Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ LƢU BÁCH TÙNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA,
KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
TẠI VĂN PHÒNG CỤC THUẾ TỈNH HÀ GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. BÙI ĐỨC THỌ
THÁI NGUYÊN - 2014 i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong
bất cứ công trình nghiên cứu nào khác. Các kết quả nghiên cứu của luận văn
có tính độc lập, số liệu và dữ liệu sử dụng trong luận văn đƣợc trích dẫn đúng
quy định./.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Lƣu Bách Tùng
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận đƣợc sự quan tâm
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1
3. Mục tiêu nghiên cứu 2
4. Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài 2
5. Kết cấu luận văn 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP 5
1.1. Lý luận chung về thanh tra, kiểm tra thuế 5
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế 5
1.1.1.1. Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế 5
1.1.2. Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế 8
1.1.3. Yêu cầu đối với thanh tra, kiểm tra thuế 10
1.1.4. Phân loại thanh tra, kiểm tra thuế 11
1.1.5. Phƣơng pháp thanh tra, kiểm tra thuế 12
1.1.6. Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 16
1.2. Những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 18
1.2.1. Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thuế trong thanh tra, kiểm tra
thuế đối với doanh nghiệp 18
1.2.2. Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động
thanh tra, kiểm tra thuế 20 iv
v
3.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang và cơ cấu tổ chức Cục
Thuế Hà Giang 41
3.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội 41
3.1.2. Đặc điểm và tính đặc thù ngƣời nộp thuế trên địa bàn tỉnh Hà Giang 43
3.1.3. Tổ chức bộ máy của Cục Thuế tỉnh Hà Giang 44
3.1.4. Tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra thuế ở Văn phòng Cục Thuế
tỉnh Hà Giang 45
3.2. Thực trạng công tác thanh tra thuế, kiểm tra thuế đối với các doanh
nghiệp tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang 49
3.2.1. Công tác lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế 49
3.2.2. Công tác tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế 55
3.2.3. Đánh giá chung về công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp tại văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang thời gian qua 68
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 75
Chƣơng 4: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA,
KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI VĂN PHÒNG CỤC
THUẾ TỈNH HÀ GIANG TRONG THỜI GIAN TỚI 76
4.1. Quan điểm đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế 76
77
78
79
79
4.2. Các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với
doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Hà Giang trong thời gian tới 80 vi
4.2.1. Tiếp tục phát triển về số lƣợng, chất lƣợng nguồn nhân lực trong hệ
thống thanh tra, kiểm tra thuế 80
Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế giai đoạn 2011 - 2013 của Cục
Thuế tỉnh Hà Giang tổng hợp theo số hồ sơ khai thuế 56
Bảng 3.4: Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại Cục Thuế tỉnh Hà Giang
giai đoạn 2011 - 2013 tổng hợp theo số doanh nghiệp kiểm tra 57
Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra thuế tại trụ sở ngƣời nộp thuế giai đoạn 2011 -
2013 của Cục Thuế tỉnh Hà Giang 60
Bảng 3.6: Kết quả thanh tra thuế giai đoạn 2011 - 2013 của Cục Thuế tỉnh
Hà Giang 61
Bảng 3.7: Số liệu kết quả Thanh tra thuế năm 2012 tại Công ty TNHH Trí
Hƣng Hà Giang 65 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng nhất
trong công tác quản lý thuế, bởi vì thanh tra, kiểm tra thuế là cách thức cơ bản để
cơ quan thuế cảnh báo, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những gian lận thuế.
Thanh tra, kiểm tra thuế cũng giúp phát hiện những bất hợp lý trong chính sách
thuế và pháp luật thuế để nghiên cứu bổ sung, sửa đổi kịp thời nhằm phát huy tốt
nhất vai trò của thuế trong việc đảm bảo số thu cho ngân sách Nhà nƣớc và điều
tiết vĩ mô nền kinh tế. Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu quả quản lý thuế, một trong
những việc mà cơ quan thuế các cấp phải làm là thƣờng xuyên hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
Trong những năm qua, ngành Thuế tỉnh Hà Giang đã hoàn thành tốt
nhiệm vụ thu ngân sách, tốc độ tăng trƣởng năm sau luôn cao hơn năm trƣớc.
