đánh giá tác dụng điều trị bệnh lý tnthnmt của bài thuốc-th-08- trên lâm sàng - Pdf 24


1
Đ
Đ


t
tv
v


n

đ


Thiểu năng tuần hoàn não mạn tính (TNTHNMT) là một tình trạng
bệnh lý có nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau, nhưng có cùng một cơ chế
bệnh sinh, đó là thiếu máu nuôi não, bệnh phổ biến ở người có tuổi đặc biệt là
ở người lao động trí óc. Nguyên nhân thường do vữa xơ động mạch làm hẹp
dần động mạch nuôi não. Bệnh tiến triển nặng dần có thể gây thiếu máu não
cục bộ tạm thời, mức độ nặng nhất là nhồi máu não [29][30][31][43].

rộng rãi vì chưa thực sự đáp ứng nhu cầu chữa bệnh của người bệnh.
Trên cơ sở nghiên cứu cơ chế bệnh sinh của bệnh lý TNTHNMT, dựa
trên những thành tựu nghiên cứu dược lý hiện đại về thuốc thảo mộc kết hợp
với biện chứng luận trị y lý YHCT chúng tôi tổ chức bài thuốc "TH-08"
nhằm góp phần dự phòng và điều trị an toàn hiệu quả bệnh lý TNTHNMT.
Mục tiêu cụ thể là:
1. Xác định độc tính của bài thuốc "TH-08".
2. Đánh giá tác dụng điều trị bệnh lý TNTHNMT của bài thuốc"TH-08"
trên lâm sàng.

3

C
C
h
h
ư
ư
ơ
ơ
n

t
à
à
i
il
l
i
i


u
u

1.1. Y học hiện đại
1.1.1. Giải phẫu, sinh lý tuần hoàn và chuyển hóa ở não
1.1.1.1. Đặc điểm giải phẫu các động mạch não
Não được tưới máu bởi hai hệ thống động: hệ động mạch cảnh trong
(A. Carotid) và hệ động mạch đốt sống - thân nền (A. Vertebro - basi Laris)
Hệ thống động mạch cảnh trong: cung cấp máu cho khoảng 2/3 trước
của bán cầu đại não.
Các nhánh:
+ Bốn nhánh tận: động mạch não trước, động mạch não giữa, động
mạch thông sau và động mạch mạc trước. Mỗi động mạch não chia làm 2
ngành: loại ngành nông cung cấp máu cho não, loại ngành sâu đi vào trong

tận cùng ở lớp chất trắng dưới vỏ.
Đặc điểm: hệ thống sâu và nông độc lập nhau, các nhánh nông có nối
thông với nhau, nhưng trong hệ thống sâu các nhánh có cấu trúc chức năng
của các nhánh tận. Các nhánh thuộc hệ thống trung tâm tận cùng ở lớp nông
dưới vỏ còn các nhánh nông đi vào sâu tận cùng ở lớp chất trắng dưới vỏ- Tại
nơi tiếp giáp không có mạch nối quan trọng nên hình thành vùng “ranh giới “,

5
ở vùng này sự cung cấp máu kém hơn. Khi có biến cố giảm áp lực dòng máu
đến não một cách đột ngột thì vùng “ranh giới” dễ bị tổn thương nhũn não,
ngược lại khi huyết áp cao đột ngột thì vùng dễ gây xuất huyết ở các nhánh
động mạch xuyên sâu [3][15].

