BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRẦN THỊ THU GIANG
NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP KHUYẾN KHÍCH TÍCH TỤ
ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Nguyên Cự
HÀ NỘI - 2011
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ
rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Giang
i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Nguyên Cự cùng tập thể
các thầy, cô giáo Bộ môn marketing, Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh,
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú
Thọ, Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện
Tam Nông - tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực
tập và hoàn thành đề tài.
2.1.6.3. Chính sách nông nghiệp
2.1.6.4. Tâm lý người sản xuất nhỏ
iii
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN 21
2.2.1. Ở một số nước trong khu vực 21
2.2.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
2.2.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
2.2.1.3. Kinh nghiệm của Đài Loan
2.2.1.4. Kinh nghiệm của Ấn Độ
2.2.1.5. Kinh nghiệm của Mỹ
2.2.2. Ở Việt Nam 28
3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 34
3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN TAM
NÔNG TỈNH PHÚ THỌ 34
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 34
3.1.1.1. Vị trí địa lý
3.1.1.2. Địa hình
3.1.1.3. Khí hậu
3.1.1.4. Hệ thống thủy văn
3.1.1.5. Tài nguyên đất
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 38
3.1.2.1. Dân số và lao động
Bảng 3.4: Tình hình biến động dân số và lao động của huyện
Tam Nông – tỉnh Phú Thọ
3.1.2.2. Thực trạng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
3.1.2.3. Kết quả sản xuất kinh doanh một số ngành chính của
huyện
Tam Nông từ năm 2008-2010
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
4.2.2.3. Tổ chức quá trình tích tụ đất đai phù hợp với đặc điểm
của từng địa phương
4.2.2.4 Tạo môi trường kinh tế, pháp lý thuận lợi khuyến khích
quá trình tích tụ đất đai
4.2.2.5. Những tác động tích cực của quá trình tích tụ đất đai đến
các hộ
v
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
5.1. KẾT LUẬN 95
5.2. KIẾN NGHỊ 96
5.2.1. Đối với Nhà nước 96
5.2.2. Đối với chính quyền địa phương 98
5.2.3. Đối với hộ nông dân 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 101
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Nhiệt độ không khí bình quân các tháng trong năm tại huyện Tam
Nông (0C) 37
Bảng 3.2 Số giờ nắng, lượng mưa và độ ẩm không khí các tháng trong năm
2010 tại huyện Tam Nông 38
Bảng 3.3. Tình hình đất đai của huyện Tam Nông từ năm 2008-2010 37
Bảng 3.5. Hiện trạng dân số và lao động huyện Tam Nông năm 2010 39
Bảng 3.8. Phân loại hộ điều tra 38
Bảng 4.1. Tình hình biến động đất nông nghiệp huyện Tam Nông năm 2008-
2010 48
Bảng 4.2. Diện tích đất nông nghiệp bình quân hộ nông nghiệp, 51
Bảng 4.3. So sánh một số chỉ tiêu trước và sau khi tích tụ đất đai 52
năm 2010 của toàn huyện 52
49
Hình 4.3. Tình hình biến động đất nông nghiệp huyện Tam Nông năm 2010
49
ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KT-XH Kinh tế xã hội
LĐ Lao động
UBND Uỷ ban nhân dân
KHTS Khấu hao tài sản
NXB Nhà xuất bản
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
XHCN Xã hội chủ nghĩa
HTX Hợp tác xã
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hóa
KHCN Khoa học công nghệ
KCN Khu công nghiệp
DĐĐT Dồn điền đổi thửa
TW Trung ương
TTĐĐ Tích tụ đất đai
SXNN Sản xuất nông nghiệp
x
1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đất đai có một vị trí quan trọng đối với đời sống con người và đối với
nền sản xuất xã hội, nhất là khi mà nền kinh tế phát triển, đời sống của tầng
lớp dân cư được tăng lên thì nhu cầu về sử dụng đất đai đối với tất cả các
ngành sản xuất và đời sống xã hội cũng tăng lên. Do vậy vấn đề đặt ra là phải
tổ chức quản lý và sử dụng quỹ đất một cách hợp lý, tiết kiệm, đem lại hiệu
quả cao nhưng vẫn đảm bảo được tính bền vững.
