nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch đà lạt - Pdf 24

Nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm
đến du lịch Đà Lạt Dương Ngọc Lang Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn ThS. Du lịch: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn : TS. Nguyễn Quang Vinh
Năm bảo vệ: 2014
137 tr .

Abstract. Trong xu hướng có nhiều điểm đến du lịch mới nổi lên thì nghiên cứu năng
lực cạnh tranh là một trong những công việc cần thiết giúp điểm đến du lịch Đà Lạt
xác định được vị trí của mình so với các đối thủ cạnh tranh để quy hoạch và có những
hướng đi cho phù hợp.Trên nền tảng các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh điểm
đến du lịch của Metin Kozak và Dwyer & Kim, tác giả đã kết hợp với 4 phương pháp
để xác định năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt. Luận văn đã tiến hành tổng
hợp, phân tích và đánh giá khả năng đáp ứng những mong đợi, kì vọng của Đà Lạt với
khách du lịch. Kết quả cho thấy, Đà Lạt chưa tạo được ấn tượng mạnh mẽ trong lòng
du khách, ngoài dịch vụ tham quan, thì tất cả các dịch vụ còn lại như vận chuyển, lưu
trú, ăn uống, mua sắm, vui chơi giải trí đều thấp hơn mức mong đợi của du khách.
Chất lượng đội ngũ phục vụ du lịch khá tốt, ngoại trừ nhóm nhân viên phục vụ mua
sắm và vui chơi giải trí. Kết quả chung cho thấy tỷ lệ du khách muốn quay trở lại có
chỉ số NPS âm, là một thực trạng rất đáng lo ngại của điểm đến du lịch Đà Lạt hiện
nay.Trên cơ sở phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Đà Lạt,
luận văn đã đề xuất 5 nhóm giải pháp làm định hướng cho điểm đến du lịch Đà Lạt để
từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Mặc dù phương pháp xác định năng lực
cạnh tranh của điểm đến du lịch Đà Lạt mà luận văn đưa ra là hợp lý cả trên phương
diện lý thuyết và và thực tiễn nhưng cũng chỉ tính toán được năng lực cạnh tranh tổng

Các số liệu thống kê đã chỉ ra rằng, khách quốc tế chỉ chiếm khoảng 10% trong
tổng số lượt khách đến du lịch Đà Lạt và tỷ lệ này đang có xu hướng giảm. Đây là một
con số khá thấp trong những điểm đến du lịch nổi tiếng của Việt Nam hiện nay. Điều
này cho thấy việc phát triển du lịch Đà Lạt bộc lộ những nhân tố không bền vững và
nội lực du lịch chưa thực sự vững chắc trước áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng từ
các điểm đến khác.
Hiểu rõ về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt, biết được vị trí của Đà
Lạt trên bản đồ du lịch Việt Nam sẽ là những căn cứ quan trọng để đề xuất những giải
pháp giúp ngành du lịch địa phương có những bước đi phù hợp nhằm thu hút và phục
vụ tốt hơn nhu cầu của du khách. Với lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu
năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Kết
quả nghiên cứu sẽ là sẽ góp phần giúp các nhà quản lý du lịch làm cơ sở để hoạch định
chiến lược phát triển dài hạn cho thành phố, thúc đẩy du lịch địa phương phát triển ở
tầm cao hơn.
Thông qua luận văn, tác giả hy vọng sẽ góp một phần ý kiến giúp nâng cao
năng lực cạnh tranh cho du lịch Đà Lạt, đưa Đà Lạt trở thành điểm đến du lịch hấp
dẫn, có vị thế cạnh tranh cao trong nước và quốc tế, đóng góp vào sự phát triển kinh tế
- xã hội của địa phương trong thời kỳ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến
du lịch Đà Lạt trước sự phát triển và đầu tư mạnh mẽ của nhiều điểm đến du lịch khác
trong nước.
Với việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt trên phương
diện thực tiễn theo hướng tiếp cận cả định lượng và định tính, luận văn sẽ tiến hành
giải quyết các nhiệm vụ chính sau:
- Tổng hợp lý thuyết về cạnh tranh và các phương pháp xác định năng lực cạnh
tranh điểm đến du lịch, qua đó lựa chọn phương pháp xác định năng lực cạnh tranh
phù hợp nhất.
- Đánh giá theo định lượng để phân tích hiện trạng, các yếu tố nội sinh ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Đà Lạt.

