1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mũi là một bộ phận rất quan trọng của cơ thể con người. Mũi là cơ
quan đầu tiên của đường hô hấp mà không khí phải đi qua để vào phổi và là
nơi bắt đầu của quá trình làm ấm, làm ẩm và lọc sạch không khí, nó cũng là
cơ quan khứu giác (ngửi), phát âm và đặc biệt là chức năng thẩm mỹ, chức
năng này ngày càng được coi trọng trong cuộc sống hiện đại.
Nằm ở vị trí chính giữa và nhô ra của mặt, mũi là bộ phận rất dễ bị va
chạm khi có chấn thương. Xương chính mũi nằm ở dưới da và phần cố định
nằm ở vị trí cao nhất của tháp mũi, . Các khớp của xương chính mũi với cấu
trúc xung quanh khá lỏng lẻo[10]. Tỷ lệ gãy xương chính mũi đứúng thứ 3
trong các trường hợp gãy xương, sau gãy xương đòn và xương cổ tay [3113].
Chấn thương tháp mũi tuy ít nguy hiểm đến tính mạng người bệnh
nhưng xương mũi gãy nếu không xử lý kịp thời và đúng đắn sẽ liền nhanh
làm biến dạng tháp mũi, để lại di chứng nặng nề về mặt chức năng và thẩm
mỹ khó khắc phục. Chấn thương tháp mũi nhất là khi phối hợp với các chấn
thương khác (chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt, chấn thương mắt )
phải đặc biệt chú ý vì rất dễ bị bỏ qua [93]; [3218].
Nếu được xử trí từ đầu, phần lớn tháp mũi đều được phục hồi ngay sau
chấn thương và các biến chứng như dị dạng mất thẩm mỹ , van mũi hoạt động
không tốt và ngạt mũi có thể không xảy ra[10].
Ngày nay cùng với quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, các hoạt động của
con người ngày càng trở nên phong phú. Các loại phương tiện giao thông với
tốc độ cao ngày càng nhiều, các công trình xây dựng liên tục gia tăng làm
cho các chấn thương nói chung và chấn thương tháp mũi nói riêng ngày càng
phong phú và phức tạp.
2
Chấn thương tháp mũi không chỉ xảy ra đơn thuần mà còn phối hợp các
chấn thương khác. Do vậy việc điều trị chấn thương tháp mũi không chỉ còn
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 VÀI NÉT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Ở nước ngoài
Chấn thương sọ mặt nói chung và chấn thương tháp mũi nói riêng đã
được quan tâm từ lâu.
Năm 1650 (trước công nguyên) Edwin Smith mô tả biến dạng mặt lần
đầu tiên trên một trang sách bằng giấy cói [3320].
Hippocrate (460 – 377 trước công nguyên) mô tả sửa mũi kín lần đầu
tiên [3320].
Năm 1899 Lang mô tả lần đầu tiên vỡ blow – out [3517].
Chiến tranh thế giới thứ I. , Gillies (Anh), IVY, Kazaniian (Mỹ);
Ollivier, Morestin (Pháp); Ganzer Lindemann (Đức) đưa ra nhiều cách cố
định gãy xương mặt [3320].
Năm 1974 Shultz, Devillers; 1978: Covruss; 1979 Harrison, Stranc,
Robertson đưa ra nhiều cách phân loại chấn thương mũi. Chung quy đều dựa vào
mức độ, hướng của lực tấn công, tính chất và các dạng tổn thương mũi [3612].
Formatted: Line spacing: Multiple 1.6 li
Formatted: Condensed by 0.2 pt
4
Năm 2004: Kun Hwang, Sun Hye You, Sun Goo Kim đã mô tả các vết
gãy xương mũi trên 503 bệnh nhân kéo dài trong 6 năm (từ 1998 – 2004).
Năm 2004 Seung Chul Rhee, Yoo Kyung Kim đã mô tả tổn thương
vách ngăn mũi trong chấn thương tháp mũi [3819].
