Nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_________________________________________________________

DƢƠNG NGỌC LANG

NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH
ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ LẠT

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_________________________________________________________

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đặc biệt đến những quý thầy cô đã
tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Quang Vinh đã dành
rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành
luận văn tốt nghiệp.
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học
Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh cùng quí thầy cô trong khoa Sau đại học đã
tạo rất nhiều điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học.
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn quí anh, chị và ban lãnh đạo sở Văn hóa
– Thể thao – Du lịch các tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện cung cấp số liệu cho
tôi để hòan thành luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả năng lực
của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận
được những đóng góp quý báu từ quý thầy cô và các bạn. Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Học viên

Dương Ngọc Lang
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân
tôi. Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác.
Các kết luận khoa học chưa công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

Học viên thực hiện luận văn Dương Ngọc Lang


Chương 2.

NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ LẠT 36
2.1. Tổng quan về điểm đến du lịch Đà Lạt 36
2.1.1. Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch Đà Lạt 36
2

2.1.2. Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt 42
2.2. Đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt 44
2.2.1. Đánh giá trên cơ sở so sánh với đối thủ cạnh tranh 44
2.2.2. Đánh giá theo phương diện phía cung 59
2.2.3. Đánh giá theo phương diện phía cầu 66
2.2.4. Đánh giá theo mô hình SWOT 80
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN
DU LỊCH ĐÀ LẠT 93
3.1. Mục tiêu phát triển của du lịch Đà Lạt 93
3.2. Định hướng phát triển du lịch Đà Lạt 93
3.3. Giải pháp 95
3.3.1. Củng cố, phát triển nguồn lực 95
3.3.2. Đẩy mạnh việc phát triển sản phẩm 99
3.3.3. Tăng cường các hoạt động phát triển thị trường 108
3.3.4. Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ môi trường 113
3.3.5. Thiết lập và triển khai các kế hoạch quản lý rủi ro 115
3.4. Kiến nghị 115
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC 123
3

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.8.
Mong muốn quay trở lại Đà Lạt của khách du lịch
74
2.9.
Mức độ hài lòng của du khách về đội ngũ nhân viên phục
vụ du lịch

77
2.10.
Mức độ hài lòng của du khách về chất lượng các tiện nghi
du lịch

78
2.11.
Ma trận SWOT điểm đến du lịch Đà Lạt
80
2.12.
Bảng nhiệt độ các tháng ở Đà Lạt
81
4

DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
Trang
2.1.
Tổng lượt khách đến với Đà Lạt, Lào Cai và Đà Nẵng giai
đoạn 2009 - 2013

47

2.9.
Đánh giá quản trị điểm đến của du lịch Đà Lạt
64
2.10.
Đánh giá điều kiện về cầu của du lịch Đà Lạt
66
2.11.
Mức độ hài lòng của khách du lịch khi đến Đà Lạt
70
2.12.
Mong muốn quay trở lại Đà Lạt của khách du lịch
75
2.13.
Quy trình quản lý rủi ro
115
5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, sự nghiệp đổi mới đất nước đã đạt được những
thành tựu quan trọng, đặc biệt từ khi nước ta gia nhập và chính thức trở thành
thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Các ngành kinh tế, dịch
vụ đều có bước phát triển mới tích cực, diện mạo đất nước cũng dần thay đổi,
đời sống của người dân được cải thiện, khả năng thanh toán và thời gian nhàn
rỗi tăng nên nhu cầu du lịch ngày càng nâng cao và nhanh chóng được hiện
thực hóa bằng những tour du lịch cụ thể. Du khách ngày càng có nhiều kiến
thức, kinh nghiệm và yêu cầu cao hơn về chất lượng các dịch vụ du lịch. Việc
đầu tư mạnh đã dẫn đến ngày càng có nhiều điểm đến du lịch hấp dẫn,
phương tiện vận chuyển ngày càng hiện đại và thuận tiện. Khách du lịch quan
tâm nhiều hơn tới chất lượng vệ sinh, môi trường của các cơ sở dịch vụ và

