Trn Khc Hân SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
ĐẶT VẤN ĐỀ.
Chúng ta đều biết rằng: “ Nhân cách của con người chỉ có thể được hình
thành thông qua hoạt động giao tiếp”. Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trên
toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta không chỉ lúc
nào cũng giao tiếp bằng ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ viết đóng vai trò quan trọng của
Tiếng Việt. Yêu cầu đầu tiên và quan trọng của ngôn ngữ viết là phải viết đúng
chính tả. Có nghĩa là khi thể hiện ngôn ngữ viết cần phải tuân theo hệ thống các
quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ. Hay nói cách khác,
chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết được thừa nhận trong ngôn ngữ
toàn dân. Mục đích của nó là phương tiện thuận tiện cho việc giao tiếp bằng chữ
viết làm cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất những điều đã viết.
Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị cản trở giữa
các địa phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước và đời sau.
Vì vậy việc dạy chính tả đúng phải được coi trọng ngay từ bậc Tiểu học.
Việc dạy chính tả được hiểu như rèn luyện việc thực hiện những chuẩn mực của
ngôn ngữ viết. ở các lớp Tiểu học, chính tả sẽ tạo điều kiện ban đầu trong hành
trang ngôn ngữ cả một đời người trong các em.
Qua được học chính tả, các em nắm bắt được các quy tắc chính tả và hình
thành kỹ năng, kỹ xảo chính tả. Từ đó có thói qnen viết đúng chính tả, giúp cho sự
hoàn thiện nhân cách của học sinh. Nó bắt đầu từ việc thuận tiện trong tiếp thu tri
thức qua các môn học ở Tiểu học đến việc xây dựng các văn bản trong quá trình
giao tiếp trong học tập.
Chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học bao gồm nhiều phân môn. Phân
môn chính tả có nhiệm vụ chủ yếu rèn cho học sinh nắm các quy tắc và các thói
quen viết đúng với chuẩn chính tả Tiếng Việt. Cùng với các phân môn khác, chính
1
Trn Khc Hân SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
tả giúp cho học sinh chiếm lĩnh văn hoá, là công cụ để giao tiếp, tư duy để học tập,
trau dồi kiến thức và nhân cách làm người. Ngay từ đầu ở bậc Tiểu học trẻ cần
phải được học môn chính tả một cách khoa học, cẩn thận để có thể sử dụng công
có ý thức. đặc biệt là những vùng phương ngữ, việc dạy chính tả phải theo sát
nguyên tắc này. Nghĩa là phải tôn trọng việc phát âm, lấy phát âm để điều chỉnh
chữ viết
b. Những bất hợp lý của chữ quốc ngữ.
Ở Tiếng Việt, nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc ngữ âm học, ngoài ra chính tả
Tiếng Việt còn được xây dựng trên một số nguyên tắc như: Nguyên tắc truyền
thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt… Khi viết chính tả phát âm thế nào thì viết thế
ấy. Hiện tượng cách phát âm ở những vùng miền khác nhau (phương ngữ), trong
khi đó hệ thống ghi âm tiêu chuẩn của Tiếng Việt lại chưa được xác định một cách
chính thức. Do đó khó có thể phổ biến rộng rãi hệ thống ấy được. Hơn nữa trong
Tiếng Việt việc phát âm không phù hợp với tiêu chuẩn lại có trường hợp trong đó
một từ đồng thời mang hai biến thể phát âm, khó có thể nói biến âm nào là chuẩn.
Ví dụ: chong chóng – trong tróng
Hoặc có khi cùng một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết.
Ví dụ: /z/
/i/
Bản thân hệ thống âm vị Tiếng Việt còn một số vị âm không ghi thống nhất,
một âm có thể ghi bằng nhiều con chữ.
/k/
3
d: dải lụa
gi: giải thÝch
i: lÝ luận
y: Lý Thường Kiệt
c (con cuốc)
k (c¸i kim)
q (tổ quốc)
Trn Khc Hân SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
Hoặc trong bộ chữ cái Tiếng Việt còn chữ “h” là một hiện tượng đặc biệt.
II. NỘI DUNG
1.Thực tế trình độ chính tả của học sinh Tiểu học.
Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu khảo sát sách vở chính tả, vở tập làm
văn của học sinh. bản thân tôi nhận thấy: Vở chính tả, tập làm văn của các em và
các vở khác mắc khá nhiều lỗi chính tả. Thống kê số lỗi chính tả của các em tôi
thấy có 3 lỗi cơ bản sau.
