Đặt vấn đề
U nang buồng trứng là bệnh hay gặp ở phụ nữ, đặc biệt trong lứa tuổi
hoạt động sinh sản.
Bệnh thường tiến triển lặng lẽ trong thời gian dài. Thường không có
biểu hiện lâm sàng điển hình, nhưng có thể gặp các biến chứng đòi hỏi phải
can thiệp ngoại khoa cấp cứu như xoắn u hay vì u, đặc biệt là ung thư hoá, là
một trong những nguyên nhân chính gây tử vong trong số các bệnh sinh dục
nữ [3]. Trong những trường hợp được chẩn đoán ung thư buồng trứng có biểu
hiện lâm sàng, thì 2/3 số đó là đã có di căn [66].
Chính vì vậy, việc phát hiện và điều trị sớm u nang buồng trứng khi
khối u còn nhỏ không những góp phần làm giảm những biến chứng gây nguy
hiểm hoặc ung thư mà còn có khả năng bảo tồn được một phần buồng trứng
lành, phòng được một nguyên nhân đẻ khó do u tiền đạo. Điều này vô cùng có
ý nghĩa với phụ nữ đang mang thai.
Khối u buồng trứng trong thời kỳ thai nghén là những khối u thuộc về
mô buồng trứng, thường không điển hình về triệu chứng, thường được phát
hiện tình cờ khi đi kiểm tra sức khoẻ, khám phụ khoa, khám thai, khám siêu
âm định kỳ. Nhiều trường hợp khi có biến chứng, u mới được phát hiện
Tỷ lệ u buồng trứng phát hiện trong thời kỳ mang thai 1/160 - 1/300
phụ nữ tại Hoa kỳ [61].
Tại Australia, khối u buồng trứng kết hợp với thai nghén là 1/653 [32].
Ở Việt Nam tỷ lệ u nang buồng trứng thai nghén: 4,33% [16].
1
Mặc dù tỷ lệ biến chứng của u buồng trứng trong thời kỳ mang thai
không lớn (khoảng 1/1000 trường hợp) nhưng điều trị bảo tồn cũng nh phẫu
thuật can thiệp có thể là nguy cơ lớn đối với mẹ và thai [65].
Chính vì vậy việc chẩn đoán và xử trí u buồng trứng trong thời kỳ
mang thai cần phải rất thận trọng. Đặc biệt đối với những u nang cần phải
được can thiệp phẫu thuật.
Ngày nay, cùng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong y học. Phẫu
thuật nội soi đã trở thành một mũi nhọn trong lĩnh vực phẫu thuật chung với
tử cung. Hai động mạch này đều là nhánh của động mạch hạ vị.
Mặt tù do của buồng trứng không có phúc mạc bao phủ mà chỉ có biểu
mô bề mặt. Phần buồng trứng dính vào mạc treo buồng trứng được gọi là núm
buồng trứng. Các mạch máu và thần kinh đi qua mạc treo này.
1.1.2. Cấu tạo mô học của buồng trứng [10], [13].
Bổ đôi buồng trứng ta có thể phân biệt được 2 vùng: vùng trung tâm
hẹp, gọi là vùng tuỷ và vùng ngoại vi rộng, gọi là vùng vỏ.
Vùng tuỷ cấu tạo bởi mô liên kết thưa, có nhiều sợi tạo keo, nhiều sợi
chun và Ýt tế bào sợi hơn vùng vỏ. Ngoài ra, còn có các sợi cơ trơn, những
động mạch xoắn, những cuộn tĩnh mạch tạo nên mô cương buồng trứng. Mặt
3
ngoài vùng vỏ buồng trứng được phủ bởi một lớp biểu mô đơn. Ở phụ nữ còn
trẻ, lớp này là biểu mô đơn vuông, về sau dẹt lại ở một số nơi, trừ những nơi
có rãnh thấy ở trên mặt buồng trứng.
Dưới biểu mô là mô kẽ có các tế bào hình thoi và chính những tế bào
này có thể biệt hoá thành những tế bào nội tiết gọi là tế bào kẽ và tế bào vỏ
của buồng trứng, đảm nhiệm chức năng tiết ra các hormon steroid.
