ĐẶT VẤN ĐỀ
Bỏng là tổn thương cấp tính của cơ thể gây nên bởi sức nhiệt, hoá chất,
điện năng, bức xạ. Bỏng là một tai nạn thường gặp trong thời bình và thời
chiến. Theo Lê Thế Trung [40], ở Việt Nam trong thời bình, nếu so với chấn
thương ngoại khoa, tỷ lệ bỏng từ 6-10% và trong chiến tranh, tỷ lệ bỏng
thường chiếm từ 3-10% tổng số thương binh và nếu chiến tranh sử dụng vũ
khí hạt nhân, dự kiến tỷ lệ bỏng chiếm 70-85% tổng số nạn nhân.
Tổn thương bỏng gây nên các rối loạn tại chỗ và toàn thân nặng nề. Do
vậy điều trị tại chỗ vết thương bỏng có một vị trí quan trọng trong quá trình
điều trị bệnh nhân bỏng.
Trong quá trình liền vết thương bỏng, nhiễm khuẩn là biến chứng nặng
và hay gặp, làm chậm quá trình liền vết thương. Nhiễm khuẩn cũng là nguyên
nhân dẫn đến tỷ lệ tử vong cao của bệnh nhân bỏng [40].
Nguyên nhân gây nhiễm trùng vết bỏng do nhiều loại vi khuẩn khác nhau như:
Streptococcus, Staphylococcus aureus (S.aureus), Pseudomonas aeruginosa
(P.aeruginosa), Enterobacter, E.coli… trong đó hay gặp nhất là S.aureus và
P.aeruginosa [1] [18] [48].
Các thuốc điều trị tại chỗ vết thương bỏng đang được sử dụng nh
Silvadene, Flammazin, Silvirin đều nhập từ nước ngoài có tác dụng điều trị
tốt nhưng giá thành cao và đã có biểu hiện vi khuẩn kháng thuốc [81].
Trong những năm gần đây, nhiều tác giả trên thế giới cũng như trong
nước đã công bố nhiều công trình nghiên cứu khoa học sử dụng các thuốc có
nguồn gốc thực vật để điều trị tại chỗ các vết thương bỏng và vết thương phần
mềm nhiễm khuẩn có hiệu quả.
Y học cổ truyền dựa theo kinh nghiệm dân gian, qua sự chọn lọc rút
kinh nghiệm của nhiều thế hệ cũng đã tìm ra những cây thuốc, vị thuốc,
phương thuốc chữa bỏng quý giá kết hợp giữa uống trong và bôi ngoài nhằm
mục tiêu: thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, khứ ứ, bài nùng, sinh cơ và tăng
cường bổ khí huyết, thúc đẩy quá trình liền vết thương bỏng nhanh.
1
Cây Lô hội có tên khoa học là Aloe vera L. var. chinensis (Haw)
1.1.1. Đại cương :
Bỏng là tổn thương mô tế bào do tác nhân nhiệt gây nên, mỗi tác nhân
đều có các đặc điểm riêng. Tổn thương bỏng gây đau đớn và các phản ứng tự
vệ toàn thân, nếu bỏng diện rộng, độ sâu lớn sẽ gây rối loạn chức năng của cơ
thể. Diễn biến bệnh lý tại chỗ tổn thương bỏng được coi là ổ nguyên phát tạo
nên bệnh bỏng. Diễn biến trong bệnh bỏng phức tạp qua nhiều giai đoạn và
các giai đoạn này chồng chéo và ảnh hưởng lẫn nhau [38] [40].
1.1.2. Cơ chế bỏng.
Cơ chế gây tổn thương mô tế bào của mỗi loại tác nhân gây bỏng có
những đặc điểm khác nhau, nhưng có nhiều điểm giống nhau về hình thái tổn
thương đại thể, về phân loại mức độ tổn thương và diễn biến bệnh lý [3].
Với báng do sức nhiệt, mức độ tổn thương bỏng phụ thuộc vào mức
nhiệt và thời gian tiếp xúc lên mô tế bào. Mức nhiệt độ giới hạn gây hại cho
mô tế bào là 44
0
C. Nhiệt độ dưới 43
0
C không gây tổn thương mô và tế bào dù
thời gian tiếp xúc kéo dài. Ở nhiệt độ 60-70
0
C trở lên, mô tế bào bị hoại tử,
nguyên sinh chất vón hạt, tổn thương bỏng xuất hiện ngay lập tức. Chất
Collagen bị biến chất ở nhiệt độ 65
0
C. Tổn thương bỏng liên quan trực tiếp
với thời gian tiếp xúc: để gây bỏng sâu toàn bộ lớp da với nhiệt độ 68
0
C chỉ
cần một giây, với nhiệt độ 60
0
* Bỏng nông (bỏng độ I, II, III).