Trong kết quả chung của ngành Thuế tỉnh Hà Giang có phần đóng góp không
nhỏ của công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm
tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Hà Giang vẫn còn những hạn chế nhất định, cần
nghiên cứu hoàn thiện để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế. Đặc biệt,
4. Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài
Thanh tra, kiểm tra thuế là chức năng rất quan trọng của hoạt động
quản lý thuế nên thời gian qua ở Việt Nam có rất nhiều công trình khoa học
nghiên cứu về vấn đề này với sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học,
nhà quản lý, nghiên cứu sinh và học viên cao học. Tiêu biểu là các công trình
nghiên cứu sau đây:
- “Giáo trình Quản lý thuế” của Học viện Tài chính có một chƣơng
viết về thanh tra, kiểm tra thuế (chƣơng 6). Tài liệu này đã cung cấp những
vấn đề lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế và giới thiệu nghiệp vụ cơ bản của
công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam. Đây là công trình mang tính học
thuật, trang bị lý luận cơ bản để tiếp cận và nghiên cứu chuyên sâu về thanh
tra, kiểm tra thuế.
- Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh với công trình nghiên cứu “Công tác
thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh” trình bày tại Hội 3
nghị tổng kết công tác thuế năm 2011 của Tổng cục Thuế. Công trình này
trình bày về tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế do cơ quan
thuế thực hiện, đánh giá thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục
Thuế tỉnh Quảng Ninh năm 2011, chỉ ra những nguyên nhân của thành công
và hạn chế trong thực tế và đề xuất những định hƣớng giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh. Nhƣ
vậy, công trình này không nghiên cứu toàn diện về công tác thanh tra, kiểm
tra thuế, cả trên phƣơng diện lý luận và thực tiễn, mà chỉ tập trung nghiên cứu
sâu thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại tỉnh Quảng Ninh.
- Luận văn thạc sĩ kinh tế “Kiểm tra thuế trong điều kiện quản lý thuế
hiện nay tại Cục Thuế Hải Phòng” (2012) của Nguyễn Hữu Thọ. Đề tài này
hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kiểm tra đối với
ngƣời nộp thuế. Từ nghiên cứu lý luận, đề tài đề cập đánh giá thực trạng của
Qua nội dung tóm tắt các công trình đã nghiên cứu về vấn đề này cho
thấy, đến nay chƣa có công trình nghiên cứu nào về công tác thanh tra, kiểm
tra thuế đối với doanh nghiệp do Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang trực tiếp
quản lý. Tuy nhiên, những vấn đề lý luận hoặc một số phần thực tiễn Việt
Nam nói chung thì đã đƣợc đề cập ở nhiều công trình khoa học khác. Đây là
nền tảng lý luận mà luận văn này có thể kế thừa để đi sâu nghiên cứu thực
tiễn hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ở Văn phòng Cục
Thuế tỉnh Hà Giang.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn đƣợc trình bày trong 4
chƣơng. Cụ thể nhƣ sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế và những vấn đề
cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp.
Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 3: Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011 - 2013.
Chƣơng 4: Các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối
với doanh nghiệp tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Hà Giang trong thời gian tới.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP
1.1. Lý luận chung về thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.1.1. Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình
hình thực tế của đối tƣợng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ,
phạm pháp luật, có thể chỉ là không đúng kế hoạch, không đúng yêu cầu, )
Thứ tư, hoạt động kiểm tra có phạm vi rộng hơn, diễn ra ở tất cả các
hoạt động kinh tế - xã hội và đƣợc thực hiện một cách thƣờng xuyên liên tục.
Hoạt động thanh tra có phạm vi hẹp hơn vì hoạt động thanh tra là kiểm tra ở
giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã phát sinh. Hoạt động thanh
tra phải giải quyết các “tồn đọng” trong quản lý, giải quyết các khiếu tố đối
với các vi phạm của đối tƣợng kiểm tra.
Thứ năm, về hình thức tổ chức: để tiến hành hoạt động thanh tra phải
thành lập đoàn thanh tra, trong khi kiểm tra có thể phải thành lập đoàn kiểm
tra, có thể chỉ do một ngƣời tiến hành, không nhất thiết phải thành lập đoàn.
Cũng có trƣờng hợp cấp trên yêu cầu cấp dƣới tự kiểm tra một hoặc một số
nội dung và báo cáo kết quả bằng văn bản cho cấp trên.
