sử dụng một số trắc nghiệm tâm lý hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng các rối loạn trầm cảm - Pdf 24

SỬ DỤNG MỘT SỐ TRẮC NGHIỆM TÂM LÝ HỖ TRỢ
CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG CÁC RỐI LOẠN TRẦM CẢM
BS Trần Hữu Bình
Bộ môn Tâm thần Đ.H.Y Hà Nội
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong lĩnh vực Tâm thần học, việc sử dụng các trắc nghiệm tâm lý làm
công cụ thực hành để lượng hoá triệu chứng học tâm thần đã có từ hơn một
nữa thế kỷ nay. Đầu tiên là “Thang đánh giá lâm sàng bệnh tâm thần” của
Kempt và cộng sự mô tả từ năm 1915, sau đó là bảng câu hỏi tự đánh giá
mang tên “Bảng dữ liệu cá nhân” (Personal Data Sheet) do W.Worth soạn
thảo năm 1917; “Thang đánh giá tâm thần” của Wittenbort – 1951, “Thang
đánh giá nhiều mức độ các bệnh tâm thần nội trú” của Lorr 1963; v.v (Pichot
P., 1973; Hamilton M., 1975; Hal R.C., 1980) [6], [7], [12].
Càng ngày người ta thấy mối quan tâm tới các “Thang đánh giá” càng
nhiều, với những mục tiêu khác nhau như: đo lường độ nghiêm trọng của một
rối loạn tâm lý, ước lượng tỉ lệ mắc một rối loạn tâm thần hoặc sử dụng làm
chỉ số bệnh tật, v.v. Nhiều công cụ đo lường ra đời và được sử dụng trong
thực hành tâm thần học: đo lường năng lực trí tuệ cho người lớn bằng nghiệm
pháp Raven, do J.C.Raven xây dựng 1938; đo lường năng lực trí tuệ cho trẻ
em bằng nghiệm pháp Wais, do D.Wechsler xây dựng 1939; đánh giá về nhân
cách nhiều pha bằng nghiệm pháp MMPI (Minnesota Multiphasic Personality
Inventory), do S.R.HăthWay, J.Chamley và M.C.Kinley xây dựng năm 1941;
thang đánh giá về cảm xúc trầm cảm bằng nghiệm pháp BECK (Beck
Depression Inventory – BID), do A.T.Beck và cộng sự trình bày 1972; thang
đánh giá trầm cảm của Hamilton (HDRS – Hamilton Depression Rating
Scale), do M.Hamilton giới thiệu 1960; nghiệm pháp tự đánh giá lo âu của
Zung (Zung – Self Rating Anxiety Scale – SAS), do W.K.Zung khởi xướng
năm 1980,… Cho đến nay, các công cụ đo lường này đang được sử dụng rộng
rãi ở các cơ sở lâm sàng bệnh học tâm thần.
Tại Viện Sức khoẻ Tâm thần Bạch Mai, phòng trắc nghiệm tâm lý từ
nhiều năm nay đã sử dụng các “thang điểm đánh giá trầm cảm” để lượng hóa

Con người có hoạt động tâm lý vì có hệ thần kinh phát triển cao và được
tổ chức một cách đặc biệt đó là bộ não và phần cao nhất của nó là vỏ não. Vỏ
não là nơi nhận các tác động từ môi trường bên ngoài và bên trong cơ thể để
tạo ra hình ảnh tâm lý: cảm giác, tri giác, tư duy, v.v. là nơi chuẩn bị cho các
hành động, hoạt động nhiều vẻ của con người. Nếu não và vỏ não không bình
thường, bị thương tổn thì chắc chắn ảnh hưởng đến đời sống tâm lý.
Giữa hoạt động của hệ thần kinh và các hiện tượng tâm lý có mối quan
hệ có tính quy luật. Tính chất của các quá trình thần kinh cấp cao diễn ra
trong một thời điểm nhất định trong bộ não đều nói lên tính chất của quá trình
tâm lý. Vì thế việc nghiên cứu các quá trình thần kinh và những biểu hiện của
nó cho ta thấy được cách thức nẩy sinh và diễn biến của các quá trình tâm lý,
và ngược lại nghiên cứu những biểu hiện và diễn biến của các quá trình tâm lý
cho ta thấy được những biến đổi liên quan đến các cấu trúc thần kinh.
