Nghiên cứu một số tính chất hóa lý về hấp phụ của hạt hấp phụ chế tạo từ bùn đỏ - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Ô nhiễm nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang là một vấn đề nhức
nhối hiện nay bởi những tác hại to lớn của chúng đến chất lượng môi trường và sức khỏe con
người trên toàn thế giới. Đặc biệt từ khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ ra đời một mặt năng
suất lao động nâng cao một cách đáng kể, nhưng đồng thời kèm theo đó là mức độ tàn phá môi
trường sống của chính chúng ta ngày càng đáng sợ và nghiêm trọng hơn. Nước thải công nghiệp
kèm theo các chất độc hại như kim loại nặng đang là mối nguy hiểm đối với môi trường cũng như
chất lượng cuộc sống của người dân.
Ở Việt Nam, ô nhiễm môi trường nước cũng đang ở mức báo động. TP. Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng, Vinh, Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố lớn là những nơi dẫn đầu về mức độ ô nhiễm: Ô
nhiễm hữu cơ, ô nhiễm vô cơ, ô nhiễm kim loại nặng. Đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng đang là
vấn đề báo động ở các khu công nghiệp , các cơ sở sản xuất.
Hiện nay các nhà khoa học trong và ngoài nước đang nỗ lực nghiên cứu các phương pháp
khác nhau để loại bỏ kim loại nặng trong nước đến mức chấp nhận được đồng thời cũng đảm bảo
tính hiệu quả về mặt kinh tế. Ngoài các phương pháp vật lý, hóa học cũng như sinh học đã và
đang dùng hoặc đang được nghiên cứu để đưa vào ứng dụng thì việc nghiên cứu sử dụng các vật
liệu, chất liệu là vấn đề cần thiết cho bất cứ một ngành nghề nào. Đặc biệt sử dụng các vật liệu tự
nhiên, tái sử dụng các phế thải thân thiện với môi trường luôn được đặt lên hàng đầu nhằm không
gây tổn hại tới môi trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững mà vẫn đem lại hiệu quả cao khi
sử dụng.
Kim loại nặng có vai trò thật sự to lớn trong quá trình phát triển của loài người, đặc biệt
trong các ngành công nghiệp. Tuy nhiên chất thải có chứa kim loại nặng ở trạng thái ion ( kim loại
nặng tồn tại trong nước, đất…) thỡ nú lại cực kỳ độc hại với con người, thực vật, động vật nếu nó
thâm nhập vào cơ thể. Tích lũy với nồng độ cao kim loại nặng có thể gây ung thư cho con người,
động vật, còn thực vật không phát triển được…
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu nhằm tìm ra phương pháp tối ưu nhất để loại bỏ
ion kim loại nặng ra khỏi môi trường bị ô nhiễm. Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên
cứu loại bỏ kim loại nặng ra khỏi môi trường nước.
Đề tài nghiên cứu sự hấp phụ của hạt hấp phụ chế tạo từ bùn đỏ nhằm tìm thêm một phương
pháp mới có thể loại bỏ kim loại nặng ra khỏi môi trường bị ô nhiễm kim loại nặng.

nồng độ, thời gian, nhiệt độ, theo pH dung dịch, tỷ lệ vật liệu hấp phụ, v.v và đo
nồng độ bẵng phương pháp AAS.
- Đo điểm điện tích không của các mẫu thí nghiệm
• Nghiên cứu tính chất đẳng điện
• Nghiên cứu tích chất nhiệt động học của các quá trình hấp phụ phụ thuộc theo nồng độ.
• Tìm phương pháp chế tạo ra một số dạng hạt vật liệu để ứng dụng thực tế.
2
6. Giả thuyết khoa học.
- Dựa vào thành phần cơ bản của bùn đỏ có hàm lượng Al
2
O
3
= 15-25%; Fe
2
O
3
= 17,1-
22,3% gần giống với đá Bazan ( Các nghiên cứu gần đây đã cho kết quả đá Bazan có khả năng
hấp phụ tốt các ion kim loại nặng trong nước thải).
- Dựa vào những báo cáo khoa học về khả năng hấp phụ ion kim loại nặng của hạt chế tạo
từ bùn đỏ [ 12, 14, 61 ].
Vì vậy chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu các tính chất hóa lý cơ bản về hấp phụ của hạt hấp
phụ chế tạo từ bùn đỏ.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
I.1 Tổng quan về Bauxite [ 5 ]
I.2 Quá trình hình thành và phân bố.
I.2.1 Hình thành
I.2.2 Phân bố [5]
I.2.3 Thành phần khoáng vật