- Bỏng độ I (viêm da cấp): tổn thương tới lớp nang nông của thượng bì,
biểu hiện vùng bỏng khô đỏ, nề, đau rát, tổn thương sau 2-3 ngày tự khỏi,
không để lại dấu vết gì.
4
- Bỏng độ II (bỏng biểu bì): lớp tế bào mầm còn nguyên vẹn. Trên nền
da viêm cấp có các nốt phỏng chứa dịch trong hoặc vàng.
- Bỏng độ III (báng trung bì): còn gọi là bỏng trung gian, tổn thương
hoại tử toàn bộ lớp biểu bì và phần lớn các thành phần trung bì như gốc lông,
tuyến mồ hôi, tuyến bã vẫn còn. Bỏng trung bì còn phân ra 2 loại.
+ Báng trung bì nông: khi tổn thương đến lớp trung bì nông, nền nốt
phỏng đỏ ướt, tăng cảm khi đụng chạm tới, các ống lông, nang lông, tuyến mồ
hôi vẫn còn nguyên vẹn. Hiện tượng biểu mô hoá hoàn thành từ ngày 15-20
không để lại sẹo nhưng da kém mềm mại, rối loạn sắc tố da.
+ Báng trung bì sâu: khi tổn thương tới lớp trung bì sâu, nền nốt phỏng
có chỗ trắng, có chỗ hồng nhạt, giảm cảm giác khi thử nghiệm pháp gây đau.
Tuy nhiên, để chẩn đoán chắc chắn bỏng trung bì người ta phải đợi đến ngày
12-14 khi đám da hoại tử đã rụng và mô hạt hình thành, có rải rác đảo biểu
mô của gốc lông và tuyến mồ hôi. Bỏng trung bì sâu có thể khỏi sau 20-30
ngày, nhờ quá trình biểu mô hoá từ các thành phần biểu mô còn sót lại có khi
đảo biểu mô bị huỷ do tỳ đè hoặc nhiễm khuẩn, phải mổ ghÐp da. Khi khỏi
để lại sẹo bỏng, sẹo trung bì thường mềm, nhạt mầu hơn so với vùng da lân
cận.
* Bỏng sâu (bỏng độ IV, V).
- Báng độ IV (bỏng toàn bộ lớp da): các tổ chức biểu mô của da đều bị
huỷ hoại. Trên lâm sàng độ bỏng này thể hiện dưới dạng hoại tử ướt (khi nhiệt
độ trong líp da từ 50-58
0
C) hoặc hoại tử khô (khi nhiệt độ trong líp da đạt tới
65-70
thường bằng phương pháp:
+ Phương pháp của Blokhin:
Phương pháp ướm đo bằng bàn tay của bệnh nhân. Một gan tay hoặc
mu tay bệnh nhân tương ứng với diện tích 1% - 1,25%. Phương pháp này hay
dùng khi bỏng rải rác nhỏ [22].
+ Bảng tính sẵn của Luckman J & Sorensen K – Năm 1967 [22]:
1.3. Nhiễm khuẩn vết bỏng.
6
Da là hàng rào bảo vệ vững chắc ngăn không cho vi khuẩn bên ngoài
xâm nhập vào cơ thể. Khi tổn thương bỏng, hàng rào bảo vệ bị phá vỡ, mô
hoại tử trở thành môi trường thuận lợi cho vi khuẩn sinh sôi và nảy nở. Mặt
khác, vùng phù ứ và xung huyết bị tổn thương các vi mạch, dịch phù ứ đọng
làm cản trở tuần hoàn tại đó, dẫn đến tổ chức tổn thương nuôi dưỡng kém tạo
điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn sinh sôi, phát triển lấn sâu vào mô lành và
nhiễm khuẩn lan toả [32] [40] [47]. Vi khuẩn còn từ chất thải của bệnh nhân,
từ tay người chăm sóc, từ trang thiết bị dụng cụ y tế, nhân viên y tế, không
khí môi trường bệnh viện cũng có thể xâm nhập vào tổ chức tổn thương [40]
[82]. Vi khuẩn xâm nhập sâu vào mô, vào hệ thống tuần hoàn gây biến chứng
như viêm mô, nhiễm khuẩn huyết. Do vậy nhiễm khuẩn bỏng đang được các
nhà chuyên môn quan tâm giải quyết, vấn đề này đặc biệt quan trọng trong
việc điều trị tại chỗ tổn thương và bệnh bỏng.
