NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ LẠT - Pdf 58

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_________________________________________________________

DƯƠNG NGỌC LANG

NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH
ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ LẠT

Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Quang Vinh

Hà Nội, 2014


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận
được sự giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô
khoa Du lịch và quý thầy cô thỉnh giảng tại khoa Du lịch. Trường Đại học
Khoa học Xã hội & Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đặc biệt đến những quý thầy cô đã
tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Quang Vinh đã dành
rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành
luận văn tốt nghiệp.
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học
Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh cùng quí thầy cô trong khoa Sau đại học đã

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................7
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề..................................................................................8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................................11
5. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................13
6. Cấu trúc của luận văn.......................................................................................14
Chương 1. ĐIỂM ĐẾN VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN
DU LỊCH.........................................................................15
1.1. Điểm đến du lịch...........................................................................................15
1.1.1. Du lịch....................................................................................................15
1.1.2. Khái niệm điểm đến du lịch....................................................................17
1.1.3. Phân loại điểm đến du lịch......................................................................18
1.1.4. Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch....................................................20
1.2. Lý thuyết về cạnh tranh.................................................................................24
1.2.2. Phân loại cạnh tranh................................................................................26
1.2.3. Năng lực cạnh tranh................................................................................29
1.3. Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch...........................................................30
1.3.1. Khái niệm................................................................................................30
1.3.2. Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch..................31

1


1.3.3. Các phương pháp xác định năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch..........32
Chương 2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH ĐÀ
LẠT................................................................................40
2.1. Tổng quan về điểm đến du lịch Đà Lạt..........................................................40
2.1.1. Các điều kiện phát triển của du lịch Đà Lạt............................................40
2.1.2. Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt......47
2.2. Các đối thủ cạnh tranh chính của du lịch Đà Lạt...........................................48
2.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh thông qua phương pháp NPS (Net Promoter


2.2.

Độ tuổi của khách du lịch đến Đà Lạt................................

53

2.3. Mức độ hài lòng của khách du lịch khi đến Đà Lạt............

55

2.4. Mức độ hài lòng của khách du lịch về các dịch vụ tại Đà
Lạt.......................................................................................

56

2.5.

Mong muốn quay trở lại Đà Lạt của khách du lịch............

59

2.6. Mức độ hài lòng của du khách về đội ngũ nhân viên phục
vụ du lịch............................................................................

62

2.7. Mức độ hài lòng của du khách về chất lượng các tiện nghi
du lịch.................................................................................




DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu

Tên hình

Trang

2.1. Mức độ hài lòng của khách du lịch khi đến Đà Lạt...............

55

2.2.

Mong muốn quay trở lại Đà Lạt của khách du lịch...............

60

2.3. Tổng lượt khách nội địa đến với các tỉnh năm 2012.............

66

2.4. Tổng lượt khách quốc tế đến với các tỉnh năm 2012.............

69

2.5. Doanh thu du lịch của các tỉnh năm 2012.............................

74

các cơ sở dịch vụ và điểm đến du lịch… Sự tăng trưởng du lịch cả về cung và
cầu đã làm gia tăng áp lực với các địa phương trong việc duy trì sự phát triển
du lịch và nâng cao năng lực cạnh tranh. Do đó, năng lực cạnh tranh trở thành
yếu tố quan trọng quyết định thành công mang tính dài hạn của một địa
phương, một điểm đến du lịch.
Cùng với xu thế phát triển chung của du lịch toàn cầu và cả nước, trong
những năm gần đây, du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng đã tăng trưởng khá nhanh,
trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương. Du lịch phát triển đã góp phần tạo công ăn việc
làm, tăng thu nhập, cải thiện kết cấu hạ tầng và nhiều lĩnh vực trọng yếu khác.
Mặc dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú, song so với
một số địa phương có hoạt động du lịch khá phát triển trong thời gian gần đây
như: Phan Thiết, Nha Trang,… thì Đà Lạt có phần phát triển chậm hơn.
Những địa phương trên dần trở thành những điểm đến thành công, có thương
5