Có 2 quá trình hấp phụ: hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học
I.6.2 Nhiệt hấp phụ
• Nhiệt hấp phụ hóa học khá lớn, từ 40 ữ 800 kJ/mol, nhiều khi gần bằng nhiệt của phản ứng hóa
học. Vì vậy nó tạo thành mối nối hấp phụ khá bền và muốn đẩy chất bị hấp phụ ra khỏi bề mặt
xúc tác rắn cần nhiệt độ khá cao.
• Nhiệt hấp phụ lý học thường không lớn, gần bằng nhiệt hóa lỏng hay bay hơi của chất bị hấp
phụ ở điều kiện hấp phụ và thường nhỏ hơn 20 kJ/mol.
I.6.3 Lượng chất bị hấp phụ
I.6.4 Sự phụ thuộc của nhiệt độ
• Hấp phụ lý học thường xảy ra ở nhiệt độ thấp, khi nhiệt độ tăng thì lượng chất hấp phụ giảm.
• Hấp phụ hóa học thường tiến hành ở nhiệt độ cao hơn hấp phụ lý học, ở nhiệt độ thấp thì lượng
chất hấp phụ hóa học giảm và khi nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ tối ưu thì lượng chất hấp phụ hóa học
cũng giảm.
I.6.5 Tính chất của các điểm hấp phụ
I.6.6 Năng lượng hoạt hóa hấp phụ
I.6.7 Trạng thái của chất bị hấp phụ
I.6.8 Cân bằng và đẳng nhiệt hấp phụ:
* Hấp phụ đẳng nhiệt
* Phương trình đẳng nhiệt Langmuir
Giả thuyết của Langmuir (1918):
4
k
a
k
d
= K
l
n
i
= n

m
.K
L
1
C
e
.
C
e
q
e
=
1
q
m
+
1
q
m
.K
L
C
e
(7).
q=f (C) (1)
Tốc độ hấp phụ r
a

a
= r
d
. Đặt => được (4)
Vì mỗi tõm chỉ chứa một phõn tử bị hấp phụ nên n được coi là nồng độ chất
hấp phụ
tối đa và n
i
bằng nồng độ chất bị hấp phụ trong trạng thái cân bằng với C
e
của chất hấp phụ.
(5)
Biểu thức (5) gọi là phương rình Langmuir được xõy dựng cho hệ hấp phụ khí rắn, mô tả
mối quan hệ giữa q và C.
Biểu thức (5) ta có thể viết thành:
Với:
q
e
: nồng độ chất bị hấp phụ trong trạng thái cân bằng với C
e
q
m
: nồng độ chất bị hấp phụ tối đa
K: hằng số hấp phụ
C: Nồng độ cân bằng của chất hấp bị hấp phụ
5
(6) hoặc
q =
( C
0

1
b.q
m
=
=
(10)
X
m
=
K.C
1/n
X
m
=
log logK +
1
n
log
C
Biểu thức (7) có dạng phương trình y = a.x +b (8)
Trong đó:
x
i
, y
i
là các số liệu thực nghiệm
a : hệ số góc
b: hằng số
Từ (7) và (8) suy ra:
* Phương trình đẳng nhiệt Freundlich

Fe
2
O
3
36,280 P
2
O
5
0,163
SiO
2
8,486 Cr
2
O
3
0,12
CaO 0,0661 CuO 0,015
MgO kph ZnO 0,01
TiO
2
5,389 ZrO2 0,0637
MnO 0,0452 SO
3
0,221
K
2
O 0,024 MKN 20,33
II.1.2 Phân tích nhiệt vi sai mẫu BBL2
Dựa vào bảng 10 khối lượng BBL2 mất khi nung là 20,33%. Mặt khác dựa vào kết quả
phân tích nhiệt vi sai mẫu BBL2 sau khi nung (hình 7)chúng tôi thấy rắng khi nung mẫu từ 28

C đang bán trên thị trường chính vì thế
chúng tôi chọn nhiệt độ để nung mẫu là từ 400
0
C