6
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống nối thông của tuần hoàn não (theo Frank. Netter)

7
1.1.1.2. Đặc điểm sinh lý tuần hoàn và chuyển hóa ở não
+ Lưu lượng tuần hoàn não: Là lượng máu qua não trong một đơn vị
thời gian (phút), bình thường khoảng 750 ml máu qua não trong một phút
(bằng 14% cung lượng tim) cho cả chất xám và chắt trắng [15].
- Lưu lượng tuần hoàn não thay đổi theo tuổi. Trẻ em < 15 tuổi có lưu l-
ượng máu não 100 ml/100g/phút. Tuổi càng tăng thì lưu lượng máu não càng
giảm, đến 60 tuổi lưu lượng máu não chỉ còn 36 ml/100g/phút [2][3][15][31]).
- Lưu lượng tuần hoàn não phụ thuộc vào hai yếu tố chính là áp lực động
mạch và sức cản đối với dòng máu chảy trong mạch não theo công thức [3]:
P D: lưu lượng máu não
D = P: áp lực động mạch
R R: sức cản mạch
Lưu lượng tăng nếu có tăng HA hoặc giãn mạch

[26][31][55][91].
+ Tác động từ bên ngoài ĐM đốt sống gây TNTHN hệ sống nền:
Theo Dương Văn Hạng (1994) và Hồ Hữu Lương (2003), thoái hoá
xương, khớp, đĩa đệm ở cột sống cổ có thể gây TNTHN hệ sống nền [23], [36].
Theo Nguyễn Văn Đăng (2007) và một số tác giả nước ngoài, trong số
người cao tuổi có thoái hoá cột sống cổ, khi làm động tác quay cổ đột ngột,
ĐM đốt sống có thể bị kẹt, có thể gây thiếu máu tam thời cho não [19].
Theo một số tác giả nước ngơài, có hơn 80% người trên 55 tuổi có
hình ảnh tổn thương trên phim X quang và nhiều người trong số họ có các
biểu hiện lâm sàng TNTHNMT [65].
* Theo Hồ Hữu Lương, ngoài ra còn gặp các nguyên nhân sau [19]:
- Hư đĩa đệm cột sống cổ.

9
- Các dị dạng bẩm sinh của động mạch não.
- Bệnh tim mạch và các bệnh mạn tính gây thiếu ô xy.
- Hạ huyết áp.
1.1.3. Những nghiên cứu về lâm sàng để chẩn đoán TNTHNMT:
Lâm sàng TNTHN được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu
theo nhiều khía cạnh khác nhau. TNTHN được Denny Brown nghiên cứu từ
năm 1951 và sau đó được các nhà nghiên cứu Corday và cộng sự (1953)
Millikan và Sieekact (1955) tiếp tục nghiên cứu. Theo các tác giả trên tất cả
các loại thiếu máu não cục bộ, cấp tính cũng như mãn tính, không có tổn th-
ương thần kinh khu trú đều có thể gọi là TNTHN. Theo tính chất lâm sàng có
thể chia ra TNTHNMT và TNTHN cấp tính, Theo định khu có thể chia ra
TNTHN hệ động mạch cảnh, TNTHN hệ động mạch sống nền, TNTHN ở
toàn thể hệ tuần hoàn não hoặc một khu vực nhỏ của não.
Từ năm 1974, được sự khuyến khích của Tổ chức Y tế thế giới
(WHO), nhiều nhà y học đã quan tâm tới vấn đề này. Năm 1979 Khajiev và
cộng sự đã khám và điều tra 250.000 người, từ đó đưa ra bảng tiêu chuẩn

ngủ và mọi kiểu phối hợp gữa các yếu tố đó. Đa số tác giả thấy rối loạn giấc ngủ
hay gặp nhất là mất ngủ, trằn trọc ban đêm, tỉnh giấc không ngủ lại được.
- Rối loạn về sự chú ý: Thường bị rối loạn ngay từ giai đoạn đầu của
bệnh, là trở ngại đầu tiên của bệnh đối với khả năng làm việc, dần dần nặng
hơn và phức tạp hơn, cuối cùng là sự sa sút trí tuệ.
- Rối loạn về tri giác: Theo Kehrer, thị giác và thính giác vẫn bình
thường nhưng bệnh nhân thấy và nghe được Ýt hơn người trẻ. Các chức năng
phân tích của não bị rối loạn, rõ nhất với thị giác và thính giác,hay gặp giảm
thính lực, hẹp thị trường…