trên thị trường với mục đích xác định được các điểm yếu cũng như tạo ra các yếu tố để
nâng cao khả năng cạnh tranh cho điểm đến. Phương pháp Benchmarking (được sử
dụng để so sánh tình hình hoạt động giữa các tổ chức khác nhau nhưng hoạt động
trong lĩnh vực tương tự nhau hoặc giữa các bộ phận trong cùng một tổ chức) được thực
hiện sẽ đảm bảo phân loại và đánh giá kết quả, cùng với đó đề tài còn sử dụng các hệ
thống khác là IDES và BSC để đánh giá một địa điểm cụ thể, phương pháp này được
triển khai dễ dàng nếu lựa chọn được những đối thủ có nhiều điểm tương đồng để so
sánh; “Kiểm tra năng lực cạnh tranh điểm đến từ du khách. Quan điểm: mối quan hệ
giữa kinh nghiệm du lịch và nhận thức năng lực cạnh tranh điểm đến” [24, Fang
meng], nghiên cứu cũng xác định các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng
những trải nghiệm du lịch và năng lực cạnh tranh điểm đến của du khách.
Có thể nói, các nghiên cứu trên và nhiều nghiên cứu khác nữa đã trình bày khá
đa dạng về cách thức xác định năng lực cạnh tranh của một điểm đến du lịch, trong đó
chủ yếu tập trung khảo sát điều tra từ khách hàng & nội lực bên trong của mình. Ngoài
ra, còn có thể so sánh với các đối thủ cạnh tranh tương đương để xác định những điểm
yếu và thiết lập nên những lợi thế cạnh tranh cho riêng mình.
Tại Việt Nam, hiện đã có một số công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh,
các nghiên cứu này thường được tiến hành theo hướng định lượng với một nhóm các
đơn vị theo ngành hoặc theo lĩnh vực hoạt động cho một vùng, một quốc gia, thường
sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu. Trong lĩnh vực du lịch, đáng chú ý nhất là đề
tài “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực
lữ hành quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” do vụ Lữ hành, Tổng
cục Du lịch Việt Nam thực hiện năm 2007. Nội dung chính của đề tài là phân tích,
đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của toàn bộ lĩnh vực lữ hành quốc tế giữa mối
tương quan với các nước trong khu vực, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
sức cạnh tranh của cả hệ thống này trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Về cơ
bản, khuôn khổ phân tích của nghiên cứu này vẫn thiên nhiều về cạnh tranh điểm đến
mà trong đó hoạt động của toàn bộ hệ thống lữ hành quốc tế giữ vai trò trung tâm.
Ngoài ra còn có đề tài “Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam”, luận án
tiến sĩ kinh tế chính trị của Nguyễn Anh Tuấn thực hiện năm 2010. Đề tài cũng đã làm

cạnh tranh của du lịch Đà Lạt trên phương diện tổng hợp nhiều yếu tố. Vì thế, luận văn
nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt bằng định lượng và định tính
theo khung lý thuyết của Kozak, Dwyer & Kim để làm rõ hơn các khía cạnh của đề tài.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là năng lực cạnh tranh của điểm đến
du lịch Đà Lạt. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, không đứng
độc lập một mình mà được đặt trong so sánh tương quan với các điểm đến du lịch
khác. Do vậy, ngoài đối tượng nghiên cứu chính, luận văn còn tập trung vào đối tượng
là các đối thủ cạnh tranh tương đồng trong nước.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn
 Về mặt không gian: bao gồm phạm vi toàn quốc nhưng tập trung chủ
yếu tại thành phố Đà Lạt. Bên cạnh đó, để có cái nhìn khách quan hơn
về hoạt động du lịch địa phương, tác giả đã tiến hành thu thập các số
liệu về du lịch của các điểm đến tương đồng khác. Lựa chọn nhiều điểm
đến thì kết quả sẽ chính xác và tốt hơn. Tuy nhiên, do thời gian có hạn
nên tác giả chỉ lựa chọn những tỉnh theo ba tiêu chí: các điểm du lịch
nổi tiếng, có điểm tương đồng và phân chia nguồn khách.
 Về mặt thời gian: luận văn tiến hành khảo sát, thu thập số liệu về du
lịch Đà Lạt, Lào Cai từ năm 2009 đến 2013. Việc điều tra du khách
được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2013.
 Phạm vi lý thuyết: đề tài chủ yếu tiếp cận theo 2 hướng: đánh giá định
lượng và định tính theo lý thuyết của Metin Kozak và các chỉ số của
Dwyer & Kim.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Các phương pháp thu thập số liệu
5.1.1. Thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp là các số liệu do người khác thu thập, sử dụng cho các mục đích
có thể khác với mục đích nghiên cứu của mình. Dữ liệu thứ cấp có thể là dữ liệu chưa
xử lý (còn gọi là dữ liệu thô) hoặc dữ liệu đã xử lý. Như vậy, dữ liệu thứ cấp không
phải do người nghiên cứu trực tiếp tiến hành.