phần giúp các nhà quản lý du lịch làm cơ sở để hoạch định chiến lược phát
triển dài hạn cho thành phố, thúc đẩy du lịch địa phương phát triển ở tầm cao
hơn.
Thông qua luận văn, tác giả hy vọng sẽ góp một phần ý kiến giúp nâng
cao năng lực cạnh tranh cho du lịch Đà Lạt, đưa Đà Lạt trở thành điểm đến du
lịch hấp dẫn, có vị thế cạnh tranh cao trong nước và quốc tế, đóng góp vào sự
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời kỳ hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của
điểm đến du lịch Đà Lạt trước sự phát triển và đầu tư mạnh mẽ của nhiều
điểm đến du lịch khác trong nước.
Với việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt trên
7

phương diện thực tiễn theo hướng tiếp cận cả định lượng và định tính, luận
văn sẽ tiến hành giải quyết các nhiệm vụ chính sau:
- Tổng hợp lý thuyết về cạnh tranh và các phương pháp xác định năng
lực cạnh tranh điểm đến du lịch, qua đó lựa chọn phương pháp xác định năng
lực cạnh tranh phù hợp nhất.
- Đánh giá theo định lượng để phân tích hiện trạng, các yếu tố nội sinh
ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Đà Lạt.
- Đánh giá theo định tính bằng việc phân tích các số liệu tổng hợp từ
việc thu thập ý kiến của du khách, áp dụng công cụ NPS để nhận định rõ hơn
mức độ hài lòng của du khách về du lịch Đà Lạt.
- Căn cứ vào áp lực cạnh tranh từ các điểm đến du lịch khác và xu
hướng phát triển của thị trường để đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Đà Lạt.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Suốt thập niên vừa qua, các tài liệu nghiên cứu về du lịch ngày càng

tự nhau hoặc giữa các bộ phận trong cùng một tổ chức) được thực hiện sẽ
đảm bảo phân loại và đánh giá kết quả, cùng với đó đề tài còn sử dụng các hệ
thống khác là IDES và BSC để đánh giá một địa điểm cụ thể, phương pháp
này được triển khai dễ dàng nếu lựa chọn được những đối thủ có nhiều điểm
tương đồng để so sánh; “Kiểm tra năng lực cạnh tranh điểm đến từ du khách.
Quan điểm: mối quan hệ giữa kinh nghiệm du lịch và nhận thức năng lực
cạnh tranh điểm đến” [24, Fang meng], nghiên cứu cũng xác định các yếu tố
có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng những trải nghiệm du lịch và năng lực
cạnh tranh điểm đến của du khách.
Có thể nói, các nghiên cứu trên và nhiều nghiên cứu khác nữa đã trình
bày khá đa dạng về cách thức xác định năng lực cạnh tranh của một điểm đến
9

du lịch, trong đó chủ yếu tập trung khảo sát điều tra từ khách hàng & nội lực
bên trong của mình. Ngoài ra, còn có thể so sánh với các đối thủ cạnh tranh
tương đương để xác định những điểm yếu và thiết lập nên những lợi thế cạnh
tranh cho riêng mình.
Tại Việt Nam, hiện đã có một số công trình nghiên cứu về năng lực
cạnh tranh, các nghiên cứu này thường được tiến hành theo hướng định lượng
với một nhóm các đơn vị theo ngành hoặc theo lĩnh vực hoạt động cho một
vùng, một quốc gia, thường sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu. Trong
lĩnh vực du lịch, đáng chú ý nhất là đề tài “Nghiên cứu thực trạng và giải
pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tế của Việt
Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” do vụ Lữ hành, Tổng cục Du lịch Việt
Nam thực hiện năm 2007. Nội dung chính của đề tài là phân tích, đánh giá
thực trạng năng lực cạnh tranh của toàn bộ lĩnh vực lữ hành quốc tế giữa mối
tương quan với các nước trong khu vực, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao sức cạnh tranh của cả hệ thống này trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế. Về cơ bản, khuôn khổ phân tích của nghiên cứu này vẫn thiên nhiều
về cạnh tranh điểm đến mà trong đó hoạt động của toàn bộ hệ thống lữ hành