hiệu trên thị trường du lịch trong nước, quốc tế và trở thành đối thủ cạnh tranh
trực tiếp đối với điểm đến du lịch Đà Lạt. Những địa phương này cũng đã thu
hút một lượng khách khá lớn từ thị phần khách du lịch trong nước và quốc tế,
dẫn đến số lượng du khách đến Đà Lạt tăng nhẹ cả năm và giảm đi đáng kể
vào những dịp lễ trong những năm gần đây.
Các số liệu thống kê đã chỉ ra rằng, khách quốc tế chỉ chiếm khoảng
hơn 10% trong tổng số lượt khách đến du lịch Đà Lạt và tỷ lệ này đang có xu
hướng giảm. Đây là một tỷ lệ khá thấp trong những điểm đến du lịch nổi tiếng
của Việt Nam hiện nay. Điều này cho thấy việc phát triển của du lịch Đà Lạt
bộc lộ những nhân tố không bền vững và dẫn đến nội lực du lịch Đà Lạt chưa
thực sự vững chắc trước áp lực cạnh tranh ngày càng tăng từ các địa phương
khác.
Hiểu rõ về năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Đà Lạt, biết rõ

được khẳng định, hiệu quả thu hút khách du lịch sẽ ngày càng cao. Do vậy, đề
tài được thực hiện nhằm xác định được năng lực cạnh tranh của Đà Lạt hiện
nay, biết được những điểm mạnh của địa phương để lấy đó làm trọng tâm
trong quá trình xúc tiến, hoạch định phát triển du lịch và nhận biết những
điểm yếu để dần khắc phục và hạn chế. Qua đó, biết hướng để tạo sự khác
biệt, xây dựng thương hiệu riêng và sử dụng các phương tiện marketing hiện
đại hiệu quả để thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.
Với việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt trên
phương diện thực tiễn theo hướng tiếp cận cả định lượng và định tính, luận
văn sẽ tiến hành giải quyết các nhiệm vụ chính sau:
- Tổng hợp lý thuyết về cạnh tranh và các phương pháp xác định năng
lực cạnh tranh điểm đến du lịch, qua đó lựa chọn phương pháp xác định năng
lực cạnh tranh phù hợp nhất.
- Sử dụng phương pháp Benchmarking để xác định vị trí của du lịch Đà
Lạt so với các đối thủ cạnh tranh khác trong nước.
7


- Phân tích hiện trạng, các yếu tố nội sinh ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của điểm đến du lịch Đà Lạt.
- Phân tích các số liệu tổng hợp từ việc thu thập ý kiến của du khách,
căn cứ vào phương pháp NPS để nhận định rõ hơn những nhận xét, đánh giá
của họ về du lịch Đà Lạt.
- Căn cứ vào áp lực cạnh tranh từ các điểm đến du lịch khác và xu
hướng phát triển của thị trường để đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Đà Lạt.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Suốt thập niên vừa qua, các tài liệu nghiên cứu về du lịch ngày càng
quan tâm nhiều hơn đến khái niệm “cạnh tranh điểm đến”. Trong các thập
niên trước đây, sự cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch thường thể hiện qua yếu

bảo phân loại và đánh giá kết quả, cùng với đó đề tài còn sử dụng các hệ
thống khác là IDES và BSC để đánh giá một địa điểm cụ thể, phương pháp
này được triển khai dễ dàng nếu lựa chọn được những đối thủ có nhiều điểm
tương đồng để so sánh; “Kiểm tra năng lực cạnh tranh điểm đến từ du khách.
Quan điểm: mối quan hệ giữa kinh nghiệm du lịch và nhận thức năng lực
cạnh tranh điểm đến” [21, Fang meng], nghiên cứu cũng xác định các yếu tố
có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng kinh nghiệm du lịch và năng lực cạnh
tranh điểm đến của du khách.
Có thể nói, các nghiên cứu trên và nhiều nghiên cứu khác nữa đã trình
bày khá đa dạng về cách thức xác định năng lực cạnh tranh của một điểm đến
du lịch, nhưng trong đó chủ yếu tập trung khảo sát điều tra từ khách hàng &
nội lực bên trong của mình. Ngoài ra, còn có thể so sánh với các đối thủ cạnh
tranh tương đương để xác định những điểm yếu và thiết lập nên những lợi thế
cạnh tranh cho riêng mình.
Tại Việt Nam, hiện đã có một số công trình nghiên cứu về năng lực
cạnh tranh, các nghiên cứu này thường được tiến hành theo hướng định lượng
9


