế kế
hoạch bài học của giáo viên.
b) Thực trạng thiết kế kế hoạch bài học (soạn bài):
Trong năm học 2006 – 2007 qua kiểm tra kế hoạch bài học hàng tuần và đột
xuất cũng như tổng kiểm tra hồ sơ bốn lần trong năm học, chúng tôi nhận thấy có
sự khác biệt ở các nhóm giáo viên khác nhau. Đối với giáo viên tuổi cao hoặc hoàn
cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn thì sự đầu tư cho soạn bài rất hạn chế. Việc lập
kế hoạch bài học chỉ như là chép lại sách giáo viên mà không có sự đầu tư nào
khác, không chú ý đến đối tượng học sinh cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho bài
giảng. Đặc biệt có trường hợp mượn giáo án cũ rồi chép lại. Những điều đó làm
cho chất lượng giảng dạy kém hiệu quả. Đối với những giáo viên có trình độ
chuyên môn vững thì đã có sự đầu tư nhất định. Khi lập kế hoạch bài học họ đã có
sự lựa chọn phương pháp giảng dạy cũng như tính đến các yếu tố: Học sinh,
thể nhận định như sau.
Số lượng giờ lên lớp đảm bảo được mục tiêu đề ra chiếm khoảng 80%. Số
giờ dạy không sử dụng đồ dùng trực quan chiếm 20%, số giờ tổ chức tốt lớp học
chiếm 75%. Số giờ dạy học chỉ chú ý đến phương pháp mà không chú nhiều đến
nội dung chiếm 20%. Số giờ áp dụng các phương pháp thuyết trình một cách đơn
thuần chiếm tới 25%.
7
Từ những số liệu nêu trên cho thấy việc thực hiện tốt cả 3 phương diện: Mục
tiêu, nội dung, phương pháp chiếm tỉ lệ còn thấp. Đặc biệt các giờ dạy chay chiếm
quá nhiều cho thấy việc đầu tư tìm tòi, tận dụng khả năng hiện có của cơ sở vật
chất nhà trường cũng như bản thân giáo viên còn nhiều hạn chế. Điều này một mặt
do tâm lý ngại chuẩn bị đồ dùng dạy học, mặt khác cũng cho thấy bộc lộ rõ nét
việc sử dụng trang thiết bị dạy học còn nhiều lúng túng ở nhiều giáo viên. Bên
cạnh đó việc thực hiện giờ lên lớp đối với giáo viên có thâm niên công tác lâu năm
thì thường chú ý đến nội dung bài là chính sao cho chuyền đạt hết nội dung bài là
được, còn việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực thì thực hiện chậm. Còn
các giáo viên trẻ lại theo xu hướng ngược lại, nghĩa là chú ý quá nhiều đến phương
pháp mà không mở rộng, làm rõ nội dung cần lĩnh hội cho học sinh.
Từ thực trạng như vậy dẫn đến chất lượng học tập của học sinh chưa được
cao, học sinh tiếp nhận tri thức một cách thụ động, kiến thức không sâu, thiếu tính
bền vững.