Quá trình nhiễm khuẩn vết bỏng do các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể
qua vết thương, tuỳ theo sức chống đỡ của cơ thể, mức độ tổn thương bỏng,
các giai đoạn bỏng và số lượng vi khuẩn, loài vi khuẩn mà bệnh cảnh lâm
sàng có những biểu hiện khác nhau. Nhiễm khuẩn bỏng có thể chỉ là nhiễm
khuẩn tại chỗ, nhưng có thể gây nên nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn toàn
thân. Mức độ nhiễm khuẩn gây nên những hậu quả xấu như: làm cho vết bỏng
chậm liền, kéo dài ngày điều trị và đặc biệt là một trong những nguy cơ gây
tử vong. Nhiều tác giả đã cảnh báo: nhiễm khuẩn vết bỏng là nguyên nhân
chính gây tử vong cho bệnh nhân bỏng [1] [20] [24] [40] [84].
1.4. Tình hình kháng lại kháng sinh của S.aureus và P.aeruginosa.
Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo: kháng lại kháng sinh là một vấn
đề y tế nan giải trên toàn cầu. Mức độ kháng thuốc kháng sinh đối với các vi
khuẩn gây bệnh ngày càng gia tăng, đặc biệt nguy hiểm là xuất hiện các
chủng vi khuẩn cùng một lúc kháng lại nhiều loại kháng sinh khác nhau và
việc truyền khả năng kháng thuốc từ một loại vi khuẩn này sang một hoặc
nhiều loại vi khuẩn khác [5] [6] [83].
Lưu Đắc Trung (1991), thông báo S.aureus đã kháng lại nhiều loại
kháng sinh khác nhau như Methicillin, Oxacillin, Vancomycin [45].
8
Lê Thu Hồng (1994), thông báo S.aureus và P.aeruginosa phân lập
được từ các bệnh nhân bỏng tại Viện Bỏng Quốc gia cũng đã kháng lại nhiều
loại kháng sinh (nhóm Beta Lactam và Cephalosporin) [10].
Nguyễn Văn Việt và Hoàng Ngọc Hiển (2004), nghiên cứu tại bệnh
viện 103 trong 3 năm (2000-2003) cũng thông báo tỷ lệ kháng lại kháng sinh
của S.aureus đối với các kháng sinh thông dụng là rất cao (>50%): S.aureus
kháng Erythromycin (75,1%), Doxycycllin (58,7%), Methicillin (54,4%),
Ceftazidin (63,9%), Norfloxacin (56,1%), Vancomycin (9,5%) [52].
Ở nước ngoài cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về sự kháng lại thuốc
kháng sinh của vi khuẩn [79] [83] [84].
Hutchison L.C (2000), thấy hầu hết các chủng S.aureus phân lập được
trên nhiễm trùng da của bệnh nhân cao tuổi đều đã kháng lại kháng sinh [74].
Igumber E và cộng sự (2000), còng cho thấy có đến 65,7% các chủng
P.aeruginosa đã kháng lại Gentamicin, 61,9% kháng lại Carbenicilin, 61,1%
kháng lại Ciprofloxacin, 70,8% kháng lại Ceftriazone. Các chủng kháng thuốc
này đều liên quan đến yếu tố Plasmid [75].
Fatani M. I và cs (2002), thấy trong sè 65,6% các vết thương
nhiễm S.aureus có đến 80,55% kháng lại Penicillin, 10,6% kháng lại
Tetracyclin [66].
Fridkin và cs (2002), khi nghiên cứu mức độ kháng thuốc của các vi
10
24-48 giờ đầu. Hiện tượng này tiếp tục trong vài ngày tùy theo mức độ tổn
thương bỏng [40] [82].
Các bạch cầu đa nhân trung tính là các tế bào đầu tiên làm sạch vết
bỏng, bao vây và tiêu diệt vi khuẩn bằng các men phân huỷ và bằng thực bào.