11
- Rối loạn về trí nhớ: Tất cả các tác giả đều cho rối loạn về trí nhớ là
một trong những biểu hiện chủ yếu của TNTHNMT. Đặc điểm là giảm rõ rệt
trí nhớ gần, khó nhớ lại sự việc vừa xẩy ra, có thể nhớ một số việc nhưng
không có khả năng sắp xếp lại theo đúng trình tự xuất hiện [5][30].
- Rối loạn về xúc cảm: Rối loạn về xúc cảm gần như bao giờ cũng gặp
và biểu hiện rất đa dạng, phần lớn là tình trạng vừa hay dễ xúc động khóc lóc
vừa hay dễ bực mình cáu gắt [30].
- Rối loạn về nhân cách tính tình: Sự thay đổi nhân cách tính tình trong
TNTHNMT lệ thuộc rất nhiều vào tình trạng tâm sinh lý trước kia của người
bệnh. Schneider phân ra 3 loại tiến triển của rối loạn nhân cách hay gặp trong
TNTHNMT: Thứ nhất là bệnh sảng khoái, ba hoa, nói nhiều; thứ hai làvô
tình cảm, nghèo nàn về tư duy trí tuệ và thứ ba là loại tình cảm thất thường dễ
kích động [30].
TNTHN hệ động mạch đốt sống thân nền:
+ Bệnh cảnh lâm sàng được Schott mô tả một cách khá đầy đủ từ năm
1965. Các triệu chứng lâm sàng rất nhiều và đa dạng, lúc thì biểu hiện thần
kinh rất phong phú, điển hình nhưng hết nhanh, lúc thì rất nghèo nàn, chỉ đơn
độc một triệu chứng.
Nổi bật nhất là tam chứng: đau đầu phía sau vùng gáy, chẩm; chóng

độ lú lẫn tinh thần và có giá trị tiên lượng bệnh. Theo Vũ Đăng Nguyên dấu
hiệu thiếu o xy não trong TNTHN được thể hiện trên EEG dưới dạng các nhịp
chậm trên nền mất tổ chức các nhịp. Đào Phong Tần và cộng sự cho rằng ghi
đồng thời REG và EEG là phương pháp không gây nguy hiểm, Ýt tốn kém,

13
trong nhiều trường hợp rất có giá trị để chẩn đoán TNTHNMT)
[5][9][16][20][39][40]
1.1.4.3. Chụp X quang cột sống cổ [11]
- Phim chụp thẳng: để nhận định về các tương quan trục trong mặt
phẳng trước và tư thế các mỏm móc của các đoạn cột sống cổ giữa và dưới.
- Phim chụp nghiêng: phát hiện tổn thương diện khớp, thoát vị đĩa
đệm, trượt đốt sống, mất đường cong sinh lý cột sống cổ.
- Phim chụp chếch 3/4 phải, chếch 3/4 trái: để phát hiện các biến đổi của lỗ ghép.

Thoái hoá CS cổ ( Gai xương ở mấu bán nguyệt và thân đốt) Dính C4-C5 bẩm sinh
Hình 1.2: Một số hình ảnh X quang thoái hóa cột sống cổ
1.1.5. Những nghiên cứu về điều trị thiểu năng tuần hoàn não mạn tính:
Điều trị TNTHNMT bằng nội khoa là xu hướng chính hiện nay ở Việt
Nam còng như trên thế giới. Các phương pháp điều trị ngoại khoa (nối mạch,
lấy huyết khối, loại bỏ mảng vữa xơ ) chỉ đề cập đến khi BN có tai biến
mạch máu não.
1.1.5.1. Điều trị thiểu năng tuần hoàn não mạn tính bằng nội khoa Y học
hiện đại