Chung quy lại cho thấy thực trạng giờ lên lớp của giáo viên trong nhà trường
là: Tác phong mẫu mực, ở mức độ nhất định đã làm chủ được giờ giảng song bên
cạnh đó còn nhiều khiếm khuyết như: Một số ít giáo viên chưa thực sự vững về
kiến thức và phương pháp, đặc biệt việc sử dụng các phương tiện dạy học còn hạn
chế, việc phối kết hợp các phương pháp dạy học trong một giờ sao cho hiệu quả
nhất chưa được tốt. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng nêu trên là: Một số
giáo viên chưa được đào tạo chính quy mà được đạo tạo theo hệ trung học hoàn
chỉnh nên năng lực có nhiều hạn chế, việc tự học và tự bồi dưỡng chưa thường
xuyên và gặp không ít khó khăn do điều kiện gia đình không cho phép. Do vậy có
giáo dục ban hành. Trước hết các tổ chuyên môn sinh hoạt ít nhất tháng 3 lần, ở đó
tài liệu về yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng của các môn học được triển khai
đến từng thành viên, các cuộc họp này bao giờ cũng có đại diện ban giám hiệu dự
để có ý kiến chỉ đạo cụ thể và kịp thời. Từ đó giúp giáo viên chỉnh lại mục tiêu
trong sách giáo viên để phù hợp với tình hình học sinh trong lớp mình và đảm bảo
yêu cầu cơ bản tối thiểu so với mặt bằng chung. Có thể lấy ví dụ như sau: Một số
bài chính tả so sánh phân biệt các phụ âm v/d ở địa phương học sinh thường không
mắc lỗi thì đồng thời chỉnh cả nội dung và mục tiêu để dạy cho học sinh những cặp
phụ âm hay mắc lỗi hơn như tr/ch, s/x ( hay gặp ở lớp 4,5).
b) Thống nhất cách trình bày bài soạn.
Thống nhất về nội dung và hình thức thể hiện các loại bài soạn. Với những
giáo viên khá giỏi, dạy lâu năm thì yêu cầu bài soạn khác với những giáo viên mới
ra trường. Hình thức trình bày bài soạn phải phù hợp với nội dung bài dạy. Từ đầu
năm học nhà trường phân công một số giáo viên có kinh nghiệm như tổ trưởng
9
chuyên môn, giáo viên dạy giỏi tham gia vào việc xây dựng cấu trúc bài soạn cho
từng môn học. Sau đó đưa ra lấy ý kiến tham khảo rộng rãi và thống nhất chung, in
thành tài liệu phát cho từng giáo viên để thực hiện. Nhờ đó mọi bài soạn của giáo
viên trong trường đều theo một cấu trúc thống nhất, chất lượng bài soạn được nâng
lên một bước góp phần vào nâng cao chất lượng dạy học.
c) Kiểm tra việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên.
Kiểm tra việc thống nhất cách soạn của từng môn học ở từng khối lớp. Các
dạng bài soạn giờ ôn tập, kiểm tra, thực hành. Yêu cầu về giáo án của giáo viên
mới ra trường, của giáo viên giỏi, của giáo viên cần cố gắng. Chọn câu hỏi phát
vấn, xác định kiến thức trọng tâm của bài cần khắc sâu, rèn kỹ năng gì? Và đồ
dùng dạy học phải chuẩn bị.
Để quản lý tốt việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên, Ban giám
đã chọn các hình thức kiểm tra:
- Kiểm tra đột xuất.
- Kiểm tra trước giờ lên lớp.
Việc đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo điều kiện ghế ngồi, ánh sáng cho học
sinh góp phần quan trọng không nhỏ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy nói
chung và từng bài học nói riêng. Từ năm học 2005 - 2006 nhà trường đã có đủ số
phòng học đạt quy cách về diện tích, ánh sáng. Nhờ đó việc triển khai học nhóm,
học các nhân trong các giờ dạy rất thuận lợi góp phần nâng cao chất lượng giảng
dạy nhưng mặt khác việc mua sắm thêm thiết bị đồ dùng dạy học và sử dụng đồ
dùng trực quan trong từng tiết học được chỉ đạo sát sao. Trước hết cần sử dụng có
hiệu quả đồ dùng sẵn có, hàng tuần nhân viên thiết bị đều có thông báo rõ ràng
môn tiết, tên đồ dùng để giáo viên nắm được và có kế hoạch mượn để sử dụng.