đến 900
0
C.
7
II.1.3 Thí nghiệm tạo hạt
Chuẩn bị
- Bùn đỏ kích thước < 0,16 mm - Máy lắc ổn nhiệt
- Chậu thủy tinh - Tủ sấy
- Thủy tinh lỏng Na
2
O - SiO
2
- Máy ép hạt
- Dầu cốc - Cân điện tử
- Nước cất 1 lần, 2 lần - Pipet, cốc đong các loại
- Cân khối lượng chính xác từng lượng bùn đỏ và đong chính xác thể tích thủy tinh
lỏng(Na
2
SiO
3
) theo từng tỷ lệ nhất định, thêm lượng nước phù hợp và trộn nhuyễn.
- Tương tự cân khối lượng chính xác từng lượng bùn đỏ và đong chính xác thể tích dầu cốc
theo từng tỷ lệ nhất định, thêm lượng nước phù hợp và trộn nhuyễn.
- Dùng máy ép tạo hạt đường kính cỡ 2,5 mm
- Phơi khô ngoài nắng.

2+
cho vào lọ nhựa 50ml. Kí hiệu C
01
- Dùng pipet hút 25ml dung dịch Pb
2+
cho vào các lọ C1, C3, C5, C6.
- Cho các lọ C1, C3, C5, C6 vào máy lắc ổn nhiệt ở 35
0
C, lắc trong 24 tiếng.
- Sau thời gian lắc, lọc các lọ C1, C3, C5, C6.
8
- Đo nồng độ các mẫu C
01
, C1, C3, C5, C6 sau lọc theo phương pháp phân tích TCN. 01 –
I HT NT/94 với thiết bị máy HT NT Perkinelmer Aanalit 800 ( gọi tắt là phương pháp AAS) tại
Trung tâm phân tích thí nghiệm địa chất- Cục địa chất và khoáng sản Việt Nam.
- Xử lý kết quả theo công thức (2)
q
e
=
(C
0
- C
e
)V
(2) và % hấp =
C
0
- C
e

% hấp
1 C1 1,0126 1279 400 21,70 68,73
2 C3 1,0198 1279 490 19,34 61,69
3 C5 1,0150 1279 610 16,48 52,31
4 C6 1,0160 1279 605 16,58 52,70
Hình 8: So sánh Qe của các mẫu hạt Hình 9: So sánh % hấp của các mẫu hạt
Nhận xét: Trong 4 mẫu đạt yêu cầu trên, xét thấy mẫu C1 có dung lượng hấp và % hấp là
tốt nhất đáp ứng được yêu cầu của một vật liệu hấp phụ thực tế. Vì thế chúng tôi chọn mẫu C1
làm hạt nghiên cứu.
II.1.6 Đặc trưng cấu trúc của vật liệu hấp phụ C1
Đối với bất kì một vật liệu hấp phụ nào thì diện tích bề mặt và đường kính xốp là hai yếu tố
quan trọng quyết định đến khả năng hấp phụ của vật liệu. Chúng tôi tiến hành đo diện tích bề mặt
và đường kính lỗ xốp thu được kết quả như sau:
Diện tích bề mặt theo phương trình BET
Diện tích bề mặt BET = 109,5494 m
2
/ g
Đường kính lỗ xốp = 69,2219 A
0
9
Từ kết quả trờn thỡ C1 có khả năng hấp phụ rất tốt.
II.2 Xác định điểm điện tích không của hạt.
II.2.1 Chuẩn bị thí nghiệm
II.2.2 Tiến hành thí nghiệm
* Xử lý kết quả:
- Xác định sự biến đổi pH trước và sau khi hấp phụ: ∆pH = pH
đ
- pH
c
- Xây dựng đường biểu diễn mối quan hệ giữa ∆pH và pH

II.3.1.1 Khảo sát ảnh hưởng của môi trường pH đến khả năng loại Pb
2+
bằng vật liệu hạt C1
Môi trường là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng loại Pb
2+
Điều kiện và tiến hành khảo sát:
- Cân 0,0082 gam Pb(NO
3
)
2
99,5% cho vào bình thủy tinh 1000ml, pha thành 1000ml dung
dịch bằng cách cho từ từ nước cất 2 lần vào bình thủy tinh và lắc đều. Dùng dung dịch HCl 0,1M
hoặc NaOH 0,1M để chuẩn độ pH của dung dịch bằng 4. Làm tương tự như vậy để chuẩn bị được
dung dịch cú cỏc pH tiếp theo là 5, 6, 7, 8, 9.
- Sau 180 phút, lọc dung dịch các lọ C1H1, C1H2, C1H3, C1H4, C1H5, C1H6.
10
- Đo nồng độ các mẫu C
0
H
1
, C
0
H
2,
C
0
H
3,
C
0