Đà Lạt); “Môi trường du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng” (chủ nhiệm: Nguyễn
Trọng Hoàng, 2005) Các đề tài trên đã tập trung nghiên cứu sâu về từng
khía cạnh của năng lực cạnh tranh, cho thấy rõ được những điểm yếu cũng
như những lợi thế của Đà Lạt trong việc khai thác, thu hút khách du lịch. Tuy
nhiên, các công trình chủ yếu phân tích theo hướng chủ quan của du lịch địa
phương. Ngoài ra, tính toàn diện tất cả các mặt trong cạnh tranh lại rất ít được
đề cập, có đề tài cập nhật toàn diện thì lại chú ý đến khía cạnh khách quốc tế.
Do vậy, chưa có một công trình nào đề cập đến khía cạnh cạnh tranh của du
lịch Đà Lạt trên phương diện tổng hợp nhiều yếu tố. Vì thế, luận văn nghiên
cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt bằng định lượng và định
11

tính theo khung lý thuyết của Kozak, Dwyer & Kim để làm rõ hơn các khía
cạnh của đề tài.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là năng lực cạnh tranh của
điểm đến du lịch Đà Lạt. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh là một khái niệm
động, không đứng độc lập một mình mà được đặt trong so sánh tương quan
với các điểm đến du lịch khác. Do vậy, ngoài đối tượng nghiên cứu chính,
luận văn còn tập trung vào đối tượng là các đối thủ cạnh tranh tương đồng
trong nước.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn
 Về mặt không gian: bao gồm phạm vi toàn quốc nhưng tập
trung chủ yếu tại thành phố Đà Lạt. Bên cạnh đó, để có cái nhìn
khách quan hơn về hoạt động du lịch địa phương, tác giả đã tiến
hành thu thập các số liệu về du lịch của các điểm đến tương
đồng khác. Lựa chọn nhiều điểm đến thì kết quả sẽ chính xác và
tốt hơn. Tuy nhiên, do thời gian có hạn nên tác giả chỉ lựa chọn
những tỉnh theo ba tiêu chí: các điểm du lịch nổi tiếng, có điểm
tương đồng và phân chia nguồn khách.

lượng nguồn nhân lực du lịch; chất lượng các tiện nghi,… Các tiêu chí này
được xây dựng thành bảng hỏi, điều tra đối tượng khách du lịch quốc tế và nội
địa đến với thành phố Đà Lạt (bảng hỏi này được dịch sang ngôn ngữ phổ
13

biến là tiếng Anh để điều tra du khách quốc tế).
Cỡ mẫu điều tra được tác giả tính toán theo công thức: Trong đó:
- n: là cỡ mẫu
- z: là giá trị phân phối tương ứng với độ tin cậy lựa chọn
- p: là ước tính tỷ lệ % của tổng thể
- q = 1-p (thường tỷ lệ p và q được ước tính 50%/50% đó là khả năng
lớn nhất có thể xảy ra của tổng thể)
- e: sai số cho phép (+-3%, +-4%,+-5% )
Với sai số là 5%, kết quả tính cỡ mẫu là 385, tác giả đã tiến hành phát
ra 350 phiếu, số phiếu thu vào được 312 phiếu. Sau khi sàng lọc các phiếu
không đạt yêu cầu (không đánh vào phiếu, để trống nhiều,…). Cuối cùng, số
phiếu được chấp nhận để đưa vào xử lý là 299 phiếu.
Thời gian khảo sát được rải đều trong 6 tháng. Tác giả cùng nhóm cộng
tác đã tiến hành tiếp xúc với khách du lịch quốc tế và nội địa từ 16 tuổi trở lên
ở các khách sạn có mức phân hạng khác nhau và các điểm, khu du lịch của
thành phố thu hút khá đông khách du lịch như: hồ Tuyền Lâm – thiền viện
Trúc Lâm, vườn hoa thành phố, đồi Mộng Mơ, thung lũng Tình Yêu. Để tránh
hiện tượng trùng lặp, vào từng thời điểm, tác giả và nhóm cộng tác tổ chức
điều tra ở một vài địa điểm nhất định.
5.1.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp chuyên gia
Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà
nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh

doanh thu du lịch/năm, mức chi tiêu của khách du lịch, thời gian lưu lại của
khách du lịch so với các điểm đến được chọn để so sánh.
5.2.2. Phân tích SWOT
(Phương pháp này được làm rõ tại mục 1.3.3.2, chương 1)
15