Vùi trong mô kẽ của phần vỏ buồng trứng là những khối hình cầu gọi là
nang trứng. Mỗi nang trứng chứa một noãn (trứng), cùng với sự trưởng thành
của cơ thể nang trứng phát triển từ nang trứng nguyên thuỷ thành những nang
trứng đang phát triển và cuối cùng thành noãn trưởng thành (còn được gọi là
nang noãn chín).
Khi nang noãn chín, noãn được phóng ra ngoài, phần còn lại của nang
noãn tại buồng trứng dần dần biến thành hoàng thể. Vào cuối vòng kinh,
hoàng thể teo đi, để lại sẹo trắng, gọi là vật trắng hay bạch thể.
1.1.3. Sinh lý buồng trứng [13]
Buồng trứng có rất nhiều nang noãn. Số lượng các nang này giảm rất
nhanh theo thời gian. Có khoảng 1,5-2 triệu nang noãn ở hai buồng trứng khi
thai nhi gái được 20 tuần tuổi, nhưng khi ra đời chỉ còn chừng 200.000 -
300.000 và vào tuổi dậy thì, số lượng nang noãn chỉ còn 20.000 - 30.000.
noãn, lượng dịch được tích luỹ ngày càng nhiều tạo thành nang. Vá nang
thường mỏng và chứa dịch trong, người ta có thể thấy nang bọc noãn trong
trường hợp quá sản tuyến nội mạc tử cung.
Nang hoàng thể: là do hoàng thể không teo đi mà lại phát triển quá
mức, tạo thành nang. Thành nang thường dầy hơn nang bọc noãn [9].
5
Nang hoàng tuyến: lớn hơn nang bọc noãn, gặp ở một hoặc hai bên
buồng trứng, vỏ nang máng, trong chứa dịch Luteum, do sự tăng cao hCG,
thường gặp ở bệnh nhân chửa trứng, chorio hay ở bệnh nhân vô sinh đang
được điều trị bằng hMG (human menopausal gonadotropin) liều cao [15].
1.2.2. U nang thực thể
U nang thực thể có kích thước thay đổi từ vài cm tới 20-30 cm, có
trọng lượng từ vài trăm gram cho đến hàng chục kilôgam, thường là những
nang lành tính, tuy nhiên vẫn có khả năng trở thành ác tính. Có thể gặp các
loại dưới đây:
U nang nước: là loại u hay gặp, vỏ mỏng, cuống dài, trong nang chứa
dịch, thường không dính vào xung quanh, tỷ lệ biến chứng thành ung thư cao
hơn các loại khác. Khi biến chứng thành ung thư thì có nhú ở mặt ngoài hoặc
mặt trong vá nang. Kích thước nang thường to, hay gặp ở độ tuổi 30-40 và
sau mãn kinh [11], [15]
U nang nhầy: là khối u có vỏ dày, thành nang có hai lớp: lớp ngoài là tổ
chức xơ, ở trong là lớp thượng bì trụ đơn. Nang có nhiều vách, trong nang
chứa dịch nhày màu vàng. Đôi khi nang nhầy kết hợp với teratoma (u quái
buồng trứng). Khoảng 5% u nang nhầy biến chứng ác tính [15].
U nang bì: là loại u thường gặp, chiếm khoảng 25% trong các khối u
buồng trứng. Nó bao gồm nhiều tổ chức khác nhau mọc lên từ hai hay ba lớp
tế bào mầm: nội bì, trung bì, ngoại bì. Trong nang có thể gặp các tổ chức nh
xương, tóc, răng, tuyến bã. Thành nang có cấu trúc nh da có lớp sừng, mỡ,
tuyến mồ hôi, u nang bì thường lành tính, có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào,
nhưng thường gặp nhất ở lứa tuổi sinh đẻ, và u nang bì thường phát triển ở cả
7
1.3.3. Các u từ mô đệm của dây sinh dục
U phát triển từ các mô đệm của dây sinh dục chiếm tỷ lệ 6% các khối u
buồng trứng [65]. Những u này thường gây rối loạn nội tiết và có thể làm rối
loạn sự phát triển giới tính hay kinh nguyệt. Các khối u này được chia thành:
- U tuyến cái (Gonadoblastoma)
- U tế bào vỏ, tế bào hạt.
1.3.4. Các u từ tổ chức liên kết của buồng trứng
Hiếm gặp, gồm u xơ lành tính hoặc sarcom.