4 C1H4 1,0035 7 4,31 0,27 0,101 93,74
5 C1H5 1 8 0,92 0,05 0,022 94,57
6 C1H6 0,999 9 0,56 0,12 0,011 78,57

Hình 11: Dung lượng hấp Pb
2+
phụ thuộc vào pH Hình 12: Sự phụ thuộc % loại Pb
2+
vào pH
Nhận xét:
- Từ bảng 14 và hình 11, 12 cho thấy hạt C1 hấp phụ Pb
2+
tốt trong khoảng pH = 5,5 - 6,5
khoảng pH này thấp hơn so với PZC của hạt (pH = 9,3).
- Kết quả tuy ngược với lý thuyết PZC, vì ở pH này hạt C1 sẽ hấp phụ anion tốt hơn nhưng xét
về thực tế khi pH lớn hơn 7 thì ion chì bị kết tủa nên ở pH 8, 9 nồng độ đầu

Pb
2+
bị giảm xuống
đột ngột. Lượng chì kết tủa sẽ bỏm lờn bề mặt hạt C1 làm giảm dung lượng hấp và % hấp của C1.
Từ kết quả khảo sát ảnh hưởng cho thấy nên chúng tôi chọn pH tối ưu để xử lý Pb
2+
là pH =6.
II.3.1.2 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến khả năng loại Pb
2+
bằng vật liệu hạt C1
Bảng 15: Kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng thời gian đến khả năng loại Pb
2+
của hạt C1

rõ rệt, sau 90 phút khả năng loại Pb
2+
đạt trạng thái bão hòa đến 120 phút C
e
giảm không
đáng kể.
- Do đó chúng tôi chọn thời gian tối ưu để xử lý Pb
2+
là 90 phút.
II.3.1.3 Khảo sát ảnh hưởng của khối lượng C1 dùng để hấp phụ
Bảng 16: Kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng của khối lượng hạt C1 đến khả năng loại Pb
2+
STT Mẫu Khối lượng (g) C đầu mg/l C sau mg/l
Dung
lượng hấp
Qe(mg/g)
% hấp
1 C1M1
0,0524
194,4 165,7 13,931 14,76
2 C1M2
0,109
194,4 142 12,133 26,95
3 C1M3
0,1946
194,4 108 11,164 44,44
4 C1M4 0,4079 194,4 44,37 9,226 77,18
5 C1M5 0,7028 194,4 0,41 6,918 99,79
6 C1M6 0,9969 194,4 0,2 4,883 99,90
Hình 14: Ảnh hưởng của khối lượng hạt C1 đến khả năng loại Pb

- Từ đồ thị kết quả cho thấy hàm lượng C1 tăng lên thì khả năng loại Pb
2+
tăng.
II.3.1.4 Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Pb
2+
trong dung dịch
Bảng 17: Kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng nồng độ Pb
2+
đến

khả năng hấp phụ của hạt C1.
STT Mẫu
Khối
lượng
(g)
Co
đầu
(mg/l)
Ce sau
(mg/l)
Qe
(mg/g)
% hấp Ce/Qe
LogCe
(mg/l)
LogQe
(mg/g)
1
C16
0,9904 1,12 0,001 0,03 99,91 0,04 -3,00 -1,55

1
q
m
+
1
q
m
.K
L
C
e
.
1
q
m
1
0,046
C1(Pb
2+
) dạng đường thẳng Freundlich C1(Pb
2+
) dạng đường thẳng
Nhận xét:
- Ở điều kiện ( m, V, T, pH, t ) = const q
e
tỷ lệ thuận với C
0
tuy nhiên bị chi phối bởi (C
0
-

Dựa vào phương trình Langmuir:
Tương đương với: y = 0,0327x + 0,0389
Suy ra = 0,046 q
m
= = 21,73 (mg/g)
Như vậy dung lượng hấp phụ cực đại của C1 đối với ion Pb
2+
là 21,73 (mg/g)
* So sánh với than hoạt tính DC bỏn trên thị trường
Bảng 18: Kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng nồng độ Pb
2+
đến

khả năng hấp phụ của hạt CD
STT Mẫu
Khối
lượng
(g)
Co đầu
(mg/l)
Ce sau
(mg/l)
Qe
(mg/g)
% hấp Ce/Qe
LogCe
(mg/l)
LogQe
(mg/g)
1