Mặt khác mỗi giáo viên đều có từ 1 - 2 đồ dùng tự làm có giá trị đóng góp vào kho
đồ dùng để dùng chung. Nhà trường định kỳ và đột xuất kiểm tra việc sử dụng đồ
dùng trên lớp. Tuy nhiên việc phát huy ý thức trách nhiệm của các cá nhân và vai
trò giám sát, chỉ đạo của tổ chuyên môn mang tính quyết định. Bên cạnh đó các lớp
học được trang bị đầy đủ mỗi lớp một tủ tường để giáo viên để đồ dùng dạy học,
theo phương châm “ Dễ tìm, dễ thấy và dễ lấy” để sử dụng hiệu quả nhất.
d) Tổ chức các phong trào thi đua, phát huy vai trò của các đoàn thể
trong việc nâng cao chất lượng dạy học.
Công đoàn và Đoàn thanh niên có vai trò rất lớn trong việc động viên các
đoàn viên của mình tham gia xây dựng tập thể và nâng cao chất lượng chuyên
môn. Thông qua các đợt thi đua, nhà trường phối hợp với Công đoàn – Chi đoàn
tạo ra những đợt thi đua sôi nổi, tạo không khí phấn khởi hào hứng trong cán bộ
11
giáo viên, qua đó ý thức chuẩn bị bài dạy, ý thức trách nhiệm trong giờ dạy được
nâng lên rõ rệt đã có tác động to lớn đến chất lượng chuyên môn nói chung và chất
lượng từng giờ dạy nói riêng. Tiếng nói chung của tập thể bao giờ cũng lôi cuốn
được mọi người tham gia khi đó trở thành phong trào tốt thì hiệu quả là rất lớn.
4. Các biện pháp tổ chức công tác kiểm tra, thanh tra.
a) Tăng cường kiểm tra để từng bước nâng cao chất lượng Dạy và Học.
- Để thực hiện tốt mục tiêu đào tạo và giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho
học sinh nắm vững kỹ năng đọc, viết, tính toán, có hiều biết cần thiết về thiên
* Kế hoạch kiểm tra việc thực hiện chương trình ở các môn học gồm:
+ Kiểm tra kế hoạch giảng dạy 1 tuần một lần, trước buổi sinh hoạt chuyên
môn, Ban giám hiệu kiểm tra việc lên kế hoạch giảng dạy của khối trưởng có đúng
với kế hoạch giảng dạy do Bộ GD&ĐT quy định và chỉ đạo của Phòng GD-ĐT
không, sau đó mới cho phổ biến ở tổ.
+ Dự các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn: Phân công để trong một tháng, sinh
hoạt của một tổ chuyên môn có một đại diện giám hiệu vào dự, cùng xây dựng và
giải quyết những vấn đề còn mắc trong chuyên môn của Khối.
+ Dự giờ thăm lớp: Để chọn giáo viên dạy giỏi các cấp, để kiểm tra việc
triển khai chuyên đề, để Thanh tra theo định kì và bồi dưỡng nâng cao khả năng,
nghệ thuật giảng dạy cho giáo viên dưới 2 hình thức: Báo trước và đột xuất.
b) Kiểm tra giờ dạy trên lớp.
Mọi mặt của quá trình dạy học được phản ánh trong giờ lên lớp. Từ một giờ
lên lớp chúng tôi phát hiện ra nhiều mối liên hệ đến vấn đề học tập của học sinh.
Kinh nghiệm dạy và học và tình hình quản lý các bộ phận phục vụ trong trường
(Thư viện, phòng ĐDDH ).
Qua kiểm tra giờ lên lớp của giáo viên Ban giám hiệu nắm được khả năng
tổ chức điều khiển học sinh học tập, truyền thụ kiến thức, phương pháp dạy và học
phù với từng đối tượng của lớp, việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. việc
rèn kỹ năng và hướng dẫn học sinh phương pháp học tập từng bộ môn, cách học ở
nhà, cách học ở lớp của từng giáo viên.
Ban giám hiệu đã vận dụng nhiều hình thức dự giờ khác nhau:
+ Dự giờ các giáo viên khác nhau để kiểm tra chất lượng giảng dạy, học tập
của từng giáo viên trong lớp cụ thể.