Nội dung tâm lý của con người phản ánh hiện thực của thế giới khách
quan, phản ánh những quan hệ xã hội của con người, kể cả phản ánh mọi hiện
tượng diễn ra ở môi trường bên trong cơ thể. Sự phản ánh đó, thông qua các
hoạt động tâm lý như cảm giác, tri giác (nền tảng cho cảm xúc, tư duy cụ thể,
nhận thức ban đầu), cảm xúc, ý thức, tư duy, trí tuệ, v.v. Các hoạt động tâm lý
có tính thống nhất, tuân theo các nguyên tắc, quy luật cơ bản của hoạt động
*
C. Mác, Tuyển tập, bản tiếng Nga, tr.302.
**
V.I.Lênin, Chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Nh xuà ất bản Sự thật, H Nà ội, 1960, tr.
58.
thần kinh cấp cao. Hoạt động thần kinh cấp cao thực hiện sự liên hệ giữa toàn
bộ cơ thể với môi trường chung quanh thường xuyên biến động. Hoạt động
thần kinh cấp cao là cơ sở sinh lý của tâm lý. Do đó không thể có quan điểm
tách rời tâm lý với sinh lý, nhưng cũng không được đồng nhất hai quá trình
đó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu những biến đổi tâm lý cho phép biết được
những biến đổi sinh lý thần kinh cấp cao. Ví dụ, nghiên cứu sự biến đổi cảm

một hệ thống phân loại trên những nhóm mẫu khác nhau về phương diện xã
hội”.
“Trắc nghiệm tâm lý được coi là một thực nghiệm thử nghiệm, mạng
tính chất của một bài tập nhất định, bài tập này kích thích một hình thức nhất
định của tính tích cực và việc thực hiện nó là một triệu chứng của sự hoàn
thiện các chức năng nhất định, được đánh giá về mặt định lượng và định tính”
(X.G Ghelecstein, 1979).
Từ những định nghĩa trên, có thể thống nhất về nhận thức trắc nghiệm
tâm lý là hệ thống các biện pháp đã được chuẩn hoá về kỷ thuật, được quy
định về nội dung và quy trình thực hiện, nhằm đánh giá hành vi và kết quả
hoạt động của một người hoặc một nhóm người. Một trắc nghiệm tâm lý phải
có các đặc trưng riêng, đó là tính tương đối đơn giản của thủ tục và trang bị;
thời gian ngắn; ghi lại trực tiếp các kết quả; tiện lợi trong việc xử lý toán học;
có những tiêu chuẩn đã được xác lập; khả năng sử dụng đối với cá nhân, cũng
như toàn bộ nhóm. Cơ sở của việc sử dụng các Test tâm lý.
Pichot P., 1973; Hamilton M., 1975; Chelov B.M., 1979, Hankin J.R.,
1982 [1], [6], [8], [12] đã nhấn mạnh đến ba khái niệm làm cơ sở cho việc sử
dụng các trắc nghiệm tâm lý:
+ Khái niệm quy chuẩn, nghĩa là kết quả thực hiện trắc nghiệm của một
nhóm đông người, đại diện cho quần thể. Đó là chuẩn mực. Bất cứ một sự
đánh giá cá nhân nào cũng được đánh giá theo những đơn vị chuẩn mực.
+ Độ tin cậy của trắc nghiệm, nghĩa là sự ổn định của các kết quả thu
được bằng trắc nghiệm.
+ Tính hiệu lực của trắc nghiệm, đó là vấn đề trắc nghiệm đo được cái
mà nó phải nghiên cứu và đo lường một cách có hiệu lực đến mức nào.