- Lỗi chính tả do không nắm vững chính tả: lỗi này thường gặp khi viết các
phụ âm đầu: d/gi; ch/tr; ng/ngh
- Lỗi do không nắm vững cấu trúc âm tiết của Tiếng Việt và không hiểu cấu
trúc nội bộ của âm tiết Tiếng Việt nên học sinh viết sai.
VD: quanh co; khúc khuỷ; ngoằn nghèo.
- Lỗi chính tả do viết theo lối phát âm địa phương hoặc do không nắm vững
âm chính. Đây là lỗi cơ bản nhất mà qua khảo sát tôi nhận thấy ở lớp tôi. Cụ thể là
âm: l – n, dấu ngã và dấu chấm. Học sinh thường nhầm lẫn và viết sai chính tả
trong các bài viết của mình.
Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng sai trên tôi thấy chủ yếu là do học
sinh phát âm sai. Thường các em còn phát âm lẫn lộn giữa âm l – n nên không
phân biệt được khi viết. Để sửa lỗi này tôi đã cố gắng dạy cho học sinh nắm vững
âm chính trong Tiếng Việt. Muốn viết đúng chính tả thì phải phát âm đúng vì chính
âm đi trước chính tả. Do vậy tôi phải chú trọng việc phát âm chuẩn cho học sinh
trong các giờ tập đọc. Ngoài ra việc đổi mới các phương pháp dạy học và áp dụng
qui trình soạn giáo án theo hướng đổi mới, giúp học sinh nắm bắt các mẹo luật
chính tả cũng hết sức cần thiết để giúp học sinh viết đúng chính tả. Trong phạm vi
nghiên cứu đề tài, tôi xin được thống kê số liệu học sinh mắc lỗi chính tả ở lớp tôi
thu được đầu năm như sau.
Lớp Tổng số
học sinh
Các lỗi chính tả thường mắc
l - n; ~/./ d/gi/r; tr/ch; s/x; g/gh Cấu trúc âm tiết
5B 22 6 em 5 em 4 em
sức cố gắng nỗ lực nhiều mặt như: tâm lý học lý luận dạy học, các kiến thức về
6
Trn Khc Hân SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
ngữ âm, về văn học làm sao phải để học sinh “tâm phục khẩu phục”. Có như vậy
chất lượng giáo dục chính tả vùng phương ngữ mới thu được kết quả như mong
muốn.
Muốn làm được điều đó, trước hết tôi phải đặt phân môn chính tả nằm trong
mối quan hệ giữa các phân môn khác của Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn tập đọc
và từ ngữ. Học sinh muốn viết đúng được thì phải hiểu được nghĩa và phát âm
đúng từ đó. Nếu học sinh phát âm sai, tuỳ tiện sẽ dẫn đến hiểu sai và viết sai hoặc
do thói quen lâu ngày không được sửa chữa. Trong các giờ tập đọc, tôi dành nhiều
thời gian hơn cho việc sửa lỗi phát âm cho học sinh, đặc biệt là hai âm l và n, dấu ~
/./. Giáo viên phát âm mẫu cho học sinh học tập và hướng dẫn cách phát âm tỉ mỉ.
Đặc biệt tôi không bao giờ được phạm sai lầm về lỗi phát âm này. Nếu không việc
sửa lỗi của giáo viên sẽ mất tác dụng.
Ngoài ra tôi hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả trên cơ sở hiểu đúng
nghĩa của từ. Muốn viết đúng một từ, học sinh phải biết đặt từ đó trong mối quan
hệ với cụm từ và các văn bản. Nếu ta tách từ đó ra khỏi văn bản có thể học sinh sẽ
không hiểu được nghĩa và do đó dẫn đến việc viết sai chính tả.
VD: Khi đọc tiếng “cuốc” nếu không đặt nó trong mối quan hệ, cụm từ, câu
thì rất khó xác định nghĩa để viết đúng. Nhưng nếu đặt nó trong câu: “Mẹ em vác
cuốc ra đồng” hoặc trong từ “Tổ quốc” thì học sinh dễ dàng viết đúng.
Bên cạnh đó muốn học sinh viết đúng giáo viên phải cho học sinh nắm được
khả năng kết hợp của các kí hiệu từ trong các trường hợp sau:
+ Các con chữ phụ âm kết hợp với các con chữ nguyên âm để tạo nên phụ
âm đơn như “gi”, “qu”. Con chữ phụ âm đi trước, con chữ nguyên âm đi sau.