14
Có rất nhiều loại thuốc khác nhau và kết quả cũng có khác nhau, có thể
chia làm bốn nhóm thuốc chính [30]:
- Nhóm 1: Các chất tổng hợp hữu cơ, các thuốc chính thường dùng là
Stugerol, Pipratecol, Sermoin, Firacetam

tính chất dược lực học thích hợp nhất để điều trị bệnh mạch máu não và mạch
máu ngoại biên, đó là tính chất tác động tới các tổ chức thiếu máu cục bộ mà
không ảnh hưởng đến tuần hoàn hệ thống.
Buflomedil có tác dụng cải thiện khả năng tưới máu của tuần hoàn vi
mạch tại tổ chức thiếu máu. Theo hãng lafon, Buflomedil đã được sử dụng
trên một số lượng lớn những BN TNTHN và những BN cao tuổi sa sút trí tuệ
do lão hóa. Trong một nghiên cứu kéo dài, các tác giả đã công bố uống
Buflomedil 450-600mg/ngày làm giảm rõ rệt các dấu hiệu và triệu chứng
TNTHNMT hệ sống nền 37/45 BN.
Một nghiên cứu của Levison và cộng sự thấy rằng Buflomedil cải thiện
rõ tình trạng rốiloạn nhận thức, rối loạn tâm căn (hồi hộp, choáng váng, bồn
chồn) và cải thiện tôt hơn quan hệ giao tiếp.
Theo Pignoli và cộng sự, đã so sánh Buflomedil với liều 600mg/ngày
theo đường uống với Pentoxiflline 800mg/ngày ở 30 BN xơ vữa động mạch
ngoại biêngiai đoạn 2. Buflomedil cải thiện được đáng kể triệu chứng giảm
nhiệt và dị cảm sau 90 ngày điều trị, kết quả này có liên quan tới việc tăng
lưu lượng máu lúc nghỉ ngơi và tăng lưu lượng máu tối đacho ngón chân.
Pentoxiflline không làm thay đổi một cách rõ rệt các thông số trên.
Buflomedil có tác dụng cải thiện tuần hoàn vi mạch bị suy yếu bằng
hai cách: tác dụng với huyết động và huyết lưu biến.

16
Năm 1999 Lê Văn Lệ 1999 đã nghiên cứu 52 BN được chẩn đoán
TNTHNMT điều trị tại khoa AM4 - Bệnh viện 103 bằng Buflomedil với liều
450mg/ngày thấy có tác dụng cải thiên tình trạng TNTHNMT ở hầu hết các
BN, trong đó có 76% đỡ nhiều. Điểm lâm sàng theo Khajiev giảm từ 29,06
xuống còn 13,3%. Triệu chứng đau đầu khỏi hoàn toàn 68%, mệt mỏi khỏi
hoàn toàn 54%, chóng mặt khỏi hoàn toàn 75,6%, rối loạn giấc ngủ khỏi
hoàn toàn 38,1%. Tỷ lệ BN có trí nhớ kém sau đợt điều trị giảm rõ, đồng thời
tỷ lệ BN có trí nhớ khá sau đợt điều trị đã tăng lên rõ rệt. Các triệu chứng


18
huyết vận hành bất thông, huyết ứ nội trở, bất thông tắc thống, đều sinh đau
đầu.