Như vậy trắc nghiệm tâm lý là một công cụ đã được tiêu chuẩn hoá,
dùng để đo lường khách quan một hay nhiều khía cạnh của cá nhân trong một
quần thể cần nghiên cứu qua những mẫu trả lời bằng ngôn ngữ hay phi ngôn
ngữ hoặc những loại hành vi khác.
Một test tâm lý tốt sử dụng trong lâm sàng có hiệu lực đánh giá hay

Việc xác định các yếu tố nguy cơ có thể cho phép can thiệp sớm để ngăn ngừa
bệnh xẩy ra và phát hiện sớm bệnh kín đáo có thể làm giảm tỷ lệ bệnh và tỷ lệ
tử vong do được điều trị sớm.
Test tâm lý không những hỗ trợ cho chẩn đoán lâm sàng mà còn gợi mở
hướng điều trị và đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị.
Trong tâm thần học, các test tâm lý đã góp phần hỗ trợ cho chẩn đoán
lâm sàng do lực test lượng hoá được các triệu chứng học tâm bệnh lý, giúp
xác định hoặc loại bỏ sự có mặt của bệnh ở những người có triệu chứng. Một
số test giúp chẩn đoán sớm sau khi các triệu chứng và dấu hiệu bắt đầu xuất
hiện (test trí tuệ), các test khác giúp chẩn đoán phân biệt các rối loạn có khả
năng xẩy ra (test lo âu, test trầm cảm), một số test nữa giúp xác định giai
đoạn, mức độ nặng nhẹ của bệnh (test BECK), v.v. Test tâm lý làm cho công
việc chẩn đoán không trở nên đơn điệu, làm tăng thêm niềm tin của bệnh
nhân đối với thầy thuốc và chúng cũng là liệu pháp tâm lý có hiệu quả.
Thêm nữa, giá trị của test tâm lý còn được nhận thấy trong nghiên cứu.
Mỗi một nghiên cứu chỉ có thể cung cấp những kết luận tạm thời; nhưng nếu
người ta làm lại test nhiều lần để cho kết luận được vững vàng hơn, thì thông
tin khai thác được không những sẽ có giá trị của một tiến bộ lớn về phương
diện lý thuyết, mà thông tin này còn mang một tầm quan trọng to lớn hơn về
phương diện điều trị. Và chính đây là một trong những lý do để khẳng định
giá trị việc sử dụng test đánh giá trong lâm sàng.
Như vậy, giá trị của test tâm lý là phục vụ cho nhiều mục đích, nhưng
cần được sử dụng thích ứng một cách riêng biệt cho từng mục đích khác nhau,
ví dụ: chẩn đoán, đánh giá trạng thái lâm sàng, đánh giá hiệu quả điều trị, tiên
lượng bệnh, v.v.
II. CÁC TEST TÂM LÝ HỖ TRỢ CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG CÁC
RỐI LOẠN TRẦM CẢM SỬ DỤNG TRONG LĨNH VỰC TÂM THẦN
HỌC
Đã từ lâu người ta sử dụng các test tâm lý trong tâm thần học như một
công cụ nhằm đo lường các triệu chứng học tâm thần; cho phép đánh giá tình

mức gần đúng nhất. Thang này bao gồm nhiều triệu chứng liên quan đến quá
trình phát sinh và diễn biến của bệnh (Pichot P., 1973) [12].
Khởi đầu chỉ là “các thang đánh giá” có bản chất rất chung chung, vì
chúng được dành cho việc quan sát những mặt khác nhau về hành vi của
những bệnh nhân tâm thần nội trú hoặc ngoại trú dù là chẩn đoán thế nào.
“Thang đánh giá tâm thần” (PRS: Psychiatric Rate Scale) của Wittenbort
khởi thảo năm 1951 – 1955 được các nhà tâm thần học sử dụng và được sửa
chữa lại hoàn thiện vào năm 1964. “Thang đa kích thước để đánh giá các bệnh
tâm thần” (MSRPP: Multidinenional Scale for Rating Psychiatric Patients)
của Lorr và cộng sự xây dựng năm 1953, và được sửa chữa lại trở thành
“Thanh đánh giá đa kích thước bệnh tâm thần nội trú” (IMPS: Inpatient
Multidiménional Psychiatric Scale) vào năm 1963.