Công tác thanh tra và kiểm tra tuy có những điểm khác nhau song đều
là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý của Nhà nƣớc.
Việc phân biệt thanh tra và kiểm tra không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà
còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, tránh sự chồng chéo,
giảm bớt phiền hà cho các đối tƣợng đƣợc thanh tra, kiểm (Học viện Tài chính
(2010), Giáo trình Quản lý thuế, tr215-216). 7
1.1.1.2. Đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với các đặc điểm cơ
bản sau:
Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế có phạm vi rộng. Đối tƣợng thanh tra,
kiểm tra là các tổ chức, cá nhân trong ngành Thuế, là đối tƣợng nộp thuế bao
gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các
Luật thuế.
Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì
nó đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tƣợng nộp thuế. Để che
công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập
trong quản lý Nhà nƣớc; ngăn chặn đúng lúc các hành vi tiêu cực, tránh
những tổn thất nặng nề cho Nhà nƣớc và nhân dân.
Thứ ba, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật
thuế, ngăn ngừa, loại trừ các hành vi trốn, lậu thuế. Đây là yêu cầu thiết yếu
của công tác thanh tra, kiểm tra thuế; đạt đƣợc yêu cầu này thì công tác thanh
tra, kiểm tra thuế mới làm tròn chức năng và nhiệm vụ của mình. (Học viện
Tài chính (2010), Giáo trình Quản lý thuế, tr217).
1.1.2. Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn
ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nƣớc, của nhân
dân, của các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cƣờng
pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Để đạt đƣợc mục đích trên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân
thủ những nguyên tắc nhất định. Đó là các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nƣớc, nguyện vọng và lợi ích của nhân
dân. Thanh tra, kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải
tuân thủ pháp luật. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm
của chủ thể thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm 9
tra thuế; ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hoá hoạt động thanh
tra, kiểm tra thuế.
Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và công chức
làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách
nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của đối tƣợng
kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của
bất cứ một cơ quan hoặc cá nhân nào. Kết luận thanh tra, kiểm tra theo đúng
tra. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý
kiến của mọi đối tƣợng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tƣợng thanh tra,
kiểm tra đƣợc trình bày ý kiến của mình, nhất là khi giải quyết các khiếu nại,
tố cáo của công dân.
- Nguyên tắc bảo vệ bí mật
Cần quán triệt nguyên tắc này trong thanh tra, kiểm tra thuế là vì trong
qúa trình thanh tra, kiểm tra ngƣời làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề,
nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí
mật quốc gia. Nếu để lộ cho những đối tƣợng không đựơc phép biết sẽ làm
thiệt hại lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp. Do vậy, họ chỉ đƣợc báo
cáo cho những ngƣời có thẩm quyền đƣợc biết.
- Nguyên tắc hiệu quả
Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho thanh tra, kiểm tra thuế đạt
đƣợc mục đích của nó. Nguyên tắc này đòi hỏi thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm
bảo tính hiệu quả, nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu
sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối tƣợng kiểm tra thực hiện đúng chính
sách thuế. (Học viện Tài chính (2010), Giáo trình Quản lý thuế, tr218-219)
1.1.3. Yêu cầu đối với thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động có tính chất pháp lý cao, liên quan
đến lợi ích kinh tế và chính trị của nhiều đối tƣợng trong xã hội. Do đó, công
tác thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau đây: 11
Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo chính xác, khách quan,
trung thực, xử lý đúng ngƣời đúng tội, không bao che, quy chụp cho các đối
tƣợng đƣợc thanh tra, kiểm tra. Đây chính là những yêu cầu hàng đầu của
thanh tra, kiểm tra thuế vì chỉ khi đảm bảo những yêu cầu này mới đạt đƣợc
mục đích của công tác thanh tra, kiểm tra thuế, mới làm cho thanh tra, kiểm
tra thuế thực sự trở thành cán cân công lý, mới có đƣợc sự tin tƣởng của quần
trên, cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra hay do lãnh đạo đơn vị đặt ra.
- Theo yếu tố phạm vi:
+ Thanh tra, kiểm tra từng phần: thƣờng đƣợc áp dụng với một sắc
thuế nhất định hoặc một phần của quy trình thu nộp.
+ Thanh tra, kiểm tra toàn phần: Áp dụng trên toàn diện các mặt công
tác của một cơ quan thuế, một cá nhân hay toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế
với tất cả các sắc thuế có liên quan của một đối tƣợng nộp thuế.
