ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------*---------------
HỒ THỊ HIỀN
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THÓC
VÀ GẠO LẬT TRONG CHĂN NUÔI LỢN NÁI
VÀ LỢN CON
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Chăn nuôi
Thái Nguyên - 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------*---------------
HỒ THỊ HIỀN
NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THÓC
VÀ GẠO LẬT TRONG CHĂN NUÔI LỢN NÁI
VÀ LỢN CON
Chuyên ngành : Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
nhà trường, các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và gia đình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới hai Thầy hướng dẫn: PGS.TS. Trần Văn
Phùng và TS. Trần Quốc Việt đã dày công giúp đỡ tôi về mặt trí tuệ, thời gian và
công sức chỉ bảo tận tình tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cám ơn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên – Phòng Đào tạo
sau Đại học - Khoa Chăn nuôi thú y và quý thầy cô đã giảng dạy tôi trong quá trình
học tập.
Tôi xin cám ơn Ban giám đốc Viện Chăn nuôi, Phòng Đào tạo và thông tin,
các Cô, Chú, Anh, Chị Bộ môn Dinh dưỡng và thức ăn Chăn nuôi đã giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện đề tài.
Và cuối cùng tôi dành tình cảm và lời cám ơn tới gia đình, chồng và con tôi
đã động viên, khích lệ và chia sẻ những khó khăn và tạo điều kiện thời gian cho tôi
trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Hồ Thị Hiền
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC ...................................................................................................................i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................... iii
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................iv
DANH MỤC BIỂU.................................................................................................... v
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề ..............................................................................................................1
2. Mục đích, ý nghĩa khoa học của đề tài ................................................................2
2.5.1. Thí nghiệm 1 ...............................................................................................33
2.5.2. Thí nghiệm 2: ..............................................................................................33
2.6. Phương pháp xử lý số liệu: .............................................................................34
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................................. 35
3.1. Kết quả nghiên cứu thí nghiệm 1 ....................................................................35
3.1.1. Kết quả theo dõi các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái sinh sản: ...........35
3.1.2. Kết quả theo dõi các chỉ tiêu về số lượng lợn con đẻ ra của lợn nái sinh sản
...............................................................................................................................37
3.1.3. Kết quả theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng của lợn con giai đoạn bú sữa 39
3.1.3.1 Sinh trưởng tích lũy của lợn con theo mẹ .............................................39
3.1.3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con theo mẹ .........................................41
3.1.4. Kết quả theo dõi về hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi lợn nái
sinh sản ..................................................................................................................43
3.1.5. Kết quả theo dõi về tình hình mắc bệnh tiêu chảy của lợn con ..................45
3.2 Kết quả thí nghiệm 2 .........................................................................................47
3.2.1. Kết quả theo dõi về tỷ lệ nuôi sống của lợn thí nghiệm..............................47
3.2.2. Kết quả theo dõi về sinh trưởng của lợn thí nghiệm ...................................47
3.2.3 Kết quả theo dõi về tình hình nhiễm bệnh đường tiêu hóa của lợn con thí
nghiệm ...................................................................................................................51
3.2.4. Kết quả theo dõi về hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con thí nghiệm ......53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ..................................................................................... 57
1. Kết luận ................................................................................................................57
2. Đề nghị..................................................................................................................57
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 58
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
6
KL
: Khối lượng
7
ME
: Năng lượng trao đổi
8
PTNT
: Phát triển nông thôn
9
TĂCN
: Thức ăn chăn nuôi
10
TCVN
: Tiêu chuẩn Việt nam
16
YxL
: Yorkshire x Landrace
: Carbohydrate
: Năng lượng tiêu hóa
: Đồng
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 ..........................................................................28
Bảng 2.2. Khẩu phần ăn cho lợn nái chửa sử dụng thóc ...........................................29
Bảng 2.3. Thành phần dinh dưỡng 1kg thức ăn cho lợn nái chửa ............................29
Bảng 2.4. Khẩu phần cho lợn nái nuôi con thí nghiệm .............................................30
Bảng 2.5. Thành phần dinh dưỡng 1kg thức ăn cho lợn nái nuôi con ......................30
Bảng 2.6. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 ..........................................................................31
Bảng 2.7. Khẩu phần ăn cho lợn con sau cai sữa ......................................................32
Bảng 2.8. Thành phần dinh dưỡng 1kg thức ăn cho lợn con cai sữa ........................32
Bảng 3.1. Chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái.........................................................35
Bảng 3.2. Số lượng lợn con đẻ/lứa của lợn nái .........................................................37
Bảng 3.3. Khối lượng của lợn con thí nghiệm qua các kỳ cân .................................39
Bảng 3.4. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con (g/con/ngày) .......................................41
Bảng 3.5. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con lúc cai sữa ....................................................44
Bảng 3.6. Tình hình mắc bệnh tiêu chảy của lợn con ...............................................46
Bảng 3.7. Kết quả theo dõi về chỉ tiêu nuôi sống của lợn con thí nghiệm ...............47
Bảng 3.8. Kết quả theo dõi về khối lượng của lợn con .............................................48
đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho con vật để đạt năng suất cao nhất mà còn
làm giảm giá thành thức ăn tới mức thấp nhất.