Những thang đánh giá của Wittenbort và Lorr chứa đựng những đề mục
liên quan đến những khía cạnh khác nhau của triệu chứng học trầm cảm, và
đến sự phân tích những yếu tố đã được thực hiện, cho phép phân lập ra được
những nhóm đề mục cấu tạo nên những thang triệu chứng đánh giá. Đó là
những công cụ để đo lường mức độ của triệu chứng trầm cảm. Thí dụ, đề mục
“Trầm cảm” và “Lo âu” trong “Thang đánh giá tâm thần” (PRS), đề mục
“Trầm cảm chậm chạp” và “Kích động sầu uất” trong thang MSRPP, đề mục
“Chậm chạp và lãnh đạm” trong thang IMPS… Những thang này cho phép
ghi nhận một số triệu chứng liên quan đến rối loạn trầm cảm.
Vào những năm 1960, người ta thấy xuất hiện những thang đánh giá
dùng đặc biệt cho việc nghiên cứu những trường hợp rối loạn trầm cảm
(Pichot P., 1973; Montgomery S.A., 1979; Baldwin R.C., 1995) [5], [11],
[12]: “Thang nghiên cứu tác dụng của thuốc Imipramin”, do Lehmann xây
dựng năm 1958; “Thang những hiện tượng trầm cảm” của Grin Ker xây dựng
năm 1961, nhằm thống kê những triệu chứng trầm cảm; và một số thang đánh
giá rối loạn trầm cảm khác cũng ra đời, như “Thang lượng hoá các phản ứng
trầm cảm” của Cutler và Kurland, 1961; “Thang đánh giá trạng thái trầm
cảm” của Wechsles năm 1963; v.v.

2. Cảm giác tội lỗi 10. Lo âu (triệu chứng tâm lý)
3. Tự sát 11. Lo âu (triệu chứng cơ thể)
4. Mất ngủ (lúc ban đầu) 12. Triệu chứng cơ thể (dạ dày – ruột)
5. Mất ngủ (vào giữa đêm) 13. Triệu chứng cơ thể chung
6. Mất ngủ (về sáng) 14. Triệu chứng sinh dục
7. Công việc và hoạt động 15. Nghi bệnh
8. Chậm chạp 16. Sút cân
9. Kích động 17. Mất sự thấu hiểu
Hamilton đã thực hiện một nghiên cứu vào năm 1967, trên 272 bệnh
nhân [6]. Qua nghiên cứu này, một số đề mục không đặc hiệu cho trầm cảm
nhưng vẫn được giữ lại, vì chúng xuất hiện với tần suất cao trong quá trình
của những hội chứng trầm cảm (ví dụ: các triệu chứng cơ thể, triệu chứng lo
âu).
Có 4 đề mục được thêm vào, hình thành một thang đánh giá Hamilton có
cấu trúc 21 mục, đó là:
18. Những biến động trong ngày
19. Giải thể nhân cách, tri giác sai thực tại
20. Triệu chứng hoang tưởng
21. Triệu chứng ám ảnh cưỡng bức
Các đề mục này tương đương với những triệu chứng ít gặp hơn, không
nhất thiết tương quan với cường độ chung của hội chứng trầm cảm, nhưng lại
xuất hiện trong một số thể trầm cảm.
Ở Mỹ, có 3 đề mục bổ sung của phiên bản thực nghiệm, đó là: tình cảm
bất lực, tình cảm vô hi vọng, và tình cảm giá trị. Thêm 3 đề mục này, thang
đánh giá trở nên có cấu trúc 20 đề mục. Các đề mục này chúng tỏ mối quan
tâm của các tác giả muốn tăng thêm số lượng những đề mục “đặc hiệu” của
rối loạn trầm cảm.