19
1.2.1.2. Chứng huyễn vựng:
“Huyễn” là mục huyễn là chỉ trạng thái hoa mắt hoặc trước mắt tối
sầm, “ Vùng” là đầu vựng là cảm thấy mọi vật xung quanh xoay chuyển như
ngồi trên tàu, xe hoặc trên thuyền. Hai triệu chứng này thường đồng thời xẩy
ra nên có tên là huyễn vựng.
Sách "Tố vấn chí nhân yếu đại luận" cho rằng: "mọi chứng quay cuồng
chao đảo đều thuộc can méc", ý nói do can phong nội động sinh ra, về sách
hà gian lục thư cho là phong và hỏa gây nên, dương thuộc hỏa, dương chủ
động nên gây ra chao động. Đan khê tâm pháp cho rằng không có đàm thì
không “huyễn”, cho nên trước hết cần chữa đờm. Sách "cảnh nhạc toàn thư"
viết: Không hư thì không thành “huyễn”, không thành “vùng” ý nói là huyễn
vựng là do hư hiệp hỏa, phép chữa là bổ hư bình can hỏa.
Nguyên nhân bệnh lý:
- Can dương thượng cang: Bình thường can dương khô nóng ở trên gây
huyễn vựng, hoặc do tình chí không thư thái, uất ức lâu ngày khiến can âm
hao, can dương thăng động gây nhiễu tầng không gây huyễn vựng: có khi
thận âm hư tổn không dưỡng được can mộc dẫn đến can âm thiếu, can dương
bốc lên gây huyễn vựng.
- Đàm trọc trung trở: Do ăn nhiều các thứ béo bổ, hại đến tỳ vị, thức ăn
uống không hóa thành tân dịch mà biến thành đờm thấp, khiến dương không
thăng, trọc âm không giáng gây huyễn vựng.
- Thận tinh bất túc: Do tiên thiên thiếu khiến thận tinh thiếu, tủy thiếu,
không bổ sung cho não gây huyễn vựng.
- Khí huyết đều hư: Bệnh lâu không khỏi, hao tổn khí huyết, hoặc sau

không thông lên tâm được cho nên mê muội chóng quên”(nhân chi tinh dữ
chí giai tàng vu thận, thận tinh bất túc tắc chí suy bất năng thượng thông vu

21
tâm, cố mê hoặc thiện vong dã). Do đó có thể biết hay quên phần nhiều do
tâm tỳ và thận suy tổn mà sinh ra.
1.2.2. Biện chứng luận trị theo thể bệnh [3]
1.2.2.1. Khí huyết lưõng hư
+ Triệu chứng: hoa mắt, chóng mặt, hồi hộp sợ sệt, mất ngủ hay quên,
giấc ngủ không yên, sắc mặt kém tươi nhuận, lưỡi nhợt rêu lưỡi mỏng, mạch
tế sác.
+ Phương pháp điều trị: bổ khí huyết, kiện tỳ.
+ Phương thuốc thường dùng: Tập toàn đại bổ gia giảm.
1.2.2.2. Can thận âm hư
+ Triệu chứng: váng đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, trí nhớ giảm sút,
lưỡng mục khô sáp, chi tê mỏi, miệng khô, lưng gối đau mỏi, sắc mặt đỏ, 2
gò má đỏ, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế sác.
+ Phương pháp điều trị: tư bổ can thận.
+ Phương thuốc thường dùng: kỷ cúc địa hoàng thang gia giảm.
1.2.2.3. Đàm trệ huyết ứ
+ Triệu chứng: mất ngủ hay mê, đau đầu cố định không di chuyển, hoa
mắt chóng mặt, sắc mặt xanh, chất lưỡi tím bệu trệ nhớt có điểm ứ huyết,
mạch huyền sáp.
+ Phương pháp điều trị: kiện tỳ, bổ thận, tiêu đàm, hoạt huyết hóa ứ.
+ Phương thuốc thường dùng: huyết phủ trục ứ thang gia giảm
1.2.3. Những nghiên cứu về điều trị
- Theo Trần Minh Vịnh (1990), CM
2
được bào chế từ các vị thuốc có
nguồn gốc thực vật có tác dụng tốt trong việc cải thiện tuần hoàn não [53].

tốt các triệu chứng lâm sàng nh-: nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, rối loạn
giấc ngủ, dị cảm; với tỷ lệ trên 90% [17].