Trong thực tế chính tả, khi xuất hiện “q” thì nhất thiết sẽ có “u” đi kề liền. Đây là
luật yêu cầu học sinh cần nắm vững.
+ Các con chữ phụ âm kết hợp với nhau để tạo nên phụ âm đơn.
VD “ngh”, “ng”, “gh”, “tr”. Trong Tiếng Việt dùng 9 kí hiệu từ đơn: ph,
âm với chính nó. Đồng thời lại không có hiện tượng /l/ láy âm với /n/. Từ đó suy ra
quy tắc: Nếu gặp một từ láy mà hai âm đầu đọc giống nhau thì nhất định là một
8
Trn Khc Hân SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
điệp âm đầu và cả hai chữ phải cùng có âm đầu là /l/ hoặc /n/. Vì vậy ta chỉ cần
biết một chữ là đủ.
VD: Lấp loáng, long lanh, lanh lảnh
No nê, ninh ních, nõn nà
- Mẹo 4: Đối với trường hợp “l” và “n” đứng ở chữ thứ 2. Trong từ láy
thì”n” khi láy âm chỉ láy với “gi” và không láy với âm nào khác. Trái lại “l” lại
không láy với “gi” mà láy với các âm khác .
(Ngoại lệ có: khúm núm, khệ nệ)
kh – l : khéo léo, khoác lác
ch – l : cheo leo
/n/ láy với những âm tiết không có âm đầu như: ảo não, áy náy
- Mẹo 5: Những chữ không biết được “l” hay “n” nhưng đồng nghĩa với một
từ khác viết với “nh” thì chữ ấy là “l”.
VD: lăm le (nhăm nhe)
lỡ làng (nhỡ nhàng)
Trên đây là một số mẹo luật nhận diện chữ cái phân biệt l/n trong khi viết
chính tả mà tôi nắm được để hướng dẫn các em viết chính tả.
Ngoài ra còn một số mẹo phân biệt “ch” với “tr”, “s” với “x”. Những lỗi này
học sinh lớp tôi cũng mắc phải nhưng ít hơn. Tuy nhiên trong một số trường hợp
học sinh vẫn có thể mắc lỗi. Do vậy tôi cần nắm được để hướng dẫn cho các em.
Chẳng hạn “tr” không đứng trước những chữ bắt đầu bằng âm đệm nhưng “ch” thì
có.VD: ôm choàng, bị choáng
“tr” không bao giờ láy với “ch” và ngược lại. Do đó chỉ có những từ láy cùng láy
âm “tr” hoặc “ch” như: Chăm chỉ, trâng tráo, trân trân
Hoặc phân biệt s/x như: Các từ chỉ tên thức ăn hoặc đồ dùng liên quan đến
thức ăn thì viết là “x”. VD: Xôi, xào, xoong
Số
TT
Lớp T.số học
sinh
Các lỗi chính tả thường mắc
l/n; ~/./ tr/ch; s/x; gh/g cấu trúc âm tiết
1 5B 22 1 em 1 em 1
10
Trn Khc Hân SKKN: Giúp học sinh viết đúng chính tả ở lớp 5.
Phần thứ ba
KẾT LUẬN CHUNG VÀ ĐỀ XUẤT
I. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN VỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC.
Việc xác định các trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh vùng phương
ngữ là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng. Chúng ta đang thực hiện luật phổ
cập giáo dục Tiểu học để tạo nên một mặt bằng dân số, trình độ dân trí nhất định
trong cả nước. Tuy nhiên trình độ này có đồng đều hay không điều đó tuỳ thuộc
vào chất lượng giảng dạy và học tập ở mỗi địa phương. Là một giáo viên vùng
phương ngữ, tôi nhận thấy phải trang bị cho các em những kiến thức chuẩn mực để
các em có đầy đủ năng lực để học tiếp lên các lớp trên và giao tiếp với xã hội một
cách tự tin, chững chạc. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên giảng dạy ở
các vùng phương ngữ. Nhiệm vụ này không chỉ tiến hành trong một thời gian ngắn
mà cho ta kết quả tốt ngay được mà phải tiến hành trong một thời gian dài.
II. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.
Để chủ trương đổi mới phương pháp dạy học nói chung, việc dạy chính tả
cho học sinh tiểu học đạt hiệu quả cao hơn tôi có một số đề xuất như sau sau:
- Đối với giáo viên Tiểu học:
Phải kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Cần nắm bắt rõ năng
lực học tập của từng đối tượng học sinh để giảng dạy có hiệu quả. Tự học và tự bồi
dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ của bản thân góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục của nhà trường.