Sau quá trình diệt khuẩn này, chúng tự phân huỷ cùng với dịch tiết tại vết
bỏng tạo thành mủ. Tiếp theo là các đại thực bào đến vùng tổn thương để loại
bỏ dị vật, vi khuẩn, mô hoại tử đồng thời tiết ra một số Cytokin để điều hoà
hoạt động của các tế bào trong quá trình liền vết thương. Các Lympho bào
cũng được huy động đến vùng tổn thương nhưng muộn hơn, chúng có vai trò
tạo kháng thể, tiết các Lymphokin, phối hợp hoạt động thực bào của bạch cầu
hạt và đại thực bào. Các tế bào viêm có nhiệm vụ loại bỏ mô hoại tử, tiêu diệt
vi khuẩn, khởi động và điều hoà sự liền vết thương [12] [39] [62] [80] [83].
Tuỳ theo diện tích và độ sâu của tổn thương mà thời kỳ viêm có thể kéo
dài từ 3-7 ngày hoặc chồng lấn giai đoạn 2.
* Thời kỳ tăng sinh.
Thời kỳ này bắt đầu từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 12 với sự tăng sinh
nguyên bào sợi, thiết lập tổ chức liên kết mới, hình thành tổ chức hạt và mạch
máu tân tạo trong khu vực bị tổn thương.
Trong trường hợp bỏng nông, bỏng biểu bì tự liền bằng quá trình tái
sinh biểu bì, bắt nguồn từ tế bào sừng (keratinocyte) của lớp mầm; bỏng trung
bì quá trình tái tạo bắt nguồn từ các tế bào biểu mô còn sót lại ở các phần phụ
của da, kết hợp với biểu mô hoá từ bờ mép để phủ kín vết bỏng.
Với trường hợp bỏng sâu toàn bộ da, sự tái tạo sau khi hoại tử rụng, các
quá trình cơ bản là hình thành mô hạt và theo sau là biểu mô hoá từ bờ mép
vết thương hoặc phủ kín mô hạt bằng các mảnh da ghép. Mô hạt là mô liên
kết tân tạo, gồm có các tân mạch, các tế bào mới và chất nền.
11
Sự tăng sinh của mạch máu là đặc điểm nổi bật của quá trình lành vết
thương, vết bỏng ở giai đoạn sớm. Quá trình tăng sinh mạch máu bắt đầu từ
+ Mô hạt là cơ sở cho quá trình biểu mô hoá, biểu mô hoá phủ kín lớp
mô hạt sẽ kết thúc quá trình tái tạo.
- Quá trình biểu mô hoá bao gồm:
+ Sự tăng mức phân bào của tế bào sừng của lớp mầm biểu bì.
+ Sự trưởng thành của các tế bào mới sinh sản: di chuyển các tế bào biểu
mô của lớp đáy lấn dần về phía trung tâm của vết thương để phủ kín mô hạt.
+ Các phần phụ của da (gốc lông, tuyến bã, tuyến mồ hôi) có sự tăng
sinh các tế bào biểu mô mới.
* Thời kỳ sửa chữa hình thành sẹo.
Trong thời kỳ này, mô được thay thế bằng mạng lưới Collagen và sợi
Elastin. Đồng thời có sự phân bố lại mạch máu ở mô hạt. Sau đó Collagen
giảm bớt, chuyển dần mô xơ thành lớp đệm mô.
Đây là thời kỳ dài nhất của quá trình liền vết thương bỏng bắt đầu từ
khi liền sẹo và kéo dài 12-24 tháng hoặc hơn.
Sự liền vết thương bỏng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tác nhân gây
bỏng, diện tích và độ sâu của tổn thương bỏng, sức đề kháng của cơ thể, cách
xử lý bỏng kỳ đầu cũng như sự điều trị về sau của thầy thuốc.
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình liền vết thương bỏng:
- Do hoạt chất kháng viêm: flavonoid, các protease
- Do tăng cường tuần hoàn tại chỗ.
- Do tác dụng gián tiếp: thuốc có tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn.
13
- Vitamin A: cần cho sự tổng hợp Glucoprotein, Proteoglycan, kích
thích tăng sinh tế bào biểu bì, thiếu Vitamin A làm sự tổng hợp Collagen
chậm lại và giảm tính bền Collagen.
- Vitamin nhóm B: cần cho chuyển hoá dinh dưỡng, tổng hợp Collagen
và sinh kháng thể [44].