q
m
+
1
q
m
.K
L
C
e
.
Hình 19: Phương trình đẳng nhiệt Langmuir
CD(Pb
2+
) dạng đường thẳng
Hình 20: Phương trình đẳng nhiệt
Freundlich CD(Pb
2+
) dạng đường thẳng
Từ bảng 20 và 21 ta thấy dung lượng hấp và % hấp của CD nhỏ hơn so với C1, Đường
Langmuir của CD cũng có độ tin cậy cao nên ta cũng chọn phương trình Langmuir làm cơ sở tính
toán dung lượng hấp phụ cực đại.
Dựa vào phương trình Langmuir:
Tương đương với: y = 0,0526x + 6,0514
Suy ra = 0,0526 q
m
= = 19,01 (mg/g)
Dung lượng hấp phụ cực đại của CD nhỏ hơn C1 là 1,14 lần.
II.3.2 Khảo sát khả năng hấp phụ As(V) bằng vật liệu hạt C1
Bảng 19: Kết quả thí nghiệm xác định ảnh hưởng pH

- Từ bảng 19 và hình 21 cho thấy hạt C1 hấp phụ As(V)

tốt trong khoảng pH = 6,5- 7,5
khoảng pH này thấp hơn so với PZC của hạt (pH= 9,3)
- Kết quả phù hợp với lý thuyết PZC vì ở pH này hạt C1 sẽ hấp phụ anion tốt
Từ kết quả khảo sát ảnh hưởng cho thấy nên chúng tôi chọn pH tối ưu để xử lý As(V) là pH = 7
II.3.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến khả năng loại As(V) bằng vật liệu hạt C1
Bảng 20: Kết quả TN xác định ảnh hưởng thời gian

đến

khả năng hấp phụ As(V) của hạt C1
STT Mẫu
Khối
lượng (g)
thời
gian
(phút)
C đầu
(mg/l)
C sau
(mg/l)
Dung lượng
hấp
Qe(mg/g)
% hấp
1 C1ST1 1,013 10 5 4,90 0,002 2,00
2 C1ST2 1,0059 30 5 4,17 0,021 16,60
3 C1ST3 1,008 60 5 4,07 0,023 18,60
4 C1ST4 1,0056 90 5 3,84 0,029 23,20

C sau
mg/l
Dung
lượng hấp
Qe(mg/g)
% hấp
1 C1M1S
0,2513
1,67 1,40 0,027 16,17
2 C1M2S
0,5032
1,67 1,20 0,023 28,14
3 C1M3S
0,7533
1,67 1,03 0,021 38,32
4 C1M4S 1,0103 1,67 0,90 0,019 46,11
5 C1M5S 1,5042 1,67 0,60 0,018 64,07
6 C1M6S 1,9922 1,67 0,55 0,014 67,07
Hình 24: Ảnh hưởng của khối lượng C1

đến

khả năng hấp phụ As(V)
Nhận xét:
- (C
0
, V, pH, T, t) ở điều kiện không đổi. C
e
và m biến thiên.
- Do q

Khối
lượng
(g)
Co đầu
(mg/l)
Ce sau
(mg/l)
Qe
(mg/g)
% hấp Ce/Qe
LogCe
(mg/l)
LogQe
(mg/g)
1
C1S1
1,0115 0,50 0,05 0,01 90,00
4,5
0 -1,30 -1,95
2
C1S2
1,0036 4,94 4,09 0,02 17,21 193,16 0,61 -1,67
3
C1S3
0,9942 9,96 8,82 0,03 11,45 307,68 0,95 -1,54
4
C1S4
0,9914 20,21 18,04 0,05 10,74 329,67 1,26 -1,26
5
C1S5

- Ở điều kiện ( m, V, T, pH, t ) = const q
e
tỷ lệ thuận với C
0
tuy nhiên bị chi phối bởi (C
0
-
C
e
). khi C
0
tăng thì q
e
cũng tăng theo. Ngược lại % hấp lại tỷ lệ nghịch với C
0
. Nên khi C
0
tăng thì
% hấp giảm.
- Nồng độ đầu As(V) càng thấp thì hạt C1 hấp phụ As(V) càng tốt biểu hiện ở Qe thấp và %
hấp cao. Dựa vào hình 26 và hình 27 hai phương trình đẳng nhiệt đường Langmuir
và Fredlich ta
nhận thấy đường Langmuir rất gần với thực nghiệm hơn, trong khi đó
đường Freundlich lệch
nhiều so với thực nghiệm. Đồng thời hệ số tương quan của
đường Langmuir là R
2
= 0,8726
và đường Freundlich là R
2