- q = 1-p (thường tỷ lệ p và q được ước tính 50%/50% đó là khả năng lớn nhất
có thể xảy ra của tổng thể)
- e: sai số cho phép (+-3%, +-4%,+-5% )
Với sai số là 5%, kết quả tính cỡ mẫu là 385, tác giả đã tiến hành phát ra 350
phiếu, số phiếu thu vào được 312 phiếu. Sau khi sàng lọc các phiếu không đạt yêu cầu
(không đánh vào phiếu, để trống nhiều,…). Cuối cùng, số phiếu được chấp nhận để
đưa vào xử lý là 299 phiếu.
Thời gian khảo sát được rải đều trong 6 tháng. Tác giả cùng nhóm cộng tác đã
tiến hành tiếp xúc với khách du lịch quốc tế và nội địa từ 16 tuổi trở lên ở các khách
sạn có mức phân hạng khác nhau và các điểm, khu du lịch của thành phố thu hút khá
đông khách du lịch như: hồ Tuyền Lâm – thiền viện Trúc Lâm, vườn hoa thành phố,
đồi Mộng Mơ, thung lũng Tình Yêu. Để tránh hiện tượng trùng lặp, vào từng thời
điểm, tác giả và nhóm cộng tác tổ chức điều tra ở một vài địa điểm nhất định.
5.1.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp chuyên gia
Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu
và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức của
người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy. Phương pháp này
được tiến hành để làm rõ và kỹ hơn một vấn đề nào đó của đề tài.
Phương pháp chuyên gia là phương pháp hỏi ý kiến và đánh giá của các chuyên
gia về vấn đề nghiên cứu, qua đó tìm ra giải pháp tối ưu cho đề tài.
Đối tượng phỏng vấn gồm: 1 chuyên gia làm việc tại sở Văn hóa – Thể thao –
Du lịch Lâm Đồng, 2 chuyên gia là giám đốc 2 công ty lữ hành tại Đà Lạt, 1 chuyên
gia là giảng viên du lịch, 5 điều hành, hướng dẫn viên của các công ty du lịch tại thành
phố Hồ Chí Minh, Nha Trang và Hà Nội.
Các câu hỏi phỏng vấn chính được trình bày tại phần phụ lục 6. Ngoài ra, từng
câu hỏi phỏng vấn, tác giả sẽ hỏi sâu và kĩ hơi những khía cạnh có liên quan để làm rõ
hơn cho đề tài.
5.2. Các phương pháp, công cụ thống kê, xử lý số liệu
5.2.1. Phương pháp phân tích, so sánh
Phân tích là phương pháp tách một vật thể hoặc một hiện tượng phức tạp ra

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Vũ Mạnh Hà (2010). Bài giảng Thống kê du lịch. Trường ĐH KH XH & Nhân văn
Hà Nội (tài liệu lưu hành nội bộ).
2. Trần Thị Minh Hòa (2011). Bài giảng Marketing điểm đến du lịch. Trường ĐH KH
XH & Nhân văn Hà Nội (tài liệu lưu hành nội bộ).
3. Nguyễn Đình Hòe (2001) – Vũ Văn Hiếu. Du lịch bền vững. Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội.
4. Nguyễn Văn Lưu (1998). Thị trường du lịch. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà
Nội.
5. Nguyễn Văn Mạnh - Nguyễn Đình Hòa (2009). Marketing du lịch. Nhà xuất bản
đại học Kinh tế quốc dân.
6. Đổng Ngọc Minh – Vương Lôi Đình (chủ biên) (2000). Kinh tế du lịch & Du lịch
học. Nhà xuất bản Trẻ.
7. Trần Đức Thanh (1999). Nhập môn Khoa học Du lịch. Nhà Xuất bản Đại học quốc
gia Hà Nội.
8. Trần Văn Thông. Tổng quan du lịch. Trường đại học dân lập Văn Lang (tài liệu lưu
hành nội bộ).
9. Trương Thị Ngọc Thuyên (chủ nhiệm đề tài). (2009 – 2010). Khảo sát ý kiến khách
du lịch nước ngoài về những điểm mạnh – điểm yếu của du lịch Đà Lạt – Lâm
Đồng. Đề tài nghiên cứu khoa học trường Đại học Đà Lạt.
10. Michael E. Porter (2008). Chiến lược cạnh tranh. Nhà xuất bản Trẻ.
11. Michael E. Porter (2008). Lợi thế cạnh tranh. Nhà xuất bản Trẻ.
12. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005). Luật du lịch. Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia. Hà Nội.
13. Sở Văn hóa, Thể Thao & Du lịch Đà Nẵng. Báo cáo kết quả hoạt động năm 2009,
2010, 2011, 2012, 2013.
14. Sở Văn hóa, Thể Thao & Du lịch Lào Cai. Báo cáo kết quả hoạt động năm 2009,
2010, 2011, 2012, 2013.
15. Sở Văn hóa, Thể Thao & Du lịch Lâm Đồng. Báo cáo kết quả hoạt động năm

29. Trịnh Xuân Dũng. Xây dựng thương hiệu điểm đến du lịch, thương hiệu doanh
nghiệp du lịch thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
(
30. Thu Phương. Phát triển bền vững giá trị di sản đô thị Đà Lạt.
( />do-thi-da-lat.html)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status