- Vitamin C: cần cho quá trình Hydoxyl hoá trong việc tổng hợp
Collagen, thiếu Vitamin C làm giảm sức bền thành mạch [39] [84].
- Do chứa các yếu tố kích thích liền vết thương, do các yếu tố vi lượng
(Sulfamilon), Sulfadiazin-Bạc, Nitrat Bạc, các muối kim loại nặng (hợp
chất thuỷ ngân…) có hiệu quả tốt nhưng giá thành còn cao và đặc biệt có
một số tác dụng không mong muốn [40] [79] [81] [83].
* Nhóm thuốc ảnh hưởng tốt tới quá trình tái tạo vết bỏng.
Thường dùng các thuốc mỡ nh thuốc mỡ rau Má, dầu gan cá Thu, thuốc
mỡ có Oxyd Kẽm, kem Nghệ, mì Cao vàng [40] [53], mật Ong [84], sữa Ong
chóa [19]… Một số thuốc có tác dụng sinh học làm tăng khả năng liền sẹo
như Biafin, Herbemin [40], Cream Chitosan 2% [27]…Một số tác giả nước
ngoài còn sử dụng các chế phẩm có Corticoid (phối hợp với kháng sinh) dùng
tại chỗ vết bỏng có tác dụng chống viêm, thúc đẩy quá trình lành sẹo. Thuốc
điều trị tại chỗ có Corticoid được chỉ định khi vết bỏng có mô hạt xơ hoá,
tăng sinh phì đại, dịch xuất tiết nhiều…
* Nhóm thuốc tạo màng che phủ vết bỏng mới.
Có nhiều loại thuốc được dùng, phổ biến là dung dịch Tanin 5% [40]
[31] [79]. Phương pháp dùng Tanin để tạo màng được Clegbern D (1858) đề
xuất [44] [31]. Có thể dùng các chất tạo màng bằng Polyvinyl, chất tạo keo
đơn phân…Một số thuốc tạo màng có nguồn gốc từ thuốc nam nh cao đặc lá
Sim, cao Kháo nhậm, củ Nâu, cao Xoan trà [2] [7] [31] [79]. Cao Xoan trà
(B76) được dùng từ năm 1967-1968, thuốc tạo màng khô, làm giảm thời gian
điều trị, chất lượng sẹo tốt. Không dùng thuốc tạo màng khi vết thương bỏng
15
sâu (có hoại tử) và vết bỏng đã nhiễm khuẩn. Lựa chọn các thuốc điều trị cần
căn cứ vào đặc tính của thuốc và đặc điểm của vết bỏng.
1.8. Quan niệm của YHCT về tổn thương báng.
Theo Y học cổ truyền (YHCT), bỏng thuộc phạm vi chứng "Hoả
thương" hay "Thiêu thương". Trong quá trình chẩn đoán và điều trị (biện
chứng luận trị) hoả thương cũng dựa trên tứ chẩn (vọng, văn, vấn, thiết), bát
cương (biểu, lý, hư, thực, hàn, nhiệt, âm, dương) và bát pháp (hãn, thổ, hạ,
hoà, thanh, tiêu, ôn, bổ) kết hợp điều trị tại chỗ và toàn thân, xem xét sự ảnh
hưởng qua lại giữa tại chỗ và toàn thân để điều trị và tiên lượng bệnh.
bỏng và pháp điều trị của YHCT có nhiều điểm tương đồng với các đặc điểm
cơ chế bệnh sinh của tổn thương bỏng theo quan điểm của Y học hiện đại.
Thừa kế và phát huy kinh nghiệm của các bậc tiền bối để lại, Y học cổ
truyền ngày nay rất chú trọng đến công tác chẩn đoán và điều trị bỏng, chia
báng ra thành từng giai đoạn để đưa ra pháp biện chứng luận trị phù hợp với
từng giai đoạn bệnh [20] [29]:
* Giai đoạn 1:
Âm hư dương thoát (tương ứng với thời kỳ Shock báng): tại chỗ xuất
huyết tương tạo thành các nốt phỏng. Toàn trạng phiền táo, bí đái hoặc đái Ýt,
tinh thần uỷ mị, thở ngắn, sắc mặt trắng bệch, chân tay lạnh, rêu lưỡi khô,
mạch vi, tế sác. Pháp điều trị ở giai đoạn này là: Dưỡng âm sinh tân, hồi
dương cứu thoát, kết hợp thuốc điều trị tại chỗ.