với một nhóm các đơn vị theo ngành hoặc theo lĩnh vực hoạt động cho một
vùng, một quốc gia. Các công trình nghiên cứu này thường được tiến hành
theo hướng định lượng và thường sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu.
Trong lĩnh vực du lịch, đáng chú ý nhất là đề tài “Nghiên cứu thực trạng và
giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tế của
Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” do vụ Lữ hành, Tổng cục Du lịch
Việt Nam thực hiện năm 2007. Nội dung chính của đề tài này là phân tích,
đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của toàn bộ lĩnh vực lữ hành quốc tế
trong mối tương quan với các nước trong khu vực, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao sức cạnh tranh của cả hệ thống này trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế. Về cơ bản, khuôn khổ phân tích của nghiên cứu này vẫn thiên

Trọng Hoàng, 2005)... Các đề tài trên đã tập trung nghiên cứu sâu về từng
khía cạnh của năng lực cạnh tranh, cho thấy rõ được những điểm yếu cũng
như những lợi thế của Đà Lạt trong việc khai thác, thu hút khách du lịch. Tuy
nhiên, các công trình chủ yếu phân tích theo hướng chủ quan của du lịch địa
phương, chưa có công trình nghiên cứu trên phương diện so sánh với các đối
thủ cạnh tranh khác trong nước. Ngoài ra, tính toàn diện tất cả các mặt trong
cạnh tranh lại rất ít được đề cập, có đề tài cập nhật toàn diện thì lại chú ý đến
khía cạnh khách quốc tế. Có thể nói, chưa có một công trình nào đề cập đến
khía cạnh cạnh tranh của du lịch Đà Lạt trên phương diện tổng hợp nhiều yếu
tố. Do vậy, luận văn nghiên cứu năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Đà
Lạt theo phương pháp NPS và so sánh với đối thủ cạnh tranh khác theo
phương pháp Benchmarking. Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số lý
thuyết cạnh tranh của Michael E. Porter và năng lực cạnh tranh điểm đến của
Kozak để dẫn chứng rõ hơn cho đề tài.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là năng lực cạnh tranh của
điểm đến du lịch Đà Lạt. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh là một khái niệm
động, không đứng độc lập một mình mà được đặt trong so sánh tương quan
11


với các điểm đến du lịch khác. Do vậy, ngoài đối tượng nghiên cứu chính,
luận văn còn tập trung vào đối tượng là các đối thủ cạnh tranh khác trong
nước.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn


Về mặt không gian: bao gồm phạm vi toàn quốc nhưng tập trung
chủ yếu tại thành phố Đà Lạt. Bên cạnh đó, để có cái nhìn
khách quan hơn về hoạt động du lịch địa phương, tác giả đã tiến

5.1.1. Phương pháp phân tích, so sánh
Phân tích là phương pháp tách một vật thể hoặc một hiện tượng phức tạp
ra thành những bộ phận, những yếu tố, những mặt đơn giản của nó. Phương
pháp này giúp xem xét kĩ hơn từng khía cạnh của năng lực cạnh tranh điểm
đến du lịch. Từ đó kết hợp với phương pháp so sánh, so sánh giữa các địa
phương du lịch khác, tìm ra được những vấn đề mới và có hướng giải quyết
phù hợp.
Áp dụng phương pháp này vào đề tài, tác giả tiến hành so sánh, đối
chiếu với các chỉ tiêu của du lịch Đà Lạt như: số lượng khách du lịch đến,
doanh thu du lịch/năm, mức chi tiêu của khách du lịch, thời gian lưu lại của
khách du lịch so với các địa phương cùng cấp. Qua đó nắm được vị trí của
điểm đến du lịch Đà Lạt so với các địa phương du lịch khác.
5.1.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi
Bảng hỏi là hệ thống các câu hỏi được sắp xếp trên cơ sở của các
nguyên tắc: tâm lý, logic và theo nội dung nhất định nhằm tạo điều kiện cho
người được hỏi thể hiện được quan điểm của mình với những vấn đề thuộc về
đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp được áp dụng vào luận văn nhằm điều tra các yếu tố
khách quan về du khách như: đặc điểm kinh tế - xã hội; nhân khẩu học của
khách du lịch; mức độ hài lòng, không hài lòng, phàn nàn của du khách; nhận
xét của các công ty lữ hành, các trung gian môi giới; chất lượng nguồn nhân
lực du lịch; chất lượng các tiện nghi. Các tiêu chí này được xây dựng thành
bảng hỏi, điều tra đối tượng khách du lịch quốc tế và nội địa đến với thành
phố Đà Lạt (bảng hỏi này được dịch sang ngôn ngữ phổ biến là tiếng Anh để
13


