ĐẶT VẤN ĐỀ
Xẹp tiền phòng là một trong những biến chứng nặng nề sau phẫu thuật
nội nhãn nói chung và phẫu thuật glụcụm nói riêng.
Tỷ lệ biến chứng xẹp tiền phòng và tiền phũng nụng sau phẫu thuật
glụcụm tại Việt Nam dao động từ 5,88% đến 13,42% [5,8]. Kết quả nghiên
cứu của các nhà nhãn khoa thế giới cho thấy tỷ lệ dao động từ 13% đến
23,5% [30,21].
Biến chứng tiền phũng nụng và xẹp tiền phòng nếu không được chẩn
đoán sớm và điều trị tốt sẽ dẫn đến hậu quả nặng nề như: dớnh và đúng gúc
tiền phòng vĩnh viễn gây tăng nhãn áp thứ phát, loạn dưỡng giác mạc, đục
thể thủy tinh gõy giảm sút thị lực trầm trọng.
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới đó cú nhiều nghiên cứu về biến
chứng tiền phũng nụng và xẹp tiền phòng, nhưng chủ yếu là đỏnh giá về tỷ lệ,
các hình thái, những phương pháp điều trị riêng lẻ, tuy nhiên chưa có một
nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện, có hệ thống về đặc điểm lâm sàng
và hiệu quả của các phương pháp điều trị của xẹp tiền phòng, vì vậy chúng tôi
tiến hành:
“Nghiờn cứu biến chứng xẹp tiền phòng sau phẫu thuật điều trị
bệnh Glụcụm” nhằm 2 mục tiêu:
1. Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến biến
chứng xẹp tiền phòng sau phẫu thuật điều trị glụcụm tại bệnh viện
Mắt Trung ương trong thời gian 5 năm( từ 2005 - 2009).
2. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị biến
chứng xẹp tiền phòng sau phẫu thuật glụcụm.
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
. Sơ lược giải phẫu tiền phòng và các thành phần liên quan
1.1.1. Tiền phòng
Tiền phòng là một khoang giới hạn bởi phía trước là giác củng mạc,
phía sau là mặt trước mống mắt thể mi và mặt trước thể thủy tinh ở vùng đồng
+ Cựa củng mạc là một đường trắng rất bé, ít khi quan sát được.
+ Dải thể mi: màu nâu thẫm.
+ Chân mống mắt.
3
+
4
a. Vòng Schwalbe
b. Vựng bè Trabeculumm
c. Cựa củng mạc
d. Dải thể mi
e. Chân mống mắt
1.1.3 Mống mắt
Mống mắt hình đồng xu, có một lỗ thủng ở trung tâm gọi là đồng tử.
Mống mắt nằm ở ngay trước thể thủy tinh, ngăn cách giữa tiền phòng phía
trước và hậu phòng phía sau. Chân mống mắt tiếp giáp với thể mi.
Từ trước ra sau, mống mắt có 5 lớp tổ chức nhưng 4 lớp trước đều là tổ
chức liên kết có cùng hệ thống mạch máu và thần kinh dày đặc.
Đồng tử là một lỗ thủng ở trung tâm mống mắt, bình thường đồng tử ở
hai mắt đều nhau, có hình tròn đường kính 2-4 m m. Đồng tử có thể thay đổi
đường kính do tác động của nhiều yếu tố: ánh sáng, nhìn xa, nhìn gần, các
kích thích thần kinh cảm giác.
5
Mống mắt có nhiệm vụ như một màn chắn để điều chỉnh lượng ánh
sáng vào trong nhãn cầu nhờ thay đổi đường kính đồng tử do hoạt động của
các cơ vòng và cơ xòe của mống mắt [3].
1.1.4.Thể thuỷ tinh
Thể thủy tinh là một thấu kính trong suốt hai mặt lồi đường kính 9mm,
trục trước sau trung bình là 4mm. Độ cong của thể thủy tinh tăng dần theo
tuổi, bán kính độ cong mặt trước là 10mm, khi điều tiết là 6mm. Bán kính mặt
sau 6mm, khi điều tiết là 5,5mm. Mặt trước áp sát vào biểu mô mống mắt,
qua củng mạc hoặc đi theo các dây thần kinh và các mạch máu xuyên củng
mạc, lượng thủy dịch lưu thông qua con đường này không phụ thuộc vào áp
lực và chiếm khoảng 20% lượng thủy dịch thoát ra khỏi mắt bình thường.
Khi thể mi giảm tiết hoặc thủy dịch bị dò rỉ ra ngoài nhãn cầu qua vết
mổ, khối lượng thủy dịch ở tiền phòng giảm đi, dẫn đến sự thay đổi độ sâu
của tiền phòng. Độ sâu tiền phòng giảm nhiều hoặc ít phụ thuộc vào khối
lượng thủy dịch mất đi. Nếu thủy dịch đi ra phía sau và tích tụ ở khoang giữa
hắc mạc và củng mạc sẽ gây nên hiện tượng bong hắc mạc, sự tích tụ dịch này
sẽ tạo ra một sự di chuyển đẩy ra phía trước của màn ngăn mống mắt thể thủy
tinh làm xuất hiện xẹp tiền phòng hoặc tiền phũng nụng [22,37].Mặt khác nếu
thủy dịch đi ra sau mà tích tụ lại ở khoang dịch kính ngày càng nhiều làm áp
lực trong buồng dịch kính ngày càng tăng rồi đẩy thể thủy tinh ra trước gõy
bớt gúc tiền phòng làm cho thủy dịch không lưu thông được làm cho nhãn áp
ngày càng tăng và gây nên hiện tượng xẹp tiền phũng cú tăng nhãn áp tức là
glụcôm ác tính [14].
1.1.6. Các yếu tố liên quan đến độ sâu tiền phòng:
- Tuổi: Độ sâu tiền phòng biến đổi theo tuổi và tương quan ngược chiều với
tuổi. Tuổi càng cao độ sâu tiền phòng càng giảm và ngược lại. Độ sâu tiền
7
phòng lớn nhất lúc 20 tuổi và giảm dần từ lúc 40 tuổi trở đi, chính vì vậy
mà tỷ lệ glụcụm góc đúng tăng cao ở người trên 40 tuổi [6,15].
- Giới: độ sâu tiền phòng sâu hơn ở nam so với nữ cả ở người bình thường
và bệnh nhân glụcụm gúc đóng [6,15].
- Tật khúc xạ: người cận thị thường có tiền phòng sâu hơn người viễn
thị, khi điều tiết tiền phòng càng nông hơn. Theo kết quả nghiên cứu
của Garner LF (1997) khi mắt điều tiết tối đa độ sâu tiền phòng giảm
0,24mm [25].
- Chiều dày thể thủy tinh: ở mắt người bình thường và mắt người bị
glụcụm gúc đúng cú mối tương quan chặt chẽ ngược chiều giữa độ sâu tiền
phòng với bề dày thể thủy tinh, độ sâu tiền phòng càng giảm khi bề dày
mắt, khi đó sẽ nhìn thấy 2 vạch sáng, vạch sỏng nột phản chiếu từ giác mạc và
vạch sáng mờ trên diện mống mắt và thể thủy tinh, 2 vạch cách nhau một
khoảng tối. Điều chỉnh độ dài của vạch sáng cho đến khi chúng vừa chạm
nhau. Đọc độ dài trên thước đo, nhân với 1,4 được độ sâu tiền phòng.
Phương pháp Van Herick dùng để ước lượng độ sâu tiền phòng ở ngoại vi
độ mở góc tiền phòng.
Kỹ thuật đo: đặt trục sinh hiển vi thẳng trước mặt bệnh nhân, đèn khe
để nghiờng trỏi hoặc nghiêng phải 30
o
so với trục sinh hiển vi, để đèn khe hẹp
tối đa đủ để nhận thức được hai mặt cắt trước và sau của giác mạc. Đưa đèn
khe vào vùng giác mạc sỏt rỡa ở kinh tuyến 3h và 9h. Quan sát khoảng cách
giữa tia sáng cắt mặt sau của giác mạc và mặt trước mống mắt, so sánh với
khoảng cách giữa tia sáng cắt mặt trước và mặt sau của giác mạc. Căn cứ vào
tỷ lệ so sánh các kích thước đó và ghi kết quả:
9
- >= (lớn hơn hoặc bằng) độ dày giác mạc, góc tiền phòng mở rộng.
- =1/2 (bằng ẵ) độ dày giác mạc, góc trung bình hiếm xảy ra đúng gúc
- =1/4 (bằng ẳ) độ dày giác mạc, góc tiền phòng hẹp, khả năng đúng
gúc có thể xảy ra.
- <1/4 (ít hơn ẳ) độ dày giác mạc, góc tiền phòng rất hẹp và sẽ có khả
năng đúng gúc khi dãn đồng tử.
Phương pháp này hiện nay vẫn được dùng trong lâm sàng. Nó có ưu
điểm là đơn giản, dễ tiến hành để ước lượng đo độ sâu tiền phòng nhanh,
nhưng nhược điểm của nó là độ chính xác không cao
* Đo độ sâu tiền phòng bằng phương pháp chụp ảnh dựa trên nguyên lý
của Scheimplug-T(1906) [33].
Năm 1966 Matthaus và Grotzeck đã giới thiệu phương pháp chụp
ảnh bằng tia hồng ngoại đo được độ sâu tiền phòng cả khi giác mạc đã mất
tính trong suốt. Hiện nay phương pháp này ít dùng vì không tiện lợi, đắt tiền
nhiều lần sau phẫu thuật cắt bố…phương phỏp này giúp điều trị những trường
hợp glụcụm khú nhưng nó cũng tốn kém và hiện cũng đang được áp dụng
nhiều trên thế giới và những trung tâm lớn ở Việt nam.
Từ những năm đầu của thập kỷ 60 một loạt các phương pháp phẫu thuật
lỗ dò điều trị glụcụm đã ra đời như phẫu thuật cắt bè mống mắt của Holth,
phẫu thuật cắt củng mạc mống mắt kiểu Largange, phẫu thuật Elliot… Thời
kỳ đú các phẫu thuật này đã được áp dụng rộng rãi và có tác dụng hạ nhãn áp
tương đối chắc chắn. Tuy nhiên các phẫu thuật này đều không có vạt củng
mạc che phủ phía trên, lỗ dũ thụng trực tiếp ra khoang dưới kết mạc nên dễ
xảy ra biến chứng vỡ sẹo phồng, dễ nhiếm khuẩn và gõy nhón viờm giao cảm.
Tiếp tục với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, các nhà phẫu
thuật nhãn khoa đã liên tiếp nghiên cứu tìm ra các phương pháp phẫu thuật ưu
việt hơn để điều trị glụcụm. Năm 1938 Barkan lần đầu tiên đã đề ra phương
pháp cắt bè củng giác mạc. Năm 1939 Sugar tiếp tục cải tiến kỹ thuật này.
Nhưng đến gần 30 năm sau, 1968 Cairns J.E (Anh) mới hoàn chỉnh kỹ thuật và
đưa ra công bố để điều trị cho những bệnh nhân glụcụm gúc mở.
12
Kỹ thuật này bắt đầu được áp dụng ở nước ta từ năm 1972. Cho tới
nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới phương pháp cắt bè củng giác mạc
đã và đang được áp dụng rộng rãi đề điều trị nhiều hình thỏi glụcụm và tỏ ra
có hiệu quả cao.
Kỹ thuật của phẫu thuật là một mẩu củng-giỏc mạc của vựng bố được
cắt bỏ sau khi đã tiến hành tạo vạt kết mạc và vạt củng mạc. Theo tác giả,
phẫu thuật này đã giải quyết được trở lưu ở trước bè và sau bè (Trabeculum)
và ống Schlemm.John Cairns cho rằng phẫu thuật sẽ tạo điều kiện cho thủy
dịch trực tiếp đi vào hai đầu của ống Schlemm đã bị cắt bỏ để đi ra ngoài
nhãn cầu vì vậy phẫu thuật này có tác dụng hạ nhãn áp tốt, vỡ có vạt củng
mạc bảo vệ nên bọng kết mạc không dễ vỡ như các phẫu thuật lỗ dò trước
đây vì thế tránh được biến chứng vỡ sẹo phồng dễ gây nhiễm khuẩn, xẹp tiền
phòng và nhón viờm giao cảm. [21,34].
chứng xẹp tiền phòng là 14%.
Tỷ lệ biến chứng xẹp tiền phòng sau phẫu thuật điều trị glụcụm trên
thế giới cũng rất khác nhau. Nghiên cứu của John Cairns (1972) có 23,5%
biến chứng tiền phũng nụng sau phẫu thuật cắt bè. Nhóm tác giả Jampel HD,
Much DC và cộng sự tại đại học Johns Hopkins Mỹ trong nghiên cứu (2005)
cho thấy biến chứng xẹp tiền phòng và tiền phũng nụng gặp ở 62 mắt (13%)
trong tổng số 465 mắt phẫu thuật cắt bè củng giác mạc [30].
Người ta chia nguyên nhân xẹp tiền phòng thành hai nhóm: nhóm xẹp
tiền phòng không có tăng nhãn áp và nhóm xẹp tiền phũng cú tăng nhãn áp.
a. Nhóm xẹp tiền phòng không có tăng nhãn áp: nguyên nhân thường
gặp là do hở mép mổ, lỗ dò dẫn lưu quá mức, phản ứng viêm màng bồ đào
gây ức chế thể mi và do bong hắc mạc [22].
14
- Dò, hở mép mổ: thường xuất hiện trong tuần đầu tiên sau mổ [22].
Sự dò thủy dịch sau phẫu thuật có thể ở đường rạch kết mạc đầu tiên hoặc ở
vị trí kết mạc khác [41]. Nguyên nhân chủ yếu là khi kết thúc phẫu thuật kết
mạc và bao tenon không được đóng đủ kín, hoặc do chỉ buộc quá lỏng. Việc
phát hiện dò thủy dịch khá dễ dàng nhờ nhỏ Fluorescein 2% tìm hiện tượng
Seidel (Test Seidel). Hiện tượng Seidel (+) khi thấy dòng thủy dịch chảy ra ở
vùng vết thương bị hở [41].
- Lỗ dò dẫn lưu quá mức: thường do tạo lỗ dũ quỏ lớn hay do khâu
vạt củng mạc quá lỏng làm thủy dịch thoát ra ngoài nhiều nằm dưới khoang
kết mạc. Trên lâm sàng xuất hiện sẹo bọng to, bọng trở nên có ranh giới rừ,
nhụ cao hình vòm trên bề mặt nhãn cầu. Để giảm đến mức tối thiểu nguy cơ
này, nhiều phẫu thuật viên đã sử dụng chỉ nylon đóng kín vạt củng mạc [28].
Theo Nguyễn Trọng Nhân và cộng sự (1978) trong số 41 ca tiền phũng nụng cú
dũ vết mổ 1 ca, bọng kết mạc quá to 4 ca. Tuy nhiên trong nghiên cứu của nhóm
B Edmunds (2002) tỷ lệ dò vết mổ là 17,8% trong đó 72,4% dò rỉ chậm từ từ,
15,7% dò nhanh nhiều, còn lại 11,9% được mô tả như một sự dò rỉ kết mạc.
- Phản ứng viêm màng bồ đào cũng có thể xảy ra ở những ngày đầu
Glụcụm ác tính với biểu hiện xẹp tiền phòng và tăng nhãn áp là một
biến chứng trầm trọng của phẫu thuật nội nhãn nguyên nhân là do dòng thủy
dịch đi ra sau và tích tụ vào khoang dịch kính gây nên. Cơ chế do nghẽn xích
đạo thể thủy tinh và thể mi làm cho khoảng cách giữa xích đạo thể thủy tinh
và thể mi rất nhỏ hay hầu như không cú nờn thủy dịch được tiết ra từ thể mi
không thoát ra được tiền phòng mà ứ đọng lại ở phía sau tạo thành một
khoang thủy dịch nằm trong buồng dịch kính, vì vậy áp lực buồng dịch kính
ngày càng tăng rồi đẩy thể thủy tinh ra trước gõy bớt gúc tiền phòng làm cho
16
thủy dịch không lưu thông được do đó nhãn áp ngày càng cao. Mặt khác ta
còn thấy trên những mắt glụcụm ác tính dây chằng Zinn chùng tạo điều kiện
cho thể thủy tinh nhô ra trước áp vào mặt sau mống mắt gay nghẽn góc [14].
Các tác giả Trương Tuyết Trinh, Phạm Thị Kim Thanh trong nghiên cứu năm
1995 đã đưa ra một số nhận xét sau 3 trường hợp glụcụm ác tính tại khoa
Tổng hợp Viện mắt là glụcụm ác tính là bệnh hiếm gặp, hay xảy ra trên mắt
glụcụm góc đúng và điều trị cũng rất khó khăn [14].
Theo một số tác giả biến chứng này hiếm gặp nhưng là biến chứng rất
trầm trọng, tỷ lệ khoảng 0,6-2% so với tổng số mắt bệnh nhân phẫu thuật. B
Edmunds (2002) gặp 2 ca glụcụm ác tính chiếm tỷ lệ 0,2% và Klin Oc Zka
(2004) cũng gặp 2 ca glụcụm ác tính sau phẫu thuật cắt bè [31]. Các tác giả
đều có chung nhận xét là biến chứng glụcụm ác tính hay gặp trờn glụcụm gúc
đúng hơn là glụcụm góc mở và hậu quả của biến chứng là rất nặng nề.
Triệu chứng lâm sàng của xẹp tiền phòng
Các biểu hiện lâm sàng của xẹp tiền phòng là:
Chủ quan: bệnh nhân thấy đau nhức mắt mổ, có thể đau ít hoặc nhiều
tùy thuộc vào nhãn áp, nhãn áp càng tăng thì đau sẽ càng nhiều trong glụcôm ác
tính. Thị lực giảm nhiều hoặc ớt tựy từng bệnh nhân do sự thay đổi khúc xạ của
mắt gây nên do thủy dịch thoát ra ngoài, do phù đục giác mạc, và tăng nhãn áp
gây nên. Thị trường thu hẹp tương ứng với vùng bong mạch mạc nếu có thường
gặp phía mũi và thái dương.
18
- Khi cú rũ dỉ vết mổ cần phải khâu lại, có thể tái tạo tiền phòng bằng dung
dịch nước muối đẳng trương, chất nhầy, khí
- Sẹo bọng quá mức do tạo lỗ dũ quỏ to nếu băng ép không có hiệu quả cần
phải khâu lại và tái tạo tiền phòng.
- Bong hắc mạc khi điều trị nội khoa thất bại cần tháo dịch hắc mạc và tái
tạo tiền phòng.
- Khi xẹp tiền phũng cú tăng nhãn áp tức là glụcụm ác tính cần phải can
thiệp vào dịch kính trước (chọc hút dịch kính trước 1ml) khi thể thủy tinh
đục nhiều, tiền phòng vẫn không có cần phẫu thuật lấy thủy tinh thể để tái
tạo tiền phòng.
- Khi xẹp tiền phòng không có tăng nhãn áp nếu kiểm tra có sự dò ở sẹo mổ
và Seidel (+) cần phải khâu lại. Nếu sẹo mổ không dò cần phải băng ép và
cho uống nhiều nước vào buổi sáng và cho thuốc làm dãn đồng tử Atropin
1%-4%. Nếu tiền phòng không tái tạo, có bong hắc mạc, sau 1 tuần điều trị
nội khoa không có kết quả thì phải chọc tháo dịch dưới hắc mạc, bơm hơi
hoặc dịch tái tạo tiền phòng và tiếp tục điều trị cho đến khi tiền phòng ổn
định.
- Xẹp tiền phũng cú nhãn áp cao: Glụcụm ác tính do nghẽn thể mi, biến
chứng này ít gặp nhưng là biến chứng hết sức nặng nề. Điều trị đầu tiên là
dãn đồng tử với thuốc tra mắt như Atropin 1% có thể phải dùng đến
Atropin 4%, 10%. Toàn thân có thể phải tiêm tĩnh mạch Manitol kết hợp
thuốc dãn đồng tử tại mắt với mục đích thể thủy tinh chuyển dịch về phía
sau. Laser YAG được dùng đến nếu điều trị nội khoa không có kết quả.
Tia laser qua lỗ cắt mống mắt ngoại vi đốt vào thể mi với mục tiêu giải
quyết nghẽn thể mi. Nếu điều trị Laser thất bại cần can thiệp vào dịch kính
sau: chọc hút dịch kính lỏng 1ml tiếp tục dùng thuốc dãn đồng tử, trường
19
hợp can thiệp vào dịch kính không kết quả tiền phòng không có, nhãn áp
vẫn cao, thể thủy tinh đục nhanh thì phải mổ lấy thể thủy tinh.
mạc có liên quan đến thành công của phẫu thuật cắt bè [23].
* Tại Việt Nam
- Bác sĩ Tôn Thất Hoạt nhận xét biến chứng xẹp tiền phũng khỏ phổ biến
sau phẫu thuật lỗ dò [4].
- Năm 1974 Nguyễn Trọng Nhân và cộng sự đã nhận xét tỷ lệ xẹp tiền
phòng sau phẫu thuật cắt bè củng giác mạc là 5,88% [5].
- Năm 1989 khoa mắt Việt Tiệp Hải Phòng gặp 5,89% sau phẫu thuật cắt bè
củng giác mạc [7].
- Năm 1991 Trần Nguyệt Thanh, Đào Lâm Hường và Trương Tuyết Trinh
theo dõi phẫu thuật lỗ dũ trờn mắt Glụcụm tái phát do sẹo sơ nhận thấy
tiền phũng nụng là 10,5% [12].
- Năm 1992 Hoàng Ngọc Chương và cộng sự phẫu thuật trên 190 mắt tỷ lệ
biến chứng xẹp tiền phòng là 14%.
- Năm 1993 Nguyễn Thị Nhung trong luận văn chuyên khoa cấp hai “Biến
chứng xẹp tiền phòng – bong mạch mạc sau phẫu thuật glụcụm và đục thể
thủy tinh” đã nhận xét xẹp tiền phòng sau phẫu thuật lỗ dò là 13.42% [8].
- Năm 2002 Chu Thị Vân và cộng sự gặp biến chứng xẹp tiền phòng trong
phẫu thuật đặt ống dẫn lưu thủy dịch tiền phòng điều trị tăng nhãn áp tái
phát và glụcụm tõn mạch là 21,62%.Tác giả đả đưa ra hai phương thức
21
điều trị là điều trị nội khoa và điều trị ngoại khoa,thành công là 50% trong
các ca điều trị nội khoa, còn 50% điều trị nội khoa thất bại phải chuyển
sang điều trị ngoại khoa [16].
Từ đó đến nay ở Việt Nam chưa có thêm một nghiên cứu nào một cách
có hệ thống đề cập đến đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị của biến chứng
xẹp tiền phũng đõy chính là lý do để chúng tôi tiến hành nghiên cứu này.
22
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
⇒
n=85
Lấy tất cả bệnh nhân bị tiền phũng nụng và xẹp tiền phòng sau phẫu
thuật điều trị glụcụm trong vòng 5 năm (từ 2004 đến 2009).
2.3 Phương tiện nghiên cứu
23
Các phương tiện hiện có tại bệnh viện Mắt Trung ương
- Bảng đo thị lực vòng hở Landolt và hộp thử kính.
- Nhãn áp kế Maclacốp với quả cân 10 g.
- Thị trường Maggiore, Goldmann và Humphrey .
- Máy soi đáy mắt hình thẳng.
- Máy sinh hiển vi đèn khe.
- Kính soi góc tiền phòng Goldmann một mặt gương.
- Siêu âm AB đo trục nhãn cầu và độ sâu tiền phòng.
- Bệnh án mẫu, phiếu theo dõi bệnh nhân.
2.4 Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Glụcụm bệnh viện mắt Trung ương.
2.5 Thời gian nghiên cứu
Từ 10/2009 đến hết tháng 10/2010
2.6. Tiến hành nghiên cứu
Gồm 2 phần: nghiên cứu hồ sơ cũ và khám bệnh nhân đến theo hẹn
2.6.1 Nghiên cứu hồ sơ cũ
- Tập hợp toàn bộ hồ sơ bệnh án điều trị nội trú và ngoại trú của những
bệnh nhân trong diện nghiên cứu, loại bỏ những hồ sơ không đạt yêu cầu.
Những bệnh nhân có biến chứng tiền phũng nụng và xẹp tiền phòng điều trị
tại khoa Glụcụm của bệnh viện mắt Trung ương sẽ có 2 loại đối tượng: đối
tượng thứ nhất là những bệnh nhân được phẫu thuật điều trị glụcụm tại khoa
sau đó bị biến chứng tiền phũng nụng và xẹp tiền phòng, đối tượng thứ hai là
những bệnh nhân bị xẹp tiền phòng sau khi đã được phẫu thuật điều trị
glụcụm ở nơi khác sau đó được chuyển đến khoa Glụcụm để điều trị.