* Giai đoạn 2:
17
Giai đoạn hoả độc hay giai đoạn nhiễm trùng, tuỳ theo mức độ nặng
nhẹ có thể chia ra thành các thể sau:
- Tà nhiệt thương âm: sốt, mặt đỏ, khát, ăn không ngon, lưỡi khô, chất
lưỡi đỏ, rêu vàng, tiểu Ýt.
- Hoả cực thịnh: vết bỏng nhiễm trùng nặng, nước vàng ra nhiều, toàn
thân rét run, sốt cao, mệt mỏi, tâm phiền, bụng chướng, tiểu Ýt hoặc vô niệu,
có thể mê sảng, co giật, lưỡi đỏ, rêu vàng dày bẩn (thể này tương ứng với
nhiễm khuẩn huyết của YHHĐ).
Pháp điều trị ở giai đoạn này là: Thanh nhiệt, lương huyết, giải độc,
dưỡng âm sinh tân.
* Giai đoạn 3:
Giai đoạn khí huyết lưỡng hư hay giai đoạn hồi phục. Biểu hiện toàn
thân gầy yếu, mệt mỏi, da xanh, chất lưỡi nhạt, mạch tế nhược hoặc nhu hoãn.
Pháp điều trị là: bổ khí huyết, khứ mủ, bài nùng, sinh cơ.
Trường hợp bệnh nặng, da thịt bị cháy nát nhiều (bỏng sâu, diện rộng),
khí huyết đại suy. Khí trệ, huyết ứ không lưu thông, thấp độc ứ trệ hoá nhiệt,
… [1] [20] [23] [27].
Đỗ Thị Hoàng Dung (1978), nghiên cứu rau Má, Mã đề, cây Nghệ chữa
bỏng có tác dụng, thuốc làm sạch hoại tử, tái tạo biểu mô [7].
Nghiêm Đình Phàn (1992), dùng cao cá Lào điều trị vết thương phần
mềm [21].
Hướng Xuân Khánh (1997), dùng cao cá Lào để điều trị vết loét và
bỏng chậm liền có kết quả tốt [17].
Nguyễn Thế Duy (1996), nghiên cứu tác dụng của củ Ráy trong điều trị
tại chỗ vết bỏng thấy có kết quả tốt [22].
19
Nguyễn Hải An (2001), nghiên cứu Gel Plumbagin 0,02% (chiết từ cây
Bạch hoa xà) trong điều trị bỏng nông có kết quả tốt làm sạch vết thương, ức
chế vi khuẩn và nhanh liền vết thương [1].
Theo Lê Thế Trung và cộng sự, sử dụng cao lá Sến và dầu hạt SÕn để
điều trị vết thương bỏng thấy có tác dụng tạo màng, kháng khuẩn. Thuốc mỡ từ
cao lá Sến và dầu hạt SÕn (Maduxin oil) điều trị vết bỏng nhiễm khuẩn thấy có
tác dụng tốt, vết thương bỏng sạch mủ, kể cả nhiễm khuẩn mủ xanh [33] [38].
Nguyễn Thị Tỵ năm (1989), nghiên cứu tinh dầu Tràm chữa các vết
bỏng trong thực nghiệm và thăm dò tác dụng của thuốc trong lâm sàng nhận
thấy thuốc có tác dụng kháng khuẩn, các biểu hiện viêm mủ tại chỗ giảm, mô
hạt mọc tốt, quá trình biểu mô hoá và hình thành sẹo tiến triển thuận lợi. Theo
tác giả, tác dụng của tinh dầu Tràm trên tổn thương bỏng thực nghiệm được
giải thích bằng cơ chế kháng khuẩn, chống viêm, tạo điều kiện thuận lợi để
mô hạt phát triển mạnh và quá trình tái tạo, phục hồi mô liên kết nhanh [46].
Nhâm Văn Sinh (1999), khi nghiên cứu tác dụng của thuốc mỡ SH-91
(được bào chế từ cây Bòn bọt và cây Hoa giẻ) tại chỗ vết thương bỏng và
vùng lấy da đã cho kết luận thuốc có tác dụng giảm phù viêm, tạo màng
thuốc che phủ vết bỏng, có tác dụng kháng S.aureus và P.aeruginosa có
tại vết bỏng [23].