Ngành chăn nuôi đang vươn lên trở thành ngành sản xuất chính với tỷ trọng
đóng góp trong nông nghiệp ngày càng tăng (năm 2001: 21,9%; năm 2005: 24,2%;
năm 2010: 32,4%; dự kiến năm 2015 là 38,4%). Ngành chăn nuôi ngày càng phát
triển, nhu cầu nguồn nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi (TĂCN) cũng ngày
càng tăng. Theo dự báo, nhu cầu nguồn thức ăn giàu năng lượng của nước ta năm
2015 sẽ là 16,4 triệu tấn; năm 2020 là 20,6 triệu tấn, trong khi đó sản lượng ngô và
sắn sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu. Chính vì vậy, hàng
năm nước ta vẫn phải chi xấp xỉ số tiền xuất khẩu gạo thu được để nhập nguyên liệu
thức ăn chăn nuôi (Cục Chăn nuôi, 2012) [2]. Nghịch lý này đã đặt ra nhiều câu hỏi:
Liệu có sử dụng thóc làm thức ăn chăn nuôi để giảm áp lực nhập khẩu ? hoặc thay
vì xuất khẩu gạo ra nước ngoài, hãy dùng thóc và các phụ phẩm của thóc để làm
TĂCN thì lợi ích sẽ như thế nào về kinh tế và xã hội ?
Để đáp ứng được chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 nhu cầu sử
dụng TĂCN của cả nước ước tính là 27,4 triệu tấn, như vậy với năng lực của ngành
nông nghiệp hiện nay chúng ta sẽ phải nhập nhiều hơn nữa trong khi sản lượng ngô,
lúa mì trên thế giới đang trên đà sụt giảm mạnh, giá liên tục tăng. Vì vậy, Việt Nam
phải tìm cách thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu của các nước như
hiện nay. Để giải quyết bài toán này nhiều chuyên gia cho rằng nên tính đến sự cân
bằng giữa nhập khẩu ngô, lúa mì và xuất khẩu gạo. Bởi nếu ngừng xuất khẩu một số
2
lượng gạo chất lượng thấp nhưng có năng suất cao như hiện nay thì chúng ta vừa có
thể giúp ngành chăn nuôi giải quyết khó khăn trong việc chủ động nguồn nguyên
liệu vừa tìm được chỗ đứng cho số lượng gạo chất lượng trung bình xuất khẩu với
giá thấp. Như vậy, chúng ta cần phải từng bước giành thế chủ động cho nguồn
nguyên liệu TĂCN trước hết là thay thế hạt mì, ngô bằng lúa gạo sản xuất trong
lực, chiếm 92% tổng sản lượng thóc toàn cầu. Tám nước có sản lượng thóc lớn nhất
trên thế giới là (triệu tấn): Trung Quốc (140,7); Ấn Độ (106,5); Indonesia (44,9);
Việt Nam (29,3,); Thái Lan (25,2); Brazil (7,9); Hoa Kỳ (6,8) và Pakistan (6,1),
FAO (2012) [15]. Về diện tích trồng lúa và sản lượng thóc sản xuất hàng năm, Việt
Nam xếp thứ năm sau Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Bangladesh, nhưng là một
nước có truyền thống và kỹ thuật canh tác lúa nước tiên tiến, năng suất lúa ở nước
ta chỉ sau Nhật Bản, Trung Quốc và Indonesia. Theo USDA (2013) [35], tổng diện
tích lúa 3 vụ năm 2012 ở nước ta khoảng 7,7 triệu ha, sản lượng đạt 43,3 triệu tấn.