Như vậy, Thang đánh giá trầm cảm được Hamilton dựng lên một “tình
trạng” với đầy đủ các khía cạnh rối loạn trầm cảm có trên các bệnh nhân.
Thang được coi như “bức tránh” hiện thực sinh động, là những đề mục đại

12 0 - 2 Triệu chứng cơ thể (dạ dày – ruột)
13 0 – 2 Triệu chứng cơ thể chung
14 0 – 2 Triệu chứng sinh dục
15 0 – 4 Nghi bệnh
16 0 - 2 Sút cân
17 0 – 2 Mất sự thấu hiểu
18 0 – 2 Thay đổi trong ngày và đêm
19 0 – 4 Giải thể nhân cách, tri giác sai thực tại
20 0 – 4 Triệu chứng hoang tưởng
21 0 - 2 Triệu chứng ám ảnh cưỡng bức
Mỗi đề mục của thang đánh giá được cho điểm từ 0 đến 2 hoặc từ 0 đến
4. Điểm tổng cộng của phiên bản 17 đề mục (không tính 4 mục cuối) là từ 0
đến 52 điểm.
Những điểm cho từ 0 đến 4 tương đương lần lượt với các triệu chứng
như sau: không có triệu chứng; triệu chứng nghi ngờ hoặc không có ý nghĩa;
triệu chứng nhẹ; triệu chứng vừa và triệu chứng nặng.
Những điểm cho từ 0 đến 2 tương đương với những mức độ triệu chứng
sau: không có triệu chứng; triệu chứng nghi ngờ hoặc không đáng kể và triệu
chứng biểu hiện rõ ràng.
Cách cho điểm dựa tren những dữ liệu của cuộc tiếp xúc, cũng như các
triệu chứng được bệnh nhân trình bày chi tiết hiện tại xảy ra trong quá trình
một tuần lễ vừa qua.
Nhiều tác giả đã sử dụng điểm tổng cộng của thang đánh giá trầm cảm
của Hamilton làm tiêu chuẩn trong những thử nghiệm trị liệu thuốc chống
trầm cảm. Việc sử dụng này hàm ý là điểm tổng cộng của thang đánh giá
phản ảnh trung thành cho tổng thể những triệu chứng trầm cảm.
Những điểm mốc đối với trầm cảm như sau:
+ Điểm tổng cộng đến dưới 14: không có trầm cảm
+ Điểm tổng cộng từ 14 đến 18: trầm cảm nhẹ
+ Điểm tổng cộng từ 19 đến 25: trầm cảm vừa

mùa, thì thang đánh giá Hamilton là không thích hợp. Một số tác giả đã đề
xuất những phiên bản làm lại của công cụ này để áp dụng cho những trường
hợp đó, ví dụ trong trầm cảm theo mùa, thì đưa thêm một số mục như: ngủ gà;
tăng trọng lượng cơ thể; hoặc thèm ăn các chất Hydrat carbon vào thang đánh
giá là cần thiết [5], [13].
1.2. Thang đánh giá trầm cảm của BECK, được Beck phát triển bắt
đầu năm 1962 để đo lường mức độ sâu sắc các rối loạn trầm cảm.
Thang có nhiều phiên bản: Phiên bản gốc bao gồm 21 đề mục, một phiên
bản khác mở rộng bao gồm 15 đề mục đã được P. Pichot đề xuất. Phiên bản
rút gọn đã được Beck soạn thảo bắt đầu từ năm 1972 [12], [13].
Kiểu cấu trúc của thang đánh giá trầm cảm của Beck.