5.2.3. Công cụ
- SPSS (Statistical Package for the Social Sciences): là một chương
trình máy tính phục vụ công tác thống kê. SPSS được sử dụng rộng rãi trong
công tác thống kê điều tra.
- NPS (Net Promoter Score): NPS là một công cụ đo lường sự hài lòng
của khách hàng. Hệ thống NPS được sáng tạo bởi Fred Reichheld, một thành
viên của công ty tư vấn Poston Bain & Co và là nhà tiên phong trong lĩnh vực
nghiên cứu sự trung thành của khách hàng, sau này được áp dụng rộng rãi để
đo lường sự hài lòng của khách hàng trong việc sử dụng dịch vụ. NPS được
tính như sau:
NPS = % những người rất yêu thích sản phẩm, dịch vụ - % những
người đang cân nhắc hoặc không hài lòng về sản phẩm, dịch vụ.
Trong quá trình tính toán, chỉ lấy con số đơn thuần, không đưa % vào
quá trình tính toán. Kết quả âm thì đây là một con số báo động đối với các
điểm đến du lịch. Ngược lại, số NPS càng cao thì đây là tín hiệu càng tốt cho
các điểm đến.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1. Điểm đến và năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch.
Chương 2. Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt.
Chương 3. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch
Đà Lạt.
16

- Điều kiện kinh tế: nền kinh tế phát triển là tiền đề cho sự ra đời và
phát triển của ngành du lịch. Những đất nước có nền kinh tế phát triển, có
điều kiện sản xuất ra nhiều của cải vật chất có chất lượng đạt các tiêu chuẩn
quốc tế sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Kinh tế phát triển sẽ
kéo theo sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp
nhẹ phục vụ cho du lịch, hàng hóa, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, thông tin liên
lạc, vận tải, Từ đó, tạo điều kiện để phát triển du lịch cho bất kì quốc gia,
địa phương nào. Ngược lại, một nền kinh tế kém phát triển thì sẽ gặp nhiều
khó khăn về chi phí để đầu tư vào các hoạt động, dịch vụ, điểm tham quan du
lịch.
- Chính sách phát triển du lịch: hiện nay trên thế giới hầu như không
có một nơi nào không tồn tại một bộ máy quản lý xã hội. Rõ ràng rằng bộ
máy quản lý này có vai trò quyết định đến các hoạt động của cộng đồng đó,
hoạt động du lịch không nằm ngoài quy luật chung ấy. Một đất nước, một khu
vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống người dân không thấp nhưng
chính quyền địa phương không yểm trợ cho các hoạt động du lịch thì hoạt
động này cũng không thể phát triển được.
* Các điều kiện tự thân làm nảy sinh nhu cầu du lịch
- Thời gian rỗi: rõ ràng rằng, con người không thể đi du lịch nếu không
có thời gian. Do vậy, thời gian rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để con
người có thể tham gia vào hoạt động du lịch.
- Khả năng tài chính của khách hàng tiềm năng: kinh tế phát triển,
người dân có mức sống cao thì khả năng thanh toán cho các nhu cầu về du
lịch trong nước và quốc tế ngày càng tăng. Do vậy, thu nhập của nhân dân là
chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia đi du lịch.
- Trình độ dân trí: sự phát triển của du lịch phụ thuộc vào trình độ văn
18

hóa chung của nhân dân ở một đất nước. Nếu trình độ văn hóa của cộng đồng
được nâng cao, nhu cầu tìm hiểu, khám phá,… cũng dần được tăng theo và