Lúa nước được canh tác ở hầu hết các vùng trong cả nước, nhưng diện tích và sản
lượng lớn nhất tập trung ở vùng đồng bằng sông Cửu Long với 4,2 triệu ha (chiếm
54,5%) và 24,5 triệu tấn thóc (chiếm 56,6% sản lượng cả nước). Mặc dù diện tích
gieo trồng tăng không đáng kể, nhưng từ những năm 1990 đến nay, do ứng dụng
những tiến bộ mới về giống và kỹ thuật canh tác, năng suất liên tục tăng (từ dưới 4
tấn/ha trong những năm 1990 đến xấp xỉ 6 tấn/ha trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21),
nhờ đó mà sản lượng thóc cũng liên tục tăng (bình quân 3,7%/năm) và đưa nước ta
từ một nước khủng hoảng thiếu về lương thực (những năm 1980 của thế kỷ trước)
đến địa vị một nước có sản lượng gạo xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới. Trung
Quốc, Ấn Độ và Indonesia tuy là những nước có diện trồng lúa và sản lượng thóc
lớn nhất thế giới, nhưng sản lượng thóc tính bình quân đầu người cũng chỉ đạt 120
kg đến 160 kg, bằng 30% đến 40% so với Việt Nam.
Bức tranh về tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam được phối cảnh với bức
tranh chung của khu vực châu Á và thế giới đã tạo một ấn tượng mạnh về một nền
4
nông nghiệp lúa nước tiên tiến. Năng suất tăng, sản lượng tăng, nhưng sức tiêu thụ
thóc gạo của người dân Việt Nam trong những năm gần đây không những không
tăng mà có xu hướng giảm, mặc dù dân số nước ta vẫn không ngừng tăng. Theo
thống kê, mức tiêu thụ thóc ở nước ta năm 2000 là 142 kg/đầu người; năm 2005 là
năm qua: Trong những năm qua, giống lúa lai cao sản IR50404 được nhiều nông
dân ưa chuộng bởi năng suất chất lượng cao, năng suất đạt từ 6 - 8 tấn/ha, diện tích
sử dụng gieo trồng giống lúa này chiếm khoảng 30 - 40% diện tích trồng lúa, thậm
chí có vùng lên đến 70% như huyện Châu Thành - Tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên,
mấy năm trở lại đây nó lại gặp vấn đề khó khăn trong xuất khẩu.
Hiện nay, nông dân tỉnh Kiên Giang đang với niềm vui được mùa, năng suất
bình quân 6,3 tấn/ha với giống lúa IR50404 thì một bộ phận không nhỏ lại đang
loay hoay tìm đầu ra tiêu thụ sản phẩm, bởi dù giá bán khá thấp so với những loại
lúa thương phẩm hàng hóa khác nhưng thương lái vẫn không thu mua. Tại các vùng
trọng điểm lúa như U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, Giồng Riềng, Tân Hiệp, Gò
Quao, Châu Thành…, trên các phương tiện thu mua lúa, thương lái gắn bảng “lúa
504… không mua” nên nông dân không bán được, dù giá lúa chỉ ở mức 4.000 - 4.200
đồng/kg trong khi giá thị trường các giống lúa khác rơi vào khoảng 6.000 - 6.400
đồng/kg. Bên cạnh đó, sản lượng lúa này đang tồn trữ khá lớn, nông dân rất cần bán để
thanh toán chi phí đầu tư sản xuất, trả nợ ngân hàng và trang trải sinh hoạt.
Nguyên nhân do những vụ mùa trước, loại lúa này bán có giá nhờ thị trường
xuất khẩu gạo cấp thấp thuận lợi, giống lúa IR 50404 luôn đạt năng suất từ 6 - 8
tấn/ha, nên nhiều nông dân vẫn chuộng loại giống này để gieo trồng.
Theo nhiều thương lái, sở dĩ không mua lúa IR50404 do đây là sản phẩm
nông sản chất lượng thấp, chưa ký được hợp đồng mới xuất khẩu loại gạo này với
đối tác; thị trường xuất khẩu gạo những tháng đầu năm nay gặp rất nhiều khó khăn
và cạnh tranh khá gay gắt, bởi các thị trường gạo cấp thấp đang nổi lên; giá lúa
xuống thấp, diễn biến khó lường, nếu mua vào rủi ro rất lớn, thua lỗ khó tránh khỏi.