+ Dự giờ các giáo viên cùng một bộ môn ở các lớp khác nhau để so sánh
trình độ của họ, rút ra ưu nhược điểm chính của mỗi người, phát hiện ra những vấn
đề cần điều chỉnh trong phương pháp dạy và học môn đó.
13
+ Dự giờ theo chuyên đề nắm chắc trình độ của một giáo viên hay một lớp
học sinh nhằm rút kinh nghiệm về 1 nội dung cần tập trung giải quyết.
14
Trong mỗi năm giáo viên phải được kiểm tra toàn diện hoặc kiểm tra theo
chuyên đề ít nhất một lần. Đối với giáo viên dạy yếu kém hoặc giáo viên mới ra
trường cần kiểm tra giờ lên lớp nhiều hơn. Khi kiểm tra Ban giám hiệu phải nói rõ
được mục đích của việc dự kiểm tra và người được kiểm tra. Đồng thời khi kiểm
tra người cán bộ quản lý cần có thái độ đúng mực. Sau khi kiểm tra có nhận xét
đánh giá và giúp giáo viên khắc phục những tồn tại.
Ngoài việc kiểm tra giờ lên lớp kiểm tra khảo sát theo định kỳ cũng rất quan
trọng, đánh giá chất lượng dạy của giáo viên qua kết quả học tập của học sinh . Khi
kiểm tra khảo sát chất lượng nên tổ chức cho giáo viên trông chéo lớp, chấm điểm
tại trường,và chấm chéo. Sau khi kiểm tra có nhận xét học sinh còn yếu về bộ môn
nào? Toán yếu về thực hiện phép tính hay đọc viết số về giải dãy tính , tìm X, toán
có lời văn.
Tiếng Việt: Còn yếu về từ ngữ, ngữ pháp hay tập làm văn. Sau đó BGH
kiểm tra lại xem việc cho điểm của giáo viên đã chính xác chưa .
Qua kiểm tra sẽ đánh giá đúng chất lượng của từng lớp, có nhận xét trong
hội đồng sư phạm nhà trường.
c) Kiểm tra hoạt động tổ chuyên môn.
Nội dung kiểm tra gồm:
*Kiểm tra tổ trưởng:
- Nhận thức về vai trò của tổ chuyên môn, của tổ trưởng chuyên môn.
- Nhận định của tổ trưởng về từng tổ viên.
* Kiểm tra hồ sơ chuyên môn:
- Các kế hoạch năm học của tổ nhóm cá nhân.
- Các loại sổ biên bản sinh hoạt.
- Các kết quả điều tra cơ bản về học sinh và giáo viên.
* Nề nếp sinh hoạt tổ:
- Thông qua bài, nộp bài soạn.
- Thông báo việc thực hiện chương trình.
- Khối lượng dự giờ, việc chữa bài cho học sinh.
+ Loại C: 0 hồ sơ; bằng 0 %
So với năm học 2006-2007, số hồ sơ xếp loại A tăng 6 hồ sơ, bằng 23,1%;
hồ sơ loại B giảm 15,4%; hồ sơ loại C không có, giảm 7,7%.
- Đánh giá xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên cuối năm
học 2007 - 2008:
16
Tổng số giáo viên được xếp loại: 26 giáo viên
+ Loại Xuất sắc: 16 giáo viên đạt 61,5% (tăng 2 giáo viên).
+ Loại Khá: 10 giáo viên đạt 38,5%.