23
- Nguyễn Thanh Lâm (2006), dùng bài thuốc DN để điều trị TNTHN
hệ động mạch đốt sống thân nền có kết quả tương đối tốt: khái 25,8%, đỡ
nhiều 64,52% [32].
- Bùi Thị Thủy (2008), dùng bài thuốc "Tứ vật đào hồng thang" để
điều trị TNTHNMT có kết quả: đỡ nhiều 71,43%, đỡ Ýt 28,57%, không có
trường hợp nào không đỡ hoặc nặng thêm [46].
1.2.4.Tổng quan các vị thuốc trong bài thuốc "TH-08"
1.2.4.1. Hoàng kỳ (Radix astragali)
Hoàng kỳ là rễ phơi khô của cây
hoàng kỳ Astagalus membranaceus
(Fisch) Bge, thuộc họ đậu Fabaceae
[13][33][54][95].
+ Thành phần hoá học: Các thành
phần có hoạt tính sinh học thuộc 2
nhóm: polysacharit và saponin.
+ Hoàng kỳ có vị ngọt, hơi ôn, qui
kinh tỳ - phế, tác dụng: bổ khí thăng
dương, Ých vệ cố biểu, lợi niệu tiêu
thũng, thác sang sinh cơ.
+ Tác dụng dược lý: thử nghiện
trên in vitro với polysacharit hoàng kỳ
sẽ làm tăng hoạt tính miễn dịch, điều
chỉnh lại chức năng tế bào T đã bị suy. nghiên cứu sâu thấy hoàng kỳ làm
tăng hoạt tính interleukin-2. Trên lâm sàng hoàng kỳ có tác dụng tăng cường
khả năng miễn dịch lợi liệu, chống não suy, dưỡng can, hạ áp., tăng sức co
bóp cơ tim, ngoài ra còn có tác dụng kháng khuẩn, ổn dịnh màng tế bào hồng


25
Tác dụng trên huyết áp và hô
hấp: liều nhỏ huyết áp hơi hạ thấp, hô
hấp hơi bị kích thích hoặc ảnh hưởng
rất Ýt, liều trung bình huyết áp hạ thấp nhiều hơn, hô hấp khó khăn. liều lớn
huyết áp hạ rất nhanh, hô hấp khó khăn rõ rệt, cuối cùng hô hấp ngừng lại
gây chết
+ Đương qui có ngọt, cay, Êm, qui kinh tâm - can - tỳ, tác dụng bổ huyết
- hoạt huyết - điều kinh, thông kinh, dưỡng gân, tiêu sưng - nhuận tràng.
Bài thuốc tứ vật thang trong đó có đương qui Trung Quốc đã nghiên
cứu trên bệnh thiếu máu thực nghiệm gây bằng acetat chì, có tác dụng làm
tăng số lượng hồng cầu và tỷ lệ huyết sắc tố của động vật gây thiếu máu. Trên
lâm sàng bài thuốc tứ vật thang là bài thuốc cổ phương chữa thiếu máu, suy
nhược cơ thể, kinh nguyệt không đều. Đưong qui là một vị thuốc thường có ở
trong rất nhiều bài thuốc cổ phương cũng như nghiệm phương, được chỉ định
trong rất nhiều đơn thuốc bổ và thuốc trị bệnh như thuốc chữa thiếu máu, đau
đầu, suy nhược cơ thể, suy tim, đau ngực, viêm khớp, chân tay tê bại, đau lưng
Nhiều nghiên cứu cơ bản đã chứng minh có mối liên quan giữa công
năng tăng cường tuần hoàn não và điều trị ứ trệ máu của đương qui theo
YHCT với việc điều trị những bệnh chẩn đoán theo YHHĐ như bệnh tim
mạch, bệnh viêm mạch tạo huyết khối nghẽn và bệnh nghẽn mạch não.
Đương qui (cao cồn) có hoạt tính chống loạn nhịp, đương qui làm tăng hoạt
tính thực bào của đại thực bào trên thực nghiệm [54].
1.2.4.3. Đào nhân (Semen Persicae):
Đào nhân là nhân hạt quả đào
phơi khô của cây đào Prunus bersica (L.)
Batsch, thuộc họ hoa hồng Rosaceae [13].

Trích đoạn Động vật thử nghiệm:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status