Phiên bản gốc với cấu trúc 21 đề mục bao gồm tất cả những triệu chứng
của tập hợp các thể trầm cảm. Những đề mục đó tương quan chặt chẽ với
điểm tổng cộng của thang đánh giá trầm cảm Beck, và cũng tương quan với
những đánh giá của những nhà lâm sàng về cường độ của hội chứng trầm
cảm. Như vậy, một bảng câu hỏi điều tra với số điểm tổng cộng của thang
đánh giá gốc 21 đề mục, với những đánh giá trầm cảm do những nhà tlâm
sàng thực hiện. 21 đề mục được giữ lại trong phiên bản dùng để cho điểm
những triệu chứng sau đây:
1. Buồn bã 11. Dễ bị kích thích
2. Bi quan 12.Tự rút khỏi quan hệ xã hội
3. Thất bại cá nhân 13. Không tự quyết đoán
14. Thay đổi tiêu cực về hình ảnh bản thân
4. Không thoả mãn 15. Lao động khó khăn
5. Ý nghĩ tội loãi không xứng đáng 16. Rối loạn giấc ngủ
6. Tự chán ghét 17. Hay mệt mỏi
7. Khuynh hướng tự sát 18. Ăn không ngon miệng
8. Tự khiển trách mình 19. Sút cân
9. Ý nghĩ tự sát 20. Lo lắng về sức khoẻ
10. Dễ khóc 21. Giảm thích thú tình dục

đáng.
3. Tôi cảm thấy như là tôi rất tồi hoặc vô dụng.
6/0. Tôi không cảm thấy bị trừng phạt
1. Tôi cảm thấy một cái gì xấu có thể đến với tôi
2. Tôi cảm thấy bị trừng phạt hay sẽ bị trừng phạt
2. Tôi cảm thấy đang bị trừng phạt
3. Tôi muốn bị trừng phạt.
7/0. Tôi không cảm thấy thất vọng với bản thân
1. Tôi thất vọng với bản thân
1. Tôi không thích với bản thân
2. Tôi ghê tởm với bản thân
3. Tôi căm thù với bản thân
8/0. Tôi không cảm thấy một chút nào xấu hơn bất kỳ ai
1. Tôi tự chê mình vì sự yếu đuối và lỗi lầm của bản thân
2. Tôi khiển trách mình vì những lỗi lầm của bản thân
3. Tôi khiển trách mình về mọi điều xấu xảy ra.
9/0. Tôi không có bất kỳ ý nghĩ gì làm tổn hại bản thân
1. Tôi có những ý nghĩ làm tổn hại bản thân nhưng tôi thường không
thực hiện chúng.
2. Tôi cảm thấy giá mà tôi chết thì tốt hơn
2. Tôi cảm thấy gia đình tôi ắt là tốt lên nếu tôi chết.
2. Tôi có dự định rõ ràng để tự sát.
3. Tôi tự sát nếu tôi có thể
10/0. Tôi không khóc hơn thường lệ một chút nào
1. Hiện nay tôi khóc nhiều hơn trước đây
2. Hiện nay tôi luôn khóc, tôi không thể nào dừng được
3. Tôi thường thường vẫn khóc được, nhưng hiện nay tôi không thể
khóc được chút nào dù tôi muốn khóc.
11/0. Hiện nay tôi không dễ bị kích thích hơn trước
1. Tôi bực mình hoặc phát cáu dễ dàng hơn trước

2. Làm bất cứ việc gì tôi cũng mệt
3. Làm bất cứ việc gì tôi cũng quá mệt
18/0. Sự ngon miệng của tôi không kém hơn trước
1. Sự ngon miệng của tôi không tốt như trước
2. Hiện nay sự ngon miệng của tôi kém rất nhiều
3. Tôi không còn một chút nào ngon miệng
19/0. Gần đây tôi không sút cân chút nào
1. Tôi bị sút cân trên 2kg
2. Tôi bị sút cân trên 4kg
3. Tôi bị sút cân trên 6 kg
20/0. Tôi không lo lắng về sức khoẻ hơn trước
1. Tôi lo lắng về những cơn đau đớn hoặc khó chịu ở dạ dày hoặc táo
bón và những cảm giác của cơ thể
2. Tôi quá lo lắng về tôi cảm thấy thế nào và điều gì tôi cảm thấy đến
nỗi tôi rất khó suy nghĩ gì thêm nữa.
3. Tôi hoàn toàn bị thu hút vào những cảm giác của tôi
21/0. Tôi không nhận thấy gần đây có những thay đổi trong thích thú
tình dục.
1. Tôi ít thích thú tình dục hơn trước
2. Hiện nay tôi quá ít thích thú tình dục
3. Tôi hoàn toàn mất thích thú tình dục.
Trong tập hợp những triệu chứng trên đây, Beck mô tả các triệu chứng
về sự ức chế toàn diện các mặt hoạt động tâm thần: cảm xúc, tư duy, hoạt
động, v.v. gồm các mục từ 1 đến 15. Các mục này phản ánh những nhận xét
tiêu cực về bản thân, về thé giới bên ngoài và về tương lại. Các mục từ 16 đến
21 có liên quan tới các triệu chứng cơ thể: tình trạng ức chế, chậm chạp, mệt
mỏi, khó tập trung, rối loạn giấc ngủ.
Như vậy, Beck đã dựng lên một “Tình trạng” với các triệu chứng trầm
cảm có được từ các bệnh nhân. Cũng giống như thang đánh giá Hamilton,
thang đánh giá trầm cảm của Beck xuất phát trên cơ sở thực tế lâm sàng khi

+ Điểm tổng cộng từ 14-19 điểm: trầm cảm nhẹ .
+ Điểm tổng cộng từ 20-29 điểm: trầm cảm vừa.
+ Điểm tổng cộng từ 30 điểm trở lên: trầm cảm nặng.
Như vậy, ngưỡng điểm tổng cộng của thang Beck là 14 được nhiều tác
giả chấp thuận, để xác định bệnh nhân có biểu hiện bệnh lý rối loạn trầm cảm.
Thanh đánh giá trầm cảm của Beck là một công cụ đánh giá chủ quan rối
loạn trầm cảm được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu lâm sàng tâm thần
học và dược lý, cũng như trong lĩnh vực đa khoa và cả trong dịch tễ học,
mang lại những dữ liệu sâu sắc về tình trạng trầm cảm. Có thể nói đây là một
công cụ được các bệnh nhân chấp nhận tốt và sử dụng dễ dàng, vì nó ngắn
ngọn.
1.3. Bản câu hỏi tự đánh giá MMPI.
Bên cạnh những thanh đánh giá, các tác giả còn xây dựng những bản câu
hỏi tự đánh giá: " Bản kê khai về nhân cách nhiều pha của Minnesota"
( MMPI: Minnesota Multiphasic Personality Inventory) (S.R.Hathway -
1941), bao gồm 550 câu hỏi liên quan đến nhiều lĩnh vực rất đa dạng như
đánh giá tình trạng về sức khoẻ chung; đánh giá các triệu chứng về thân kinh;
về tâm thần; trầm cảm; hưng cảm; lo âu; ám ảnh sợ; hoang tưởng; ảo giác; ;
các thói quen, quan hệ trong gia đình, xã hội, sự giáo dục, nghề nghiệp, đạo
đức, tôn giáo, kiểm tra thái độ và sự thành thật của đối tượng với test,vv.
Trong cấu trúc của bộ test có 10 thang lâm sàng, như: thang Hd
(Hypochondrie) biểu hiện trạng thái nghi bệnh, thang D (Depression) đánh
giá mức độ trầm cảm, thang Hy ( Hysterie) nghiên cứu khí chất loại rối loạn
phân ly, thang Py (Personality Deviation) nghiên cứu về trạng thái nhân cách
bệnh, thang Mf ( Maseculine feminine) nghiên cứu giới tính ( khuynh hướng
thiên về nữ tính hay nam tính), thang Pa ( Paranoia) nghiên cứu sự nghi kỵ,
tưởng bị hại, thang Pt ( Psychasthenie) nghiên cứu trạng thái lo âu suy nhược,
ám ảnh sợ, ám ảnh cưỡng bức, thang Sc ( Schizophrenie) nghiên cứu các thể
lâm sàng của tâm thần phân liệt, thang Ma ( Hypomanie) đánh giá tình trạng
hưng cảm nhẹ, thang Si ( Social introvertion) đánh giá xu hướng vào nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status