1.3.5. Các u di căn đến buồng trứng
U Krukenberg di căn từ những khối u đường tiêu hoá, thường gặp nhất
là từ ung thư dạ dày. U này có thể ở một hoặc hai bên buồng trứng, thể đặc và
có mặt cắt mềm, ánh vàng, có hốc nhỏ chứa nhầy.
1.4. Khối u buồng trứng và thai nghén
Khối u buồng trứng và thai nghén gồm khối u lành tính và ác tính,
trong đó khối u lành tính thường gặp hơn và cũng có nhiều biến chứng hơn
[9]
Theo John, nguy cơ u nang buồng trứng ở thời kỳ thai nghén 2% - 5% [39]
Một báo cáo gần đây nhất của Jedrejczakp và cộng sự (2006) tỷ lệ u
nang buồng trứng ở phụ nữ mang thai ≈ 1/1000 trường hợp [38].
Theo Hoàng Thị Hiền nghiên cứu tổng kết u nang buồng trứng 2001 -
2006 thấy tỷ lệ mổ khối u buồng trứng ở phụ nữ mang thai so với số bệnh
nhân đẻ hàng năm: 0,31 [6].
1.4.1. Chẩn đoán khối u buồng trứng trong thai kỳ
Các khối u buồng trứng thường được phát hiện tình cờ khi đi khám thai
hoặc được phát hiện từ trước khi có thai. Triệu chứng thường nghèo nàn.
* Triệu chứng lâm sàng
8
- Có dấu hiệu thai nghén.
- Bông to lên không tương xứng tuổi thai, có thể có cảm giác tức nặng,
Dày > 3mm
Dày ≤ 3mm
Thưa âm vang
3
Không đều ≥
3mm
Không xác định
được phần lớn
Dày > 3mm Âm vang thưa ở
giữa có đậm âm
9
là đặc
4 Không xác định
được phần lớn
là đặc
Âm vang hỗn
hợp
5 Đậm âm
Theo thang điểm của Sasson:
- Nếu tổng số điểm khối u ≤ 9 điểm: nghĩ tới u BT lành
- Nếu tổng số điểm khối u >9 điểm: nghĩ tới u BT ác tính [53]
+ Giải phẫu bệnh: là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán u nang buồng trứng.
+ Xquang: chụp bụng không chuẩn bị góp phần phát hiện u nang buồng
trứng, đặc biệt là u bì. Tuy nhiên phương pháp này không được áp dụng ở phụ
nữ có thai.
- Chất đánh dấu CA 125
Giá trị bình thường của CA125 dưới 35 UI/ml. Độ đặc hiệu của CA125
thấp nên không có giá trị chẩn đoán với u buồng trứng ở phụ nữ trẻ, tuy nhiên
CA125 có giá trị trong theo dõi tiên lượng u buồng trứng [22].
1.4.2. Tiến triển khối u buồng trứng và thai nghén
* Chảy máu trong nang:
Thường là hậu quả sau bán xoắn.
* Vỡ khối u:
Là hậu quả khi u bị xoắn nhiều vòng hoặc sau sang chấn mạnh, (khác
với u nang cơ năng tự vỡ).
* U tiền đạo:
11
Làm cản trở quá trình lọt, xuống của ngôi thai dẫn đến đẻ khó, tỷ lệ
17% [39].
* Nhiễm khuẩn:
Hiếm gặp, thường là hậu quả của u nang bị xoắn.
1.4.3. Nguyên tắc xử trí khối u buồng trứng trong thai kỳ
Nếu trong 3 tháng đầu phát hiện u nang buồng trứng, hình ảnh siêu âm
là nang thanh dịch mà không có các dấu hiệu biến chứng thì nên theo dõi
thêm, để loại trừ các nang hoàng thể.
Nếu xác định chắc chắn là u thực thể thì cũng có thể can thiệp phẫu
thuật trước 14 tuần. Tuy nhiên, một số nghiên cứu nhận thấy rằng phẫu thuật
vào thời điểm này thì tỉ lệ sẩy thai cao hơn là sau 14 tuần [24], [39].
Theo nhiều tác giả thì thời kỳ phẫu thuật an toàn nhất là sau 14 tuần vì
giảm được tối đa tỷ lệ sảy thai sau phẫu thuật cũng như không trì hoãn quá lâu
đối với u thực thể có nguy cơ ác tính [61], [43], [39].