điều tra du khách quốc tế). Kết quả khảo sát được xử lý thống kê bằng phần
mềm SPSS (phần mềm trọn gói về thống kê trong nghiên cứu xã hội).
5.1.3. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp

1.1.1.1. Khái niệm du lịch
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. [18, 2]
Từ khái niệm trên cho ta thấy du lịch là một hoạt động liên quan đến
một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên
của họ bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với
mục đích chủ yếu không phải là kiếm lời. Quá trình đi du lịch của họ được
gắn với các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến.
1.1.1.2. Các điều kiện phát triển du lịch
* Những điều kiện chung
- Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội: không khí chính trị hòa
bình bảo đảm cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật,
văn hóa và chính trị giữa các dân tộc. Trong phạm vi các mối quan hệ kinh tế
quốc tế, sự trao đổi du lịch quốc tế ngày càng phát triển và mở rộng. Du lịch
nói chung, du lịch quốc tế nói riêng chỉ có thể phát triển được trong bầu
không khí hòa bình, ổn định, trong tình hữu nghị giữa các dân tộc. Về phương
diện quốc gia có thể dễ dàng nhận thấy, những đất nước ít xảy ra biến cố
chính trị, quân sự thường có sức hấp dẫn đối với đông đảo quần chúng nhân
dân, các khách du lịch tiềm năng. Ngược lại, sự phát triển của du lịch sẽ gặp
khó khăn nếu ở đất nước xảy ra những sự kiện làm xấu đi tình hình chính trị
hòa bình và trực tiếp hoặc gián tiếp đe dọa sự an toàn của khách du lịch.
15


- Điều kiện kinh tế: nền kinh tế phát triển là tiền đề cho sự ra đời và
phát triển của ngành kinh tế du lịch. Những đất nước có nền kinh tế phát triển,
có điều kiện sản xuất ra nhiều của cải vật chất có chất lượng đạt các tiêu
chuẩn quốc tế sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Kinh tế phát triển
sẽ kéo theo sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, công

và kinh tế, những sự kiện và hoàn cảnh đặc biệt có sức hút khách du lịch đến
địa điểm nào đó. Do vậy, những điểm đến du lịch đáp ứng càng nhiều mặt
thuận lợi của những yếu tố trên thì sẽ có nhiều điều kiện, cơ hội để thúc đẩy
ngành du lịch địa phương phát triển ở tầm cao mới. [9, 89]
1.1.2. Khái niệm điểm đến du lịch
Theo PGS. TS. Nguyễn Văn Mạnh và TS. Nguyễn Đình Hòa: “Điểm
đến du lịch là một địa điểm mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường
biên giới về địa lý, đường biên giới về chính trị hay đường biên giới về kinh
tế, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu
cầu của khách du lịch” [6, 341].
Theo PGS.TS. Trần Thị Minh Hòa, tập bài giảng Marketing điểm đến
du lịch: “Điểm đến du lịch là những điểm có tài nguyên du lịch nổi trội, có
khả năng hấp dẫn du khách, hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả và
đảm bảo phát triển bền vững”
Theo UN-WTO (2004): “Điểm đến du lịch là một không gian vật chất
mà du khách ở lại ít nhất là một đêm. Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như
các dịch vụ hỗ trợ, điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày.
Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định
tính cạnh tranh trong thị trường. Các điểm đến du lịch địa phương thường
bao gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại
với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn”. (trích dẫn lại từ tập bài
giảng môn Marketing điểm đến du lịch của PGS.TS Trần Thị Minh Hòa)
17