Nhờ chất lượng công tác soạn giảng được nâng lên rõ rệt lên kết quả xếp loại
học lực của học sinh cũng được nâng lên đáng kể góp phần không nhỏ vào việc
hoàn thành nhiệm vụ năm học của đơn vị. Cụ thể chất lượng giáo dục năm học
2007- 2008 như sau:
* Xếp loại học lực:
Học lực hai môn Toán và Tiếng Việt:
- Môn Tiếng Việt:
TT
Khối
lớp
Học
sinh
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
1 I 60
19 31,7 22 36,7 14 23,3 5 8,3
2 II 57
14 24,6 37 64,9 6 10,5 0 0
3 III 46
18 39,1 22 47,8 6 13,0 0 0
4 IV 48
17
TT
Khối
lớp
Số học
sinh
Thực hiện đầy đủ
Chưa thực hiện đầy
đủ
Ghi chú
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
1 I 60 59 98,3 % 1 1,7
2 II 57 57 100 % 0 0
3 III 46 46 100 % 0 0
4 IV 48 48 100% 0 0
5 V 58 58 100 % 0 0
Cộng 269 268 99,6% 1 0,4%
* So với đầu năm học:
- Học lực Khá, Giỏi môn Toán tăng 13,5%, loại yếu giảm 9,5%.
- Học lực Khá, Giỏi môn Tiếng Việt tăng 15,5%, loại yếu giảm 7,5%.
* Học sinh giỏi cấp tỉnh: được công nhận 09 học sinh trong đó có 01 giải
Nhì, 03 giải Ba và 01 giải Khuyến khích (Tăng 3 học sinh so với năm học 2006-
2007).
18
Phần thứ ba
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN CHUNG.
Tóm lại: Thực trạng soạn bài và thực hiện bài dạy ở trên lớp của giáo viên
những năm trước đây còn nhiều bất cập, đó là:
- Tính hình thức, soạn bài mà không có sự sáng tạo, linh hoạt trong quá trình
khác nhau đều mang lại hiệu quả. Tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
chủ quan ở từng địa phương mà hiệu quả đạt được cao hoặc thấp.
III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ.
Để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục cần có sự quan tâm hỗ trợ
đúng mức của toàn xã hội đối với các nhà trường cùng với sự cố gắng chung của
tập thể cán bộ giáo viên trong nhà trường, trong đó vai trò tổ chức chỉ đạo của
người hiệu trưởng và Ban giám hiệu là một yếu tố quan trọng. Để người cán bộ
quản lý có khả năng áp dụng thành công kinh nghiệm nêu trên vào công tác quản
lý điều hành công việc của mình, chúng tôi có một số đề xuất như sau:
- Đối với ngành : Đề nghị có cơ chế chính sách đào tạo đội ngũ giáo viên
phù hợp hơn nữa, có thể nghiên cứu để đào tạo giáo viên dạy chuyên một số bộ
môn.
- Đối với chính quyền các cấp: Đề nghị tập trung đầu tư cơ sở vật chất cho
các đơn vị trường học, gắn kế hoạch đầu tư CSVC với kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội ở địa phương.
- Đối với các đơn vị trường học: Cần coi trọng đúng mức công tác kiểm tra,
thanh tra chuyên môn, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng soạn bài và thi công trên
lớp của giáo viên, coi đây là biên pháp nâng cao chất lượng giáo dục bởi hai vấn
đề này thực chất có tác động tương hỗ lẫn nhau nếu không muốn nói là một.
- Đối với giáo viên trực tiếp đứng lớp: Cần coi việc “Soạn bài” là một công
việc quan trọng không thể thiếu của người giáo viên. Tránh tư tưởng chỉ cần làm
chiếu lệ, có tính đối phó với các cấp quản lý với những lý do như “ Kết quả dạy
trên lớp là trên hết”. Vì muốn dạy tốt trên lớp thì cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và
chu đáo mọi vấn đề của bài giảng, các tình huống có thể xảy ra Đối với công tác
20
dạy học trên lớp người giáo viên cần tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy
học, sử dụng các hình thức tổ chức học tập hợp lý, sử dụng có hiệu quả đồ dùng
trực quan.
Chung quy lại, Với thời gian và khả năng có hạn nên tôi chỉ nêu lên một số
biện pháp nhỏ trong công tác tổ chức, chỉ đạo giáo viên trong nhà trường với mục
22