Để tránh tình trạng “được mùa mất giá” trong những vụ mùa tới, ngành nông
nghiệp nên triển khai thực hiện liên kết “4 nhà” theo hướng doanh nghiệp và nông
dân liên kết sản xuất theo các mô hình cánh đồng mẫu lớn.
Chính vì vậy, đây là nguồn nguyên liệu lớn mà giá thành có thể cạnh tranh
để sử dụng làm thức ăn chăn nuôi một cách dễ dàng và hiệu quả.
nhóm nguyên liệu thức ăn giàu năng lượng với thành phần chủ yếu là các hydrate
carbon. Tuy nhiên, thành phần và đặc điểm cấu trúc các hydrate carbon của thóc và
7
các sản phẩm từ thóc rất khác nhau. Ở hạt gạo lật và gạo xát máy, nguồn hydrate
carbon chủ yếu là tinh bột (64,0% - 77,6%), một lượng nhỏ đường tự do (0,22% 0,45%). Phụ thuộc vào từng giống lúa mà tỷ lệ amylose và amylopectin trong tinh
bột gạo rất khác nhau, nhưng nhìn chung tỷ lệ amylase dao động từ 15% đến 30%
và amylopectin từ 70% đến 80%. Ở gạo lật và gạo xát máy, tỷ lệ xơ thô rất thấp (từ
0,2% đến 1,0%) trong đó chủ yếu là pentosans. Hàm lượng xơ thô của cám gạo rất
biến động (từ 10,0% đến 15,0%), thành phần cấu trúc xơ của cám gạo và vỏ trấu
chủ yếu là xellulose, hemicellulose, pentosans và lignin. Đây là điểm hạn chế khi sử
dụng thóc làm thức ăn chăn nuôi cho gia súc dạ dày đơn với tỷ lệ cao và nhất là đối
với lợn.
Khẩu phần thức ăn xơ nhìn chung có hàm lượng năng lượng rất thấp. Bởi
vậy, việc tăng các nguyên liệu thức ăn xơ trong khẩu phần sẽ dẫn đến làm giảm hàm
lượng năng lượng nếu không bổ sung thức ăn giàu năng lượng vào khẩu phần. Nếu
khẩu phần ăn có hàm lượng xơ cao thì thể tích dịch tiêu hoá sẽ tăng lên trong đường
tiêu hoá và giảm thời gian thoát qua của dịch tiêu hoá, chính vì vậy dẫn tới tỷ lệ tiêu
hoá của các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần giảm. Theo Li và cộng sự
(1994) [43] đã chỉ ra rằng khẩu phần thức ăn xơ đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tiêu hoá
của các chất dinh dưỡng, đặc biệt là năng lượng và protein. Tuy nhiên chúng ta
cũng không thể phủ nhận những mặt có lợi của khẩu phần thức ăn xơ, bởi một thực
tế rằng khẩu phần thức ăn xơ làm tăng thức ăn ăn vào và kích thích sự nhu động
trong đường tiêu hoá. Hơn nữa, nguồn năng lượng cung cấp cho cơ thể từ các a xít
béo bay hơi mà được sản sinh trong quá trình lên men vi sinh vật của thức ăn xơ
trong ruột già và ruột tịt là rất đáng kể.
Mặc dù năng suất sinh trưởng bị ảnh hưởng bất lợi bởi khẩu phần thức ăn xơ
ở bất cứ mức xơ nào, nhưng tốc độ tăng trưởng phần nào được cải thiện nhờ sự tăng
là 8,69%. Nhưng ở ngô hàm lượng chất béo, xơ thô, NDF và khoáng tổng số cao
hơn gạo lật. Ở ngô các chỉ số này lần lượt là: 5,95; 3,19; 11,02; 3,03, tương ứng với
gạo lật là: 2,56; 1,49; 4,32; 1,55. So với hai loại thức ăn trên thóc (giống lúa
IR50404) có hàm lượng vật chất khô tương tự, nhưng hàm lượng protein thô thấp
hơn (7,28), hàm lượng xơ thô, NDF và khoáng tổng số cao hơn rất đáng kể ( tương
ứng là: 1,97; 12,31; 17,84; 5,33). Sở dĩ cùng là nguồn nguyên liệu có nguồn gốc từ
giống lúa IR50404, nhưng thóc có hàm lượng protein thấp là vì có vỏ trấu nên
không chỉ hàm lượng protein thấp hơn mà hàm lượng chất xơ, đặc biệt là NDF cao
hơn rất nhiều so với gạo lật và ngô.