Tóm lại, một điểm đến du lịch phải bao gồm những yếu tố về không
gian vật chất, quản lý giới hạn hình ảnh, giới hạn không gian, có tài nguyên
du lịch nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách, hoạt động kinh doanh du lịch
có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững được gọi là điểm đến du lịch.
1.1.3. Phân loại điểm đến du lịch

đến với đất nước mình. Mỗi nước đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo và xúc
tiến du lịch để xây dựng hình ảnh của đất nước trong tâm trí của mọi người
trên thế giới như một điểm đến du lịch “an toàn và thân thiện”. Để thu hút
được nguồn khách quốc tế, ngoài việc tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du
lịch, mỗi nước phải tiến hành hoàn hiện các quy định pháp luật, một mặt tạo
điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho khách đến du lịch, mặt khác tạo môi
trường kinhh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có
hiệu quả. Bên cạnh đó, các nước phải tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật phục vụ cho sự phát triển du lịch như: sân bay, bến cảng, nhà ga, đường
xá, điện, nước, thông tin liên lạc,...
* Điểm đến du lịch mang tính địa phương
Nhiều điểm đến du lịch không chỉ mang tính địa phương mà là thương
hiệu du lịch của quốc gia. Nói đến Thái Lan người ta thường hình dung đến
Pattaya, Phuket, nói đến Indonexia người ta nghĩ đến Bali, hoặc nói đến du
lịch nước Mỹ người ta mong muốn đến du lịch Las Vegas… Các điểm đến
này hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách quốc tế. Nhắc đến du lịch Việt
Nam thì không thể không nhắc tới Đà Lạt, Vũng Tàu, Nha Trang, Hạ Long,…
Để tăng thêm sức hấp dẫn du lịch của các địa phương này thì ngành du lịch
các địa phương cần phải có những chủ trương, chính sách để đáp ứng tốt hơn
các nhu cầu của khách cũng nhưng tăng cường nhiều hoạt động du lịch phong
phú, hấp dẫn khác.

19


1.1.4. Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch
- Cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng có vai trò đặc biệt đối với việc thúc đẩy
phát triển các hoạt động du lịch. Cơ sở hạ tầng bao gồm các yếu tố sau:
Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải. Đây là những nhân tố
quan trọng hàng đầu. Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vi

sinh hoạt được diễn ra bình thường. Cho nên yếu tố điện, nước cũng là một
trong những nhân tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi, giải trí của
khách. Như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh
tế, trong đó có du lịch.
- Cơ sở vật chất - kỹ thuật. Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò
hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch, cũng
như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu
của khách du lịch. Vì vậy, sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn
liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật.
Du lịch là ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng
hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Do vậy cơ sở vất chất kỹ thuật
du lịch gồm nhiều thành phần khác nhau. Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hóa du
lịch đòi hỏi phải có một hệ thống các cơ sở, công trình đặc biệt… Tài nguyên
du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêu dùng của khách du lịch, việc
sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch đòi hỏi phải xây dựng một hệ
thống các công trình. Căn cứ vào các đặc điểm trên có thể hiểu cơ sở vật chất
kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc
tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đóng góp mọi nhu cầu của
khách du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật của
ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân
tham gia phục vụ du lịch như: thương nghiệp, dịch vụ… cơ sở vật chất kỹ
21


thuật du lịch và tài nguyên du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tài
nguyên du lịch ảnh hưởng tới công suất, thể loại, thứ hạng của hầu hết các
thành phần cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Khả năng tiếp nhận của tài nguyên
du lịch là cơ sở xây dựng công suất các công trình phục vụ du lịch. Sức hấp
dẫn của chúng có ảnh hưởng đến thứ hạng của các cơ sở này. Sự kết hợp hài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status