Một số tác giả còn khẳng định rằng phẫu thuật vào thời điểm thai 17
tuần vẫn an toàn và hiệu quả, với điều kiện đội ngũ phẫu thuật viên phải có
kinh nghiệm và kỹ thuật vững vàng [24], [55], [57].
1.5. Cách xử trí khối u nang buồng trứng trong thai kỳ
1.5.1. Phẫu thuật mở bụng
Là phương pháp điều trị cơ bản, cổ điển. Cắt đi một phần hay toàn bộ u.
1.5.2. Phẫu thuật nội soi
1.5.2.1. Sơ lược lịch sử nội soi và ứng dụng của phẫu thuật nội soi trên thế giới
Phẫu thuật nội soi là một thành tựu lớn trong lịch sử y khoa. Từ khi bắt
soi ổ bụng chẩn đoán được sử dụng thường xuyên tại Viện BVBM&TSS và
một số cơ sở sản phụ khoa khác tại miền Bắc nh BV Quân Y 103 [14].
Tuy nhiên, 12/1995 nội soi phẫu thuật mới được thực hiện tại Viện
BVBM&TSS: 8 ca u nang buồng trứng và 1 ca chửa ngoài tử cung. Cả 9
trường hợp này đều có sự giúp đỡ của các chuyên gia Pháp [8].
Từ 1996 Bệnh viện PSTƯ đã triển khai phẫu thuật nội soi trong điều trị
vô sinh do tắc vòi trứng (gỡ dính, tạo hình loa vòi trứng) và bóc tách nang
buồng trứng [8].
Năm 2003, ca phẫu thuật nội soi bóc u nang buồng trứng ở phụ nữ
mang thai đầu tiên đã được thực hiện thành công tại bệnh viện Phụ sản Trung
ương.
Cho đến nay, cùng với sự tiến bộ và nâng cấp vượt bậc của kỹ thuật
trang thiết bị và đội ngũ phẫu thuật viên, những phẫu thuật nội soi phức tạp và
đa dạng hơn ngày càng được áp dụng rộng rãi tại BVPSTƯ, bóc và cắt u nang
buồng trứng dính, tắc dính vòi trứng, bóc tách nhân xơ, cắt TCHT, cắt phần
phụ.
1.5.2.3. Chỉ định, chống chỉ định tai biến, biến chứng chung của PTNS
[53], [20]
* CCĐ tuyệt đối
- Các bệnh lý tim mạch, phổi
- Các trường hợp shock
- Chảy máu cấp trong ổ bụng
- Tắc ruột, viêm phúc mạc
- Dị dạng thành bụng, dị dạng cơ hoành.
* CCĐ tương đối:
- Béo phì
- Tiền sử lao ổ bụng
14
- Có sẹo mổ cũ, dính
- Khối u quá lớn ở ổ bụng
học kỹ thuật trong điều trị, vai trò của nội soi trong chẩn đoán và phẫu thuật
với phụ nữ có thai đã được đánh giá lại.
Báo cáo đầu tiên về phẫu thuật nội soi cắt u nang buồng trứng cho phụ
nữ có thai năm 1996 do các tác giả Paker WH và cộng sự tiến hành tại Los
Angeles Mỹ: 12 phụ nữ có thai được phẫu thuật cắt bỏ u bì buồng trứng, kích
thước 5cm - 13cm (trung bình 8,5 cm), tuổi thai 9 - 17 tuần (trung bình 14
tuần). Thời gian phẫu thuật trung bình 87 phút, thời gian hậu phẫu trung bình
44 giờ, không có biến chứng trong và sau mổ cho mẹ và thai.
16
Có 10 khối u trong sè 12 ca bị vỡ trong khi phẫu thuật nhưng không có
bệnh nhân nào bị biến chứng viêm phúc mạc [49].
Khoa Phụ sản tại Clermond Ferrand (Pháp), đã thông báo 1 trường hợp
phẫu thuật nội soi mở thành công 1 ca u nang buồng trứng kích thước xoắn
lớn ở thai phụ, không có biến chứng nào với mẹ và thai nhi [52].
Một nghiên cứu về lợi Ých, an toàn, những yếu tố giới hạn và tính tiện
lợi của PTNS u nang buồng trứng trong thai nghén tai bệnh viện Herriot-Pháp
2002[44] đã báo cáo: Trong 12 năm, 48 ca PTNS được tiến hành trên bệnh
nhân mang thai có khối u buồng trứng, trong đó có 27 bệnh nhân có thai quý
II, 4 bệnh nhân có thai quý III.Không có bệnh nhân nào có tai biến trong và
sau phẫu thuật.