Ngô, gạo lật, thóc cung cấp rất nhiều loại axit amin trong đó có 10 loại axit
amin thiết yếu mà lợn không có khả năng tự tổng hợp được. Xét về thành phần một
số axit amin quan trọng như histidine, threonine, methionine, phenylalanine thì ở
9
ngô và gạo lật không có sự khác nhau đáng kể. Tuy nhiên, so với ngô gạo lật giàu
arginine, valine và lysine hơn. Nhưng so với ngô và gạo lật, hàm lượng một số loại
axit amin quan trọng của thóc (histidine, threonine, methionine và lysine) khá thấp.
Thành phần hóa học phản ánh tiềm năng của nguyên liệu thức ăn về lượng,
nhưng không đánh giá được giá trị nuôi dưỡng. Để khảo sát giá trị nuôi dưỡng, các
nguyên liệu thức ăn cần phải được đánh giá về khả năng tiêu hóa các chất dinh
dưỡng. Tỷ lệ tiêu hóa tổng số của một số chất dinh dưỡng cơ bản như vật chất khô,
chất hữu cơ, dẫn xuất không chứa ni tơ ở gạo lật cao hơn ngô, nhưng tỷ lệ tiêu hóa
protein ở 2 loại nguyên liệu tương đương nhau (81,5% và 81,6%). Theo Ninh Thị
Len và cs, (2011)[4] khả năng tiêu hóa thóc ở lợn thấp hơn tiêu hóa ngô, đặt biệt là
khả năng tiêu hóa chất hữu cơ, protein, chất béo và khoáng tổng số. Nếu tỷ lệ tiêu
hóa protein thô của ngô và gạo lật ở lợn đạt trên 80%, thì đối với thóc tỷ lệ này chỉ
đạt 57,7%. Tương tự, tỷ lệ tiêu hóa lipit ở thóc chỉ đạt 53%, trong khi đó các giá trị
này ở ngô là 85,3% và ở gạo lật là 72,0%. Một số nghiên cứu gần đây ở Trung Quốc
lượng thô của gạo lật và tấm cao hơn ngô và lúa mỳ, nhưng khi dùng thóc nguyên
hạt, tỷ lệ tiêu hóa năng lượng thô của thóc ở lợn giảm đi 25% so với gạo lật và tấm.
Do tỷ lệ tiêu hoá năng lượng thô thấp, nên giá trị năng lượng thuần (NE) trên lợn
của thóc chỉ bằng 72 -77% so với ngô và lúa mỳ (PHILSAN, 2003 [28]. Ngoài ra, ở
thóc và các sản phẩm từ thóc (gạo lật, cám, tấm) còn tồn tại một số chất kháng dinh
dưỡng như phytin, chất ức chế trypsin và ức chế các proteinase.
Một hạn chế quan trọng khác làm cho thóc không được sử dụng nhiều trong
chăn nuôi là vấn đề hiệu quả kinh tế. Về khía cạnh kinh tế, tính cạnh tranh trong sử
dụng một nguyên liệu nào đó để sản xuất thức ăn chăn nuôi phụ thuộc chủ yếu vào
giá tiền tính cho một đơn vị giá trị dinh dưỡng (năng lượng, protein…vv). Thực tế,
trong những năm qua, thóc vẫn không có được những lợi thế về giá. Theo USDA
(2012)[34] trong năm 2011, giá thóc đứng ở mức 6500 đ/kg, trong khi đó giá ngô
trong nước là 6750 đ/kg; giá ngô nhập khẩu là 6550 đ/kg; giá lúa mỳ nhập khẩu là
6400 đ/kg. Với giá thực tế trên, thì giá tiền cho 1 MJ năng lượng trao đổi của ngô và
lúa mỳ thấp hơn nhiều (chỉ bằng 72% đến 74%) so với thóc. Tương tự như vậy, giá
tiền cho 1% protein của thóc cao hơn so với ngô và lúa mỳ từ 5,9 đến 10%. Đây là
lý do cơ bản khiến cho thóc không được sử dụng nhiều để sản xuất thức ăn cho lợn
và gia cầm ở quy mô công nghiệp. Với giá thóc không cạnh tranh như phân tích ở
trên, thì thóc chỉ được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi với số lượng rất khiêm tốn,
chủ yếu ở khu vực chăn nuôi nông hộ. Để có thể được sử dụng với số lượng lớn ở
quy mô công nghiệp, giá tiền trên 1 MJ năng lượng trao đổi của thóc ít nhất phải
LỜI CÁM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự
nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ quý báu của
nhà trường, các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và gia đình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới hai Thầy hướng dẫn: PGS.TS. Trần Văn
Phùng và TS. Trần Quốc Việt đã dày công giúp đỡ tôi về mặt trí tuệ, thời gian và
công sức chỉ bảo tận tình tôi hoàn thành luận văn này.