= (C
0
– C
e
).V ( ml/g)
C
e
. m
Với:
T C
0
C
e
V(ml) m
308
50
47,0
8
25
1,0013
318 50 48 25 0,9959
19
Thay giá tri C
0
, C
e
, V, m ta có
T
Kd
308

0
: biến thiên entropi
T: nhiệt độ (
0
K)
Tại 35
0
C:
LnK
d1
=
- ∆H
0
+
∆S
0
(1*)
RT
1
R
Tại 45
0
C:
LnK
d2
=
- ∆H
0
+
∆S

Ln
K
d1
(4*)
T
1
- T
2
K
d2
Thay số với R = 8,314, T
1
= 308K, T
2
= 318K, K
d1
= 1,5485(cm
3
/g), K
d2
= 1,0460(cm
3
/g)
∆H
0
=
8,314.308.318
Ln
1,5485
(5*)

o
< 0, ∆S
o
< 0, ∆G
o
< 0 và sự giảm ∆G
o
khi tăng nhiệt độ cho thấy quá trình hấp
phụ As(V) trên C1 là tỏa nhiệt và tự xảy ra.
Tương tự làm thí nghiệm với Pb
2+

Thay giá tri C
0
, C
e
, V, m ta có
T Kd
308 54,4475
318 9,7599
Áp dụng (4*):
Thay số với R = 8,314, T
1
= 308K, T
2
= 318K, K
d1
= 54,4475(cm
3
/g), K

Nhận xét:
Trong quá trình hấp phụ, năng lượng tự do bề mặt của hệ giảm, nghĩa là ∆G < 0. Đồng thời
độ hỗn độn của hệ giảm(do các tiểu phân của các chất bị hấp phụ trên bề mặt chất hấp phụ được
sắp xếp một cách có trật tự) nghĩa là ∆S < 0. Do đó từ phương trình năng lượng của công thức
GIBBS(Thế đẳng áp đẳng tích).
∆G = ∆H – T.∆S < 0.
Từ đó suy ra: ∆H < 0.
Nghĩa là quá trình hấp phụ là quá trình tỏa nhiệt. Điều này hoàn toàn phù hợp với kết quả thực
nghiệm.
Với:
T C
0
C
e
V(ml) m
308 1279 400 25 1,0013
318 1279 915 25 0,9959
21
Theo 1.6.1 Bản chất của quá trình hấp phụ ( Trang 35).
- Với As(V): /∆H
0
/= 31,9519 (kJ/mol) quá trình hấp phụ của hạt C1 nằm trong gianh giới giữa
hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học.
- Với Pb
2+
: /∆H
0
/= 139,9754 (kJ/mol) quá trình hấp phụ của hạt C1 là hấp phụ hóa học.
KẾT LUẬN(*)


2+

và As(V)

tăng.
- Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ đầu đến khả năng hấp phụ từ đó xác định được nồng độ
tối ưu trong quỏ trỡnh hấp phụ:
Nồng độ đầu Pb
2+
và As(V)

càng thấp thì khả năng hấp của C1 càng lớn.
4. Xác định được dung lượng hấp phụ cực đại ion Pb
2+
22
• Đối với Pb
2+
dung lượng hấp phụ cực là 21,73 (mg/g)
• Đối với As(V)

dung lượng hấp phụ cực là 0,092 (mg/g)
5. Tính được các giá trị nhiệt động nhiệt động ∆H
o
, ∆S
o
, ∆G
o

Ở 318K: ∆G
0
= - 139,4064 (kJ/mol).
Giá trị ∆H
o
< 0, ∆S
o
< 0, ∆G
o
< 0 và sự giảm ∆G
o
khi tăng nhiệt độ cho thấy quá trình hấp
phụ Pb
2+
trên C1 là tỏa nhiệt và tự xảy ra.
6. Khảo sát so sánh khả năng hấp phụ của hạt CD đó bỏn trờn thị trường với hạt C1 ( Bảng 21, 23,
hình 23, 24, 27).
Với kết quả thu được trong bài luận văn này chúng tôi thấy hạt C1 hứa hẹn sẽ là vật liệu rất
tốt để tách loại các ion kim loại nặng từ các nguồn nước bị ô nhiễm.
(* )Toàn bộ kết quả của luận văn này là thuộc đề tài cấp nhà nước KC.02.25/06-10 do
TS. Nguyễn Trung Minh làm chủ nhiệm.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status