- Theo địa điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra:
+ Thanh tra, kiểm tra tại bàn (tại cơ quan thuế): Công tác kiểm tra các
hồ sơ liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của cơ sở kinh doanh đƣợc
thực hiện tại cơ quan thuế.
+ Thanh tra, kiểm tra tại cơ sở kinh doanh: Công việc thanh tra, kiểm
tra đƣợc thực hiện tại trụ sở của ngƣời nộp thuế; cho phép công chức thanh
tra, kiểm tra tiếp cận với tình hình thực tế, tài liệu cụ thể của cơ sở nhƣ sổ
sách chứng từ kế toán, quỹ tiền mặt thực tế, sản phẩm tồn kho thực tế…
1.1.5. Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế
Phƣơng pháp thanh tra, kiểm tra đóng vai trò quan trọng trong việc phát
huy hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra. Những phƣơng pháp đƣợc sử
dụng trong công tác thanh tra, kiểm tra bao gồm: Phƣơng pháp vận dụng kỹ
thuật quản lý rủi ro; phƣơng pháp đi từ tổng hợp đến chi tiết; phƣơng pháp đối
chiếu, so sánh; các phƣơng pháp kiểm tra chứng từ gốc; các bổ trợ. Cụ thể
nhƣ sau: 13
1.1.5.1. Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro
Xét riêng trong lĩnh vực quản lý thuế, rủi ro đƣợc hiểu là những tổn thất
có thể xảy ra phát sinh từ các hoạt động không tuân thủ pháp luật thuế trong
một môi trƣờng, hoàn cảnh cụ thể.
Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro, rủi ro bao gồm: Rủi ro tiềm tàng, rủi ro
AR = IR * CR * DR
Quản lý rủi ro về thuế là một quá trình nhận diện, đánh giá, phân tích
để có phƣơng án giải quyết một cách có hệ thống nhằm tối đa hóa khả năng
xảy ra khi có hiệu quả tích cực và tối thiểu hóa khả năng xảy ra khi có hiệu
quả tiêu cực. Quản lý rủi ro có thể đƣợc hiểu là quá trình lựa chọn và thực
hiện các giải pháp trong bối cảnh nguồn lực có hạn để giảm thiểu nguy cơ xấu
đe dọa đến sự thành công của tổ chức. Quản lý rủi ro cũng là một quá trình đo
lƣờng hay đánh giá về quy mô và tính chất nghiêm trọng của một sự việc, một
hiện tƣợng, một vấn đề, trên cơ sở đó lập chiến lƣợc quản lý rủi ro. Nhƣ vậy,
điều quan trọng trong quản lý rủi ro là dành ƣu tiên mọi nguồn lực vào quản
lý những rủi ro có thể xảy ra tổn thất lớn nhất và những rủi ro có nhiều khả
năng xảy ra nhất, tiếp đến là quản lý những rủi ro có tổn thất thấp hơn và ít có
khả năng xảy ra hơn.
Việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thực chất
là việc phân loại, đánh giá ngƣời nộp thuế dựa trên hệ thống những tiêu thức
rủi ro về thuế nhằm xác định những ngƣời nộp thế có mức độ tuân thủ thấp và
khả năng gian lận cao về thuế để tập chung nguồn lực thanh tra, kiểm tra theo
nguyên tắc ƣu tiên nguồn lực thanh tra, kiểm tra những ngƣời nộp thuế có thể
mang lại tổn thất lớn nhất và những sai phạm có nhiều khả năng xảy ra nhất.
1.1.5.2. Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phƣơng pháp đối chiếu, so sánh là phƣơng pháp nghiệp vụ đƣợc sử dụng
chủ yếu trong suốt quá trình tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra thuế.
Công chức thanh tra, kiểm tra thuế cần tiến hành so sánh, đối chiếu các
nội dung cần thanh tra, kiểm tra để xác định tính hợp lý, khách quan, trung thực
của nội dung cuộc kiểm tra: đối chiếu tài liệu, số liệu của đơn vị đƣợc kiểm tra
với đơn vị khác; đối chiếu giữa báo cáo kế toán với sổ kế toán, giữa sổ kế toán 15
tổng hợp với chi tiết, giữa số liệu và chứng từ, giữa số liệu báo cáo và thực tế,