Điểm đến du lịch là nơi đón tiếp và phục vụ khách du lịch trong thời
gian họ nghỉ ngơi và tham quan du lịch. Nơi mở rộng được các hoạt động
dịch vụ để thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch, thực hiện “xuất khẩu vô
hình” các tài nguyên du lịch và “xuất khẩu tại chỗ” dịch vụ và hàng hóa của
địa phương với mục tiêu thu được nhiều ngoại tệ và tạo ra nhiều công ăn việc
làm cho người dân địa phương.
1.1.3. Phân loại điểm đến du lịch
Điểm đến du lịch đóng vai trò quan trọng và quyết định đến sự phát
triển du lịch của một đất nước, một địa phương, là nơi tạo ra sức thu hút đối
với khách du lịch trong và ngoài nước. Điểm đến có tính hấp dẫn và có sức
thu hút khách du lịch càng cao thì lượng khách du lịch trong nước và quốc tế
đến càng lớn. Dịch vụ và hàng hóa phục vụ khách tiêu thụ càng nhiều về số
lượng, đa dạng về cơ cấu và chủng loại, chất lượng cao thì doanh thu càng lớn
và hiệu quả kinh tế - xã hội càng cao.
Có nhiều cách phân loại điểm đến du lịch, tuy nhiên theo tiêu chí phạm
vi địa lý thì các điểm đến thường được chia thành 3 cấp độ sau:
- Điểm đến du lịch mang tính chất khu vực: trên thị trường du lịch thế
giới, các nước trong từng khu vực khác nhau đã hợp tác với nhau để cạnh
tranh các nguồn khách du lịch thông qua tuyên truyền, quảng cáo, xúc tiến du
lịch để thu hút khách đến khu vực này. Ví dụ: ngành du lịch các nước
ASEAN thường xuyên hợp tác tổ chức các sự kiện để quảng cáo ASEAN như
một điểm đến du lịch hấp dẫn, trung tâm du lịch hội nghị và du lịch chữa bệnh
của thế giới.
20

- Điểm đến du lịch mang tính quốc gia: các nước trong khu vực vừa
hợp tác với nhau để xây dựng hình ảnh điểm đến của khu vực, nhưng cũng
vừa cạnh tranh và thu hút nguồn khách đến với đất nước mình. Mỗi nước đẩy
mạnh tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch để xây dựng hình ảnh của
đất nước trong tâm trí của mọi người trên thế giới như một điểm đến du lịch

khi chất lượng đường xá, đầu mối giao thông, cùng tốc độ, tiện nghi của các
phương tiện vận chuyển, cả đường bộ, đường thủy, đường sắt và đường hàng
không được chú ý và đầu tư đúng mức.
- Nơi ăn nghỉ: các dịch vụ lưu trú của điểm đến không chỉ cung cấp nơi
ăn nghỉ cho du khách mà còn tạo được cảm giác chung về sự tiếp đãi nồng
nhiệt và ấn tượng khó quên về các món ăn và đặc sản của địa phương.
- Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ: du khách đòi hỏi một loạt các tiện
nghi, phương tiện và các dịch vụ hỗ trợ tại nơi đến du lịch. Khả năng cung
cấp tiện nghi và các dịch vụ hỗ trợ biểu lộ bản chất đa ngành của yếu tố cung
trong du lịch và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh doanh trong
ngành du lịch. Các nơi đến còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khác cho cả khách
hàng và ngành du lịch thông qua các tổ chức du lịch địa phương. Những dịch
vụ này bao gồm: quảng bá cho nơi đến; lãnh đạo, phối hợp và kiểm soát sự
phát triển của nơi đến; tư vấn và phối hợp với các doanh nghiệp khác ở địa
phương; cung cấp một số tiện nghi nhất định.
- Các hoạt động bổ sung: kinh doanh dịch vụ bổ sung ra đơ
̀
i muô
̣
n hơn
so vơ
́
i ca
́
c hoa
̣
t đô
̣
ng kinh doanh kha
́

ng đầy đu
̉
hơn nhu
cầu cu
̉
a kha
́
ch du li
̣
ch, ko dài mùa du lịch, tăng doanh thu cho nga
̀
nh , tâ
̣
n
dụng triệt để hơn cơ sở vật chất sẵn có , còn chi phí tổ chức cung cấp dịch vụ

Trích đoạn Đánh giá theo phương diện phía cầu Đánh giá theo mô hình SWOT Mục tiêu phát triển của du lịch Đà Lạt Củng cố, phát triển nguồn lực Đẩy mạnh việc phát triển sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status