Thập kỷ 60 ngành phẫu thuật hàm mặt, TMH, và phẫu thuật đầu cổ
tách khỏi ngoại khoa chung và có xu hướương nghiên cứu chấn thương thời
bình.
thường quy, cùng với các phương tiện phẫu thuật, các cơ sở TMH đã có nhiều
tiến bộ trong chẩn đoán, xử trí chấn thương mũi ngày càng tốt hơn.
1.2 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU - SINH LÝ MŨI
1.2.1 Cấu tạo mũiGiải phẫu mũi: Gồm có tháp mũi và hốc mũi
1.2.1.1 Tháp mũi
Nổi cao nhất trên khuôn mặt, có dạng hình tháp 3 cạnh gồm các cấu
trúc xương, sụn và phần mềêm. Cực trên tiếp xúc với xương trán gọi là gốc
mũi, liên tục với đỉnh mũi ở phía dưới qua sống mũi. Sống mũi tận cùng tại
một đầu tự do ở phía trước dưới có tên là đỉnh mũi. Phía dưới đỉnh mũi là 2 lỗ
mũi trước cách nhau bởi vách ngăn. Bên ngoài là 2 cánh mũi tạo với má 1
rãnh gọi là rãnh mũi má.
6
Tháp mũi nằm ở giữa, là phần nhô cao ở mặt nên dễ bị chấn thương,
nhất là phần xương ở trên nên có thể bị gãy, phần sụn ở phía dưới vì cấu trúc
của sụn có tính đàn hồi, thương tổn phần sụn có thể do đâm xuyên xé rách.
7
Cấu tạo giải phẫu
8
9
Hình 1.1. Giải phẫu tháp mũi [14]
Bộ khung chống đõ đỡ cho mũi ngoài được cấu tạo bằng xương, sụn và
phần mềm.
- Khung xương: 2 xương chính mũi hình chữ nhật nằm 2 bên rễ mũi và
hình thành vòm hố mũi. Ngành lên 2 xương hàm trên đi từ bờ dưới của mũi
lên đến gai mũi xương trán và các mỏ trán của xương hàm trên.
- Thành dưới hay sàn mũi: Là thành xương ngăn cách ổ mũi với ổ miệng
do mỏm khẩu cái xương hàm trên và mảnh ngang xương khẩu cái tạo nên.
- Thành trong hay vách ngăn mũi: Bao gồm 1 khung xương sụn. Sụn tứ
giác ở phía trước, mảnh đứng xương sàng ở sau trên. , Xương xương lá mía ở
phía sau dưới và sụn cánh mũi ở trước. Hình 1.2. Giải phẫu thành trong hốc mũi [14]
12
- Thành ngoài: còn Còn gọi là thành bệnh lý có cấu trúc phức tạp và rất quan
trọng
Các xương thành ngoài gồm: Ngành lên xương hàm trên, xương lệ,
mỏm trán, xương sàng, xương khẩu cái, mỏm cánh xương bướm
Các cuốn, khe mũi:
Cuốn dưới và khe dưới: cuốn Cuốn dưới là 1 một xương độc lập mọc ra
từ ngành lên xương hàm trên, được phủ bằng 1 một lớp niêm mạc dày, bên
trong có các gốc chứa máu gọi là hồ huyết. Dưới cuốn dưới là khe dưới , có lỗ
mở của ống lệ mũi, cách lỗ mũi trước khoảng 3cm.
Cuốn giữa và khe giữa: là Là mảnh của xương sàng, phía trước gắn với
mào sàng của xương hàm trên. Đầu và thân tự do, ở phía sau đuôi của mê đạo
sàng, còn ở trước gắn vào lỗ bướm, khẩu cái.
Cuốn trên và khe trên: là Là một mảnh xương sàng nằm phía trên sau
của xương sàng, đầu và thân tự do. Đuôi gắn vào thành trước xoang bướm. ,
khe trên có lỗ thông với xoang bướm và sàng sau.