Từ xưa đến nay, đất đai vẫn là một trong những vấn đề quan trọng nhất
còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất còn chứa đựng nhiều yếu tố thiếu bền
vững. Một trong những nguyên nhân nổi cộm là việc tích tụ đất đai chưa tốt.
Trước yêu cầu đổi mới quản lý nhằm chuyển sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, ngày 14/7/1993 Luật đất đai được ban hành và sau đó
ngày 2/12/1998 Quốc hội khoá IX thông qua Luật đất đai sửa đổi, bổ sung.
Luật đất đai sửa đổi, bổ sung đã chú ý đến quan hệ kinh tế, khơi dậy động lực
kinh tế trong việc bảo vệ và sử dụng đất đai, gắn bó giữa người lao động với
loại tư liệu sản xuất đặc biệt này, đồng thời tăng cường vai trò giám sát, điều
tiết vĩ mô đối với đất đai của Nhà nước. Ngoài ra, đã có một số các văn bản
dưới Luật ra đời (như nghị định số 17/1999/NĐCP ngày 29/3/1999 và Nghị
định số 85/1999/NĐCP ngày 28/8/1999 của Thủ tướng Chính Phủ) có tác
dụng không nhỏ thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai, tạo điều kiện thuận tiện
cho sản xuất và đời sống. Gần đây nhất Luật đất đai đã được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày
26/11/2003; Luật này quy định về quản lý và sử dụng đất đai có hiệu lực thi
hành bắt đầu từ ngày 01/7/2004.
2
Huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ là một huyện được tái lập từ tháng 9
năm 1999 với tổng diện tích tự nhiên là 15.551,34ha, quy mô diện tích đứng
thứ 8 trong tổng số 12 huyện thị của tỉnh Phú Thọ. Bình quân diện tích tự
nhiên là 1.967m
2
/người, thấp hơn so với cả nước (bình quân cả nước là
4.222m
2
/người). Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người thấp, chỉ có
799,4m
2
/người
tích tụ đất đai như cho thuê đất, cho thuê lại đất, mua đất, đấu thầu đất, thừa
kế quyền sử đụng đất với chủ thể là hộ nông dân.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Đề tài nghiên cứu ở một số xã đại diện của huyện Tam
Nông - tỉnh Phú Thọ.
- Thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng về tình hình đất đai
của huyện Tam Nông từ năm 2000 đến nay, trong đó các số liệu về điều tra
tình hình kinh tế hộ nông dân thực hiện trong năm 2009.
- Nội dung: Nghiên cứu thực trạng quá trình tích tụ đất đai và các giải
pháp nhằm hoàn thiện quá trình tích tụ đất đai ở huyện Tam Nông - tỉnh Phú
Thọ.
4
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍCH TỤ ĐẤT ĐAI
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1. Khái niệm về tích tụ đất đai
Theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam, trang 1542, 1655, 1801 thì: Tích tụ
là dồn tất cả vào một chỗ để tăng cường sức mạnh: Ruộng đất: đất đai trồng
trọt nói chung. Tích tụ: Dồn vào, tập trung nhiều vào một chỗ.
Thực chất tích tụ đất đai là việc tăng quy mô diện tích cho hộ do dồn,
đổi, thuê, mua, đấu thầu
Đối với sản xuất thì việc tích tụ đất đai, tăng quy mô kinh doanh của
các chủ thể kinh doanh là vấn đề có tính quy luật. Nó diễn ra với quy mô và
tốc độ khác nhau tuỳ từng nước và phụ thuộc trước hết vào quá trình Công
nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp. Quá trình này đã làm thay đổi tương
quan giữa lao động và đất đai trong sản xuất, kinh doanh theo các giai đoạn
khác nhau của tiến trình lịch sử.
Như vậy, tích tụ đất đai có thể được hiểu là phương thức làm tăng quy
mô về diện tích của chủ thể sử dụng đất. Quy mô ruộng đất được tăng lên
thông qua việc tích tụ đất đai trên cơ sở các quan hệ ruộng đất trên phương
diện tự nhiên và quan hệ sở hữu.
thấp, tính chất đồng nhất kém, người sản xuất trực tiếp không nắm bắt được
thông tin thị trường, hậu quả là sản xuất và phân phối các sản phẩm của nước
ta chịu những thua thiệt không nhỏ. Mâu thuẫn trên chỉ có thể giải quyết
được thoả đáng thông qua con đường tích tụ đất đai.
Sự chuyển dịch nền sản xuất từ sản xuất tự nhiên tự cấp tự túc sang
phát triển sản xuất hàng hoá là một xu thế mang tính quy luật trong tiến trình
phát triển xã hội. Đó là quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng
tập trung hoá, chuyên môn hoá được thực hiện trên cơ sở của sự tích tụ về đất
6
đai. Như vậy, trong điều kiện sản xuất hàng hoá đã tương đối phát triển, tích
tụ đất đai là điều kiện căn bản để chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc phân tán
manh mún sang sản xuất tập trung hoá, chuyên môn hoá và sản xuất hàng
hoá. Tích tụ đất đai ở những nơi có quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển có thể
dẫn đến tình trạng một bộ phận người sản xuất không có đất nhưng thu nhập
và đời sống của nhóm hộ này không những không bị ảnh hưởng mà một bộ
phận còn được cải thiện phát triển cao hơn. Tuy nhiên, nhưng ưu việt của tích
tụ đất đai cũng không được thể hiện ở những vùng đất trật người đông, các
tiềm năng tự nhiên đã được tập trung đầu tư khai thác ở mức tối đa.
Tóm lại, tích tụ đất đai là quá trình tất yếu khách quan của kinh tế hàng
hoá, là yêu cầu của sản xuất hàng hoá, thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và phân công lại lao động trong xã hội.
2.1.3. Các hình thức tích tụ đất đai
Tích tụ đất đai có xu hướng tăng lên theo yêu cầu phát triển của sản
xuất hàng hoá. Tích tụ đất đai là việc sát nhập hoặc hợp nhất ruộng đất của
những chủ sở hữu khác nhau vào một chủ sở hữu hoặc hình thành một chủ sở
hữu mới có quy mô ruộng đất lớn hơn. Tích tụ đất đai diễn ra theo con đường:
hợp nhất ruộng đất của các chủ sở hữu cá biệt nhỏ hơn thành một chủ sở hữu
cá biệt khác lớn hơn. Một trong những con đường hợp nhất ruộng đất là thông
qua việc xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở nước ta trước đây.
Con đường sát nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ cá biệt cho một
- Quyền thế chấp là thế chấp quyền sử dụng đất không giống như thế
chấp tài sản khác. Quyền thế chấp này một mặt khẳng định tính pháp lý của
người chủ sử dụng hợp pháp đó, mặt khác giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trở thành công cụ pháp luật của việc lưu chuyển đất. Dùng giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất làm thế chấp giá trị quyền sử dụng của mảnh đất đó
8
và tùy thuộc vào khả năng sinh lợi của mảnh đất đem thế chấp, bởi vì trong
thời gian thế chấp bên có vốn cho vay (bên nhận thế chấp) chỉ nhận giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của bên thế chấp để làm tin chứ không nhận
đất sử dụng (trừ khi hết hạn mà không trả nợ).
- Quyền cho thuê: Là người sử dụng đất hợp pháp vì lý do bất khả
kháng nên tạm thời không sử dụng đất trong một thời gian nhất định thì được
cho người khác thuê đất của mình để sử dụng. Bên thuê đất phải sử dụng
đúng mục đích, trả tiền thuê, trả lại đất khi hết hạn thuê. Bên thuê và bên cho
thuê phải thực hiện đúng hợp đồng đã cam kết phù hợp với pháp luật.
Việc quy định các quyền của Nhà nước và các quyền của chủ thể sử
dụng đất trong đó có hộ nông dân tạo nên cấu trúc của quan hệ sở hữu đất đai
phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, đồng thời tạo ra cơ sở
pháp lý cần thiết cho quan hệ đất đai vận động có hiệu quả trong cơ chế mới.
Đây là một biện pháp quan trọng để giải quyết tốt mối quan hệ giữa vấn đề sở
hữu đất đai với lợi ích chính đáng của người sử dụng đất trong nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai.
2.1.4. Đặc điểm, các mối quan hệ trong quá trình tích tụ đất đai
* Khác với các tư liệu sản xuất khác, đất là tư liệu sản xuất chủ yếu
trong nông nghiệp và có những đặc điểm sau:
- Đất vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động. Như
chúng ta đã biết đất đai vốn là sản phẩm của tự nhiên, chỉ từ khi con người
tiến hành khai phá đưa đất hoang hóa vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho
con người, thì ruộng đất đã kết tinh lao động con người và đồng thời trở
thành sản phẩm của lao động. Đặc điểm này đòi hỏi trong quá trình sử dụng,
sách kinh tế vĩ mô khác và mục đích của người sử dụng đất.
* Các mối quan hệ trong quá trình tích tụ đất đai
Việc tích tụ đất đai vào tay chủ sở hữu mới tạo ra kết quả hai mặt:
10
- Một số hộ nông dân không có đất, buộc họ phải đi làm thuê hoặc rời
bỏ quê hương tìm kế sinh nhai.
- Tạo cho chủ đất có điều kiện áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đầu tư
thâm canh tăng năng suất cây trồng.
Bước đầu tiên của chính sách đất đai là tọa nên sự công bằng (mọi
người được chia đều diện tích sử dụng) nhưng công bằng hiểu theo nghĩa với
phát triển là cần tập trung vào tay những người làm nông nghiệp giỏi. Từ đó,
mâu thuẫn tiếp theo đặt ra là sẽ có người không có đất và có người nhiều đất,
những người không đủ đất sẽ lựa chọn hướng kinh doanh khác. Trong điều
kiện sức sản xuất kém, nghèo thì chia đều đất là quan trọng nên quá trình tích
tụ đất đai diễn ra rất khó khăn, phức tạp.
Trong nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt, nó vừa là sản
phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội. Vì vậy, các quan hệ trong
quá trình sử dụng ruộng đất được biểu hiện trên các phương diện tự nhiên,
kinh tế, xã hội.
Các quan hệ ruộng đất mà thực chất là các quan hệ của Nhà nước với
các tập thể, tác nhân sử dụng ruộng đất; giữa các cá nhân, tập thể sử dụng
ruộng đất với nhau phải được xác lập một cách hợp lý. Mối quan hệ ấy được
xây dựng thông qua việc phân định đúng đắn quyền năng của mỗi bên đối với
ruộng đất.
Quan hệ ruộng đất về mặt kinh tế là quan hệ được xem xét về khía
cạnh kinh tế. Trên phương diện này, ruộng đất được xem xét ở mục đích sử
dụng. Trong những điều kiện khác nhau ruộng đất sẽ được sử dụng với mục
đích khác nhau và vì vậy sẽ cho kết quả và hiệu quả khác nhau.
Quan hệ sở hữu về ruộng đất là một trong những quan hệ cơ bản nhất
trong quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Về mặt xã hội,
nghiệp phát triển.
12
Tuy nhiên, không thể không đề cập tới những yếu tố ảnh hưởng đến
quá trình tích tụ đất đai, gồm các yếu tố khách quan mang tính xã hội như
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội,
chế độ quản lý ruộng đất, vai trò tác động của Nhà nước, triển khai cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm…và những yếu tố chủ quan của các
chủ thể sử dụng đất như nhận thức của nông dân, nhu cầu của nông dân về
ruộng đất…
2.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tích tụ đất đai
2.1.6.1. Sự phát triển của công nghệ
Cùng với ruộng đất, lao động và vốn, công nghệ trong nông nghiệp
cũng là nguồn lực quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của nông nghiệp.
Công nghệ có vai trò lớn trong hoạt động sản xuất và kinh doanh nông
nghiệp:
- Công nghệ giúp cho quá trình sản xuất được diễn ra có hiệu quả. Nhờ
có nông nghiệp mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy
móc và thời tiết khí hậu kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp.
- Công nghệ là hướng tới tăng sản phẩm trong điều kiện nguồn lực
khan hiếm. Khi các tài nguyên khác như đất đai, lao động trở nên ngày một
khan