Thời gian nằm viện trung bình: 3,8 ngày. Thời gian phẫu thuật trung
bình là 66,8 phót. Trừ mét ca sảy thai sau mổ 4 ngày, còn lại thai nghén đều
an toàn đến khi đẻ. Các tác giả đã kết luận: PTNS u buồng trứng ở phụ nữ có
thai bởi những phẫu thuật viên có kinh nghiệm là an toàn và hiệu quả. So sánh
với phẫu thuật cổ điển (mở bụng) đều ưu thế hơn, thời gian nằm viện ngắn
hơn, giảm tỷ lệ biến chứng sau mổ, giảm tỷ lệ tai biến ở cả mẹ và thai [44].
Một nghiên cứu nhằm đánh giá tính an toàn và những giới hạn của
phẫu thuật nội soi những khối u trong tiểu khung ở phụ nữ mang thai tại bệnh
viện, trường Đại học Caen tại Clemenceau.
Trong 10 năm, 21 trường hợp nội soi cắt UBT được tiến hành ở các thai
2
nên để thấp hơn 12mmHg và cố gắng hạn chế tối đa thời
gian phẫu thuật nhằm giảm nguy cơ mẹ nhiễm carbon và nhiễm acid ở thai nhi.
Một nghiên cứu tại Israel nhằm so sánh tính an toàn cho thai nhi sau
phẫu thuật u nang buồng trứng trong phẫu thuật nội soi và phẫu thuật mở
bụng từ 1-1974 đến 12-1993 [27]. Trong sè 93 trường hợp phãu thuật, có 39
18
trường hợp có thai quý I được phẫu thuật nội soi, 54 trường hợp phẫu thuật
mở bụng, trong đó 25 bệnh nhân có thai quý I và 29 bệnh nhân quý II. Tất cả
những bệnh nhân mổ nội soi đều không có biến chứng trong và sau mổ nào
xảy ra cho mẹ, 5 trường hợp sảy thai quý I. Nhóm bệnh nhân mở bụng có 2
bệnh nhân sốt sau mổ và có 2 trường hợp sẩy thai. Tuy nhiên 7 trường hợp
sảy thai đều là chỉ định mổ vì u buồng trứng xoắn. Tác giả rót ra kết luận
phẫu thuật nội soi u nang buồng trứng trong thời kỳ thai nghén là an toàn và
mổ chủ động sẽ hạn chế được tai biến sẩy thai hơn là mổ cấp cứu.
Năm 2006, tại Clerrmont-Ferran, Lenglet và cộng sự đã nghiên cứu hồi
cứu 26 trường hợp PTNS ở phụ nữ mang thai, trong đó có 12 bệnh nhân thai
quý I, 13 bệnh nhân thai quý II, 1 bệnh nhân thai quý III. Áp lực CO
2
trong
phẫu thuật là 12mmHg. 22 trường hợp sử dụng kim bơm CO2 vào ổ bụng và
4 trường hợp nội soi mở. Kích thước của Trocart được sử dụng tùy theo kích
thước của tử cung và khối u. 11 trường hợp cắt u và 7 trường hợp cắt phần
phụ, 1 trường hợp cắt buồng trứng và 6 trường hợp chỉ hút dịch kết hợp sinh
thiết vỏ u. 1 trường hợp cắt UBT xoắn. Có 3 trường hợp phải chuyển sang mổ
bụng. Không có biến chứng nào sau phẫu thuật và tất cả các thai phụ đều có
cuộc sinh nở an toàn [40].
1.5.2.5. Phương pháp phẫu thuật
Các kỹ thuật nội soi bóc cắt u buồng trứng đã nêu trong y văn nhưng
áp dụng phương pháp nào còn tuỳ theo quan điểm của phẫu thuật viên.
là 87% và 84% [58].
Các tác giả cũng kết luận rằng việc vỡ u hay chọc hút u trong phẫu
thuật không ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh.