Trần Đăng Đức, nhiên cứu tác dụng điều trị tại chỗ vết thương bỏng
21
1.8.2. Cây Lô hội.
Hình 1.1. Cây Lô hội.
Cây Lô hội còn gọi là cây Lưỡi hổ, Hổ thiệt, Tượng đảm, Nha đam, Du
thông, Long tu (Bình Thuận, Ninh Thuận). Tên khoa học là Aloe vera L.
var. chinensis (Haw), Aloe ferox Mill. Tên đồng nghĩa: Aloe perfoliata
Lour (Aloe sp), thuộc họ Hành tái (Liliaceae) [18].
Vị thuốc Lô hội (Aloe) là dịch cô đặc của lá nhiều loại cây Lô hội. Lô
hội được dùng cả trong Đông y và Tây y [18].
Cây Lô hội là loại cây chịu khô hạn rất tốt; có thể trồng trong chậu làm
kiểng hay trồng xen kẽ trên những phần đất ở quanh nhà. Người dân đã biết
dùng Lô hội nấu chè ăn để trị táo bón; từ xa xưa, lá Lô hội đã nổi tiếng là một
loại thảo dược thần bí trong nghệ thuật làm đẹp. Với những người bị mụn, sẹo
hay cháy nắng, có thể cắt lá Lô hội và bôi chất nhờn tiết ra từ lá lên mặt để
giữ gìn làn da mềm mịn của "phái đẹp" hoặc dùng nha đam để trị vết thương
khi da bị bỏng [92]
22
Chất từ cây Lô hội hiện nay đang được sử dụng hầu như khắp nơi trên
thế giới: dùng như nước trái cây, thực phẩm chức năng, chế thuốc viên, thoa
lên da và da đầu như một mỹ phẩm hay thuốc mỡ để trị bệnh.
Một trong những tính năng kỳ diệu của loài dược thảo này là gia tăng
35% tốc độ chữa lành vết thương. Đó là nhờ vào hoạt chất có tính thẩm thấu
cao độ của cây Lô hội làm giãn nở mao mạch, làm tăng lượng máu cung cấp
cho vùng xung quanh vết thương, do đó làm tăng tốc sinh sản tế bào [93] [94]
[95] [96] [97].
Lô hội là loại cây lành tính, có rất nhiều Vitamin và dưỡng chất cần
thiết cho da, giúp da mềm mại, mịn màng. Nó còn có tính kháng khuẩn rất
mạnh, tiêu diệt những vi khuẩn bất lợi, thích hợp với da khô và nhờn, thậm
chí cả da nhạy cảm.
* Mô tả cây.
- Tinh dầu màu vàng, độ sôi 266
0
C - 271
0
C, cho Lô hội mùi đặc biệt.
Ýt quan trọng về mặt tác dụng dược lý.
- Nhựa 12 - 13%, hoạt chất chủ yếu là chất Aloin. Aloin không phải là
một chất thuần nhất mà là gồm những Antraglucozit có tinh thể, vị đắng có
tác dụng tẩy. Tỷ lệ Aloin thay đổi tuỳ theo nguồn gốc Lô hội [2].
24
- Lá Lô hội có chứa khoảng 13,6% các chất thuộc nhóm
Hydroxymethylanthraquinon như Aloin A, Aloin B, Isobarbaloin. Trong nhựa
Lô hội, nhóm này chiếm 30 - 40%.
+ Nhóm Anthraquinon.
+ Nhóm Glycosyl chromon.
+ Nhóm Polysacarid.
Ngoài ra, lá Lô hội còn có chứa Axit Amin, Enzym, Phytosterol và
muối khoáng.
* Tác dông dược lý.
Thuốc Gel Lô hội là Gel nhầy, thu được từ tế bào nhu mô lá tươi Lô
hội. Thuốc Gel Lô hội có tác dụng dược lý làm lành vết thương và tác dụng
chống viêm [2].
- Theo Y học cổ truyền, Lô hội có các tác dụng [90] [91]:
+ Minh mục, trấn tâm, sát trùng, giải độc Ba đậu (Khai Bảo Bản Thảo).
+ Chuyên sát trùng, thanh nhiệt (Bản Thảo Cương Mục).
+ Thanh nhiệt, nhuận hạ, mát gan, kiện tỳ (Trung Dược Học).
+ Nhuận hạ, sát trùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
1.9. Tác dụng kháng khuẩn Invitro và Invivo của Cream Lô hội.
- Tuyển chọn chủng:
25