13
Hình 1.3. Giải phẫu thành ngoài hốc mũi [14]
1.2.1.3 Niêm mạc hốc mũi. – mạch máu và thần kinh
dãy hạch cảnh.
Thần kinh: sự phân bố thần kinh ở mũi rất phong phú. ở mũi có 2 loại dây
thần kinh: dây thần kinh cảm giác và dây thần kinh khứu giác
- Dây thần kinh cảm giác: các dây thần kinh cam giác của mũi đều
thuộc về dây thần kinh tam thoa, thông qua 2 nguồn chính: một là hạch bướm
khẩu cái, hai là dây thần kinh mắt. Hạch bướm khẩu cái cho các dây thần kinh
bướm khẩu cái trong, bướm khẩu cái ngoài, các dây thần kinh khẩu cái sau,
trước và giữa.
- Dây thần kinh mắt cho dây thần kinh sàng, dây này lại chia ra dây
thần kinh mũi ngoài (da gốc mũi) và dây thần kinh mũi trong (vách mũi và
đầu mũi).
- Dây thần kinh khứu giác: Dây thần kinh khứu giác bắt nguồn từ các tế
nào khứu giác Schuliz ở vết vàng của khe khứu giác. Các dây này chui qua
mảnh sàng vào não và tập trung vào hành khứu giác. Đây là trạm thứ nhất, từ
trạm này xuất phát cuống khứu đưa luồng kích thích đến tam giác tức là trạm
thứ 2 ở phía sau thùy ổ mắt. Tam giác này được nối liền với các trung tâm
khứu giác ở vỏ não (hồi hải mã, hồi thái dương, hồi hố mắt) ở thể trai bằng
Formatted: 7, Left, Space Before: 0 pt, Line
spacing: single
16
rễ trắng ngoài, rễ trắng trong, rễ xám. Nhân vỏ não của các hồi này được coi
như là trung tâm phân tích mùi vị.
1.2.2 Liên hệ của mũi với các cơ quan lân cận
Liên hệ với xoang:
Mũi liên hệ với chặt chẽ với các xoang. Xoang là những hốc rỗng của
xương mặt và xương sọ.
Trong xương hàm có xoang hàm., Trong trong xương trán có xoang
trán, trong xương sàng có xoang sàng và trong xương bướm có xoang bướm.
18
Nhờ sự có mặt của lông mũi, sự chuyển động nhịp nhàng từ trước ra
sau của hệ thống lông chuyển, với ẩm độ cao và dịch nhầy trên bề mặt, các
bụi bẩn được giữ lại phía ngoài, không khí được làm sạch khi đi qua mũi.
1.2.3.2 Chức năng ngửi:
Được thực hiện ở phần cao của hốc mũi bởi đầu tận của dây thần kinh
khứu giác (dây 1I).
Để ngửi được trước hết luồng hơi phải đi đến được vùng ngửi, không bị
cản trở bởi dịch đọng, dị vật, sẹo dính, u, dị hình ngoài ra các chất có mùi
phải tan được trong dịch nhầy phủ lên các tế bảo thần kinh mới có thể tạo ra
được kích thích.
1.2.3.3 Dẫn lưu, thông khí cho các xoang mặt
- Chức năng dẫn lưu giúp tống những chất xuất tiết bình thường cũng
như bệnh lý qua các lỗ thông xoang ra ngoài đồng thời có sự trao đổi khí liên
tục giữa mũi và hệ thống xoang.
- Các lỗ thông với các xoang khi bị tắc do chấn thương, viêm nhiễm,
khối u, polype hay gây ra tình trạng viêm nhiễm ở các hệ thống xoang
tương ứng.
1.2.3.4 Tham gia vào phát âm
Mũi và xoang đóng vai trò là hợp hộp cộng hưởng, tạo nên độ vang và
âm sắc của giọng. Khi hốc mũi bị tắc giọng tắc sẽ bị thay đổi thành giọng mũi
kín.