20
Tuy nhiên, Canis và cộng sự đã tiến hành 129 ca PTNS u bì BT, có 2
trường hợp viêm phúc mạc hoá chất [25]. Nh vậy, trong mổ nội soi u bì buồng
trứng vẫn có nguy cơ của viêm phúc mạc hoá chất sau mổ. Đặc biệt là ở phụ
nữ mang thai thì tỷ lệ u bì khá cao 46,8% [6]. Mặt khác, khi dịch u bì vỡ ra
trong ổ bụng thì sẽ phải tưới rửa ổ bụng rất kỹ và có vẻ là sẽ phải đụng chạm
vào tử cung mang thai nhiều hơn trong trường hợp bóc tách nang kín. Tuy
nhiên, trong y văn không nói rõ lợi điểm giữa việc bóc nang sau khi chọc hút với
bóc nang kín [41], [59], [64].
* Kỹ thuật bóc u nang ngoài ổ bụng
Dưới sự giám sát của nội soi, rạch thành bụng 2-3cm ở hố chậu đối
diện với nang hay trên mu. Sau khi chọc hút dịch trong nang, kéo nang ra
ngoài thành bụng để bóc nang. Đây là kỹ thuật phối hợp giữa phẫu thuật mở
bụng và nội soi.
Một số tác giả cho rằng bóc u ngoài ổ bụng là một phương pháp áp
dụng tốt cho phụ nữ có thai vì tử cung to sẽ là một khó khăn nếu cắt u trong ổ
bụng. Mặt khác, khi có thai, các dây chằng được kéo dài ra, dễ dàng cho việc
đưa ra ngoài thành bụng [60]
Tóm lại: PTNS u nang buồng trứng trong thai kỳ tuy mới được áp dụng
nhưng ưu thế đã ngày càng được khẳng định. So với phẫu thuật mở bụng có
nhiều ưu việt hơn: thời gian nằm viện Ýt hơn, tỉ lệ tai biến trong và sau mổ
thấp đối với cả thai phụ và thai nhi. Tuy nhiên, đây là một kỹ thuật mổ rất tinh
tế, đòi hỏi PTV phải có kinh nghiệm và rất cẩn trọng, nhằm hạn chế tối đa
những nguy cơ và tai biến xảy ra trong và sau phẫu thuật.
21
Chương 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Nguyên nhân phát hiện khối u
- Tiền sử sản khoa: số lần có thai: 0; 1-2; >3
- Thời điểm phát hiện khối u: ≤12 tuần; 13-14 tuần; 15-16 tuần; ≥17 tuần
* Đặc điểm khối u
- Số lượng u: 1, 2 bên
- Kích thước khối u ≤5cm; 5-10cm; 10-15cm; > 15cm
- Phân loại: (theo kết quả GPB khối u)
- Đặc điểm khối u trên siêu âm (theo bảng Sasson).
* Phẫu thuật nội soi
- Thời điểm phÉu thuật u: ≤12 tuần; 13-14 tuần; 15-16 tuần; ≥17 tuần
- Chỉ định khi phẫu thuật: cấp cứu; chủ động
- Cách thức, vị trí bơm CO
2
vào ổ bụng
- Cách xử trí khối u: bóc tách, cắt bỏ.
- Thời gian phẫu thuật
- Tai biến
23
* Tình trạng thai phô sau phẫu thuật
- Sốt
- Nhiễm trùng
- Ổn định
- Thời gian nằm viện sau phẫu thuật
- Thuốc dùng sau phẫu thuật
* Tình trạng thai sau phẫu thuật
- Sẩy thai
- Đẻ non
- Đẻ thường
- Mổ đẻ
- Dị tật
Bảng 3.2. Mối liên quan
Năm
Lý do
vào viện
2005 2006 2007 6 tháng
2008
Tổng
Đau bông 7(44%) 19(56%) 8(23%) 4(17%) 38
Khám, SÂ 9(56%) 15(44%) 25(74%) 19(83%) 68
Ra máu 0(0%) 0(0%) 1(3%) 0(0%) 1
Tổng 16(100%) 34(100%) 34(100%) 23(100%) 107
Nhận xét: Năm 2005 tỷ lệ BN được vào viện mổ nội soi UBT do đi
khám thai và SA định kỳ chiếm tỷ lệ 56%.
Tỷ lệ BN được vào viện mổ nội soi UBT do đi khám và SA định kỳ
tăng lên từ 2006, 2007, 6 tháng 2008.
X2 =18,669; P=O,O28
25