nhân như lợn con chết khi đẻ ra, thai gỗ, thai non, chết do mẹ đè.
Số lợn con cai sữa/lứa: Đây là chỉ tiêu rất quan trọng thể hiện trình độ chăn
nuôi lợn nái sinh sản. Nó quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả
kinh tế của quá trình chăn nuôi. Số lợn con cai sữa/lứa đẻ tùy thuộc kỹ thuật chăn
nuôi lợn nái nuôi con, nuôi lợn con theo mẹ cũng như khả năng tiết sữa của lợn mẹ
và khả năng phòng bệnh của lợn con. Mặt khác, số con cai sữa/lứa phụ thuộc số con
để nuôi. Nên tiêu chuẩn hóa số con để nuôi/lứa từ 8-10 con, nếu số con nhiều hoặc
ít hơn cần có sự điều phối giữa các lợn nái.
Số con cai sữa/lứa hay tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa còn chịu ảnh hưởng của
một số yếu tố như di truyền (4,5%), nhiễm khuẩn (11,1%), mẹ đè + thiếu sữa
(50%); dinh dưỡng kém (8%) và do nguyên nhân khác (26,4%).
Khối lượng 21 ngày tuổi toàn ổ: Được sử dụng để đánh giá khả năng tiết sữa
của lợn mẹ và khả năng tăng trọng của đàn con. Vì giai đoạn này khả năng tiết sữa
của lợn mẹ đạt đỉnh cao về số lượng và chất lượng, sau đó giảm dần. Đây chính là
cơ sở của việc vận dụng để cai sữa sớm cho lợn con ở ngày thứ 21.
Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ: Sau khi mang thai, đẻ, nuôi con, lợn mẹ có sự thay
đổi về khối lượng, nếu gầy sút quá sẽ ảnh hưởng tới thời gian động dục trở lại của
lợn nái và ảnh hưởng tới năng suất lứa tiếp theo. Nếu lợn nái có chất lượng, số
lượng sữa tốt thì nhất định sẽ bị hao mòn thể trạng, tỷ lệ hao mòn trung bình là 15-
13
16%. Sự hao mòn lợn mẹ thay đổi theo các lứa: Ở lứa 1, lứa 2 là 29 kg và 33kg, lớn
nhất ở lứa đẻ thứ 5 tới 43kg, sau đó giảm dần ở các lứa thứ 6, thứ 7 (42; 31 kg). Lợn
mẹ hao mòn có ảnh hưởng tới số trứng rụng ở chu kỳ sau, nếu hao mòn 20 kg thì số
trứng rụng lần sau là 5, còn hao mòn 5kg thì số trứng rụng là 20. Nếu lợn mẹ hao
mòn dưới 15kg thì sẽ động dục trở lại trong vòng 10 ngày, còn từ 22 - 35 kg thì thời
gian động dục là 15 - 20 ngày, (Võ Trọng Hốt và cộng sự, 2000) [3].
Khoảng cách lứa đẻ: Được tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngày đẻ lứa tiếp
lại chứa mucin, muối vô cơ và men amylaza và lizozym (Mc Donald và cộng
sự,1995) [24].
Lợn mới sinh những ngày đầu hoạt tính amylaza nước bọt cao, cao nhất ở
ngày thứ 14 đối với lợn con tách mẹ sớm, còn lợn con do mẹ nuôi phải đến ngày
thứ 21. Tuỳ lượng thức ăn đưa vào mà lượng tiết khác nhau. Thức ăn ở dạng khô thì
nước bọt tiết ra mạnh, thức ăn ở dạng lỏng thì giảm hoặc ngừng tiết dịch. Lượng
nước bọt còn phụ thuộc vào số lần cho ăn, chất lượng thức ăn. Nếu ăn chỉ 1 loại
thức ăn kéo dài sẽ làm tăng nhiệm vụ cho 1 tuyến, gây ức chế, lợn ít thèm ăn.
Ngược lại, ăn nhiều loại thức ăn khác nhau cả 2 tuyến hoạt động mạnh sẽ gây thèm
ăn và tiêu hoá tốt thức ăn.
Do hoạt tính của men amylaza và mantaza có ở trong nước bọt của lợn con
mới đẻ ra dưới 3 tuần tuổi còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con
còn kém, chỉ tiêu hoá được khoảng 50% lượng tinh bột ăn vào. Đối với tinh bột
sống, lợn con tiêu hoá càng kém cho nên các loại thức ăn cần được xử lý chín trước
khi cho ăn. Sau 3 tuần tuổi, 2 men này có hoạt tính mạnh dẫn đến khả năng tiêu hoá
tinh bột của lợn con tốt hơn (Võ Trọng Hốt và cộng sự, 2000) [3].
Tiêu hoá ở dạ dày: Dạ dày lợn có chức năng dự trữ và tiêu hoá thức ăn. Lợn
con 10 ngày tuổi dung tích gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày gấp 8 lần và lúc 60
ngày tuổi gấp 60 lần (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03lít). Sau đó tăng
chậm đến tuổi trưởng thành đạt 3,5 - 4 lít (Võ Trọng Hốt và cộng sự, 2000) [3].
Dịch vị tiết ra tương ứng với sự phát triển của dung tích dạ dày, tăng mạnh
nhất ở 3 - 4 tháng tuổi sau đó kém hơn. Lợn con 20 ngày tuổi, phản xạ tiết dịch vị
chưa rõ. Ban đêm, lợn mẹ nhiều sữa kích thích sự tiết dịch vị ở lợn con cao hơn.
Khi cai sữa, lượng dịch vị tiết ra ngày đêm gần bằng nhau.
Enzym trong dịch vị đã có từ khi lợn con mới đẻ nhưng trước 20 ngày tuổi
khả năng tiêu hoá rất kém vì dịch vị thiếu HCl. Sau 25 ngày tuổi, trong dịch vị lợn
con mới có HCl ở dạng tự do và men pepsinogen tiết ra ở dạng chưa hoạt động
được. Nhờ HCl hoạt hoá thành men pepsin hoạt động thì men này mới có khả năng
tiêu hoá thức ăn. Hoạt lực của enzym pepsin tăng lên theo tuổi một cách rõ rệt. Ở 9
- Men amylaza và mantaza: Hai enzym này có trong dịch tụy từ khi lợn con
mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần hoạt tính còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột
còn kém. Sau 3 tuần tuổi enzym amylaza và mantaza mới có hoạt tính mạnh nên
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC ...................................................................................................................i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................... iii
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................iv
DANH MỤC BIỂU.................................................................................................... v
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề ..............................................................................................................1
2. Mục đích, ý nghĩa khoa học của đề tài ................................................................2
2.1. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................2
2.2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tế của đề tài ...............................................2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ..................................................................................3
1.1.1. Cơ sở khoa học về lúa, gạo ...........................................................................3
1.1.1.1. Một vài nét về tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam và trên thế giới .3
1.1.1.2. Giá trị dinh dưỡng của thóc và các sản phẩm từ thóc: ...........................6
1.1.1.3. Một số hạn chế trong việc sử dụng thóc làm thức ăn chăn nuôi ..........10
1.1.2. Đặc điểm sinh sản và sinh trưởng của lợn ..................................................11
1.1.2.1. Đặc điểm sinh sản của lợn nái..............................................................11
1.1.2.2. Đặc điểm sinh lý, sinh trưởng của lợn con ..........................................13
1.2. Các nghiên cứu trong và ngoài nước ..............................................................24
1.2.1. Những nghiên cứu sử dụng thóc và các sản phẩm từ thóc làm thức ăn cho
lợn trên thế giới .....................................................................................................24
1.2.2. Những nghiên cứu sử dụng thóc và các sản phẩm từ thóc làm thức ăn cho