1.3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHẤN THƯƠNG THÁP MŨI
1.3.1 Nguyên nhân
Nguyên nhân gây chấn thương tháp mũi rất đa dạng
Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Indent: First line: 0.5"
19
- Nếu hướng chấn thương thẳng góc sẽ làm vỡ xương chính mũi, sống mũi
không còn thẳng nữa mà bị lõm xuống, vách ngăn cũng vỡ theo và chảy máu. Hình 1.54. Gãy xương chính mũi với lực tác động từ trái sang phải [9]
Formatted: Centered
21
- Nếu chấn thương đập chéo góc thì tháp mũi sẽ lệch về bên đối diện,
sống mũi không bị lõm xuống nhưng bị lệch rõ ràng về một phía bên, kèm
chảy máu.
- Nếu chấn thương nhiều, mạnh thì cùng với xương chính mũi bị vỡ và
xoay nằm ngang theo bình diện trán và chặn lối vào hốc mũi.
+ Với lực ngang mạnh, xương chính mũi có thể bị gãy vụn kèm theo
chấn thương sụn và rách da. Vách ngăn mũi bị ảnh hưởng và bị xương chèn
ép, có điều kiện nắn lại tháp mũi cũng khó trở lại vị trí ban đầu.
+ Đường gãy vách ngăn mũi thường là đường dọc khi lực làm gãy đi từ
trước ra sau và đường gãy ngang khi lực đi từ phía sau. Vách ngăn mũi bị vặn
và trở thành hình chữ C, chữ S, hoặc chữ Z.
Formatted: Centered
22
Hình 1.65. Các hình thái chấn thương tháp mũi [10]
1.3.21.3.3 Các kiểu tổn thương bệnh lý tháp mũihình thái tổn thương
trong chấn thương tháp mũi [76]
Tổn thương tháp mũi thường do các vật tù gây ra cũng như các đường
vỡ khác hướng và tính chất của vật va đập vào tháp mũi có thể giúp ta xác
định loại tổn thương. Những chấn thương ở một phía của tháp mũi cắt chéo so
phim. Do vậy trong trường hợp nghi ngờ chấn thương tháp mũi có vỡ phức
hợp sàng – hàm thì tốt nhất nên chỉ định chụp CT scanner hai coupe lát cắt
coronal và axial
1.4.1 Coupe Lát cắt coronal (cắt đứng ngang)
Coupe coronal hay còn được gọi là cắt đứng ngang theo bình diện trán,
nó cho thấy các bình diện cắt theo chiều từ trước ra sau. Các Coupe coupe
coronal được coi là có giá trị nhất để phát hiện tổn thương sâu làm rạn vỡ
xương, xoang, ổ mắt, nền sọ, kèm theo hình ảnh gián tiếp chấn thương như
chảy máu trong xoang.
Tư thế chụp cCoupe coronal (có hai tư thế)
- Tư thế nằm sấp: Bệnh nhân Nằm nằm ngửa, cằm tỳ vào vật đồ
25
- Tư thế nằm ngửa: Bệnh nhân nằm ngửa, đầu ngửa tối đa đưa ra khỏi
bàn chụp
Tiêu chuẩn phim chụp đúng
- Các cCoupe cắt trong tư thế coronal cách nhau 3mm2mm. Ccác coupe
cắt đặt vuông góc với đường ống tai - ổ mắt. Chiều dày mỗi nhát lát cắt
4mm.
- Các coupe được đặt vuông góc với đường nối ống tai – bờ dưới ổ mắt.
- Diện cắt đi từ bờ trước xoang trán đến bờ sau xoang bướm.
- Để đánh giá các đường vỡ được chính xác người ta yêu cầu mở cửa
sổ xương để làm tăng đậm các mô xương nhằm phát hiện các đường
giãn vỡ nhỏ mà XQ thường không thấy, nhất là chấn thương nằm
sâu trong xoang và ổ mắt. Hình 1.77. Phim CT coupe coronal
1.4.2 CoupeLát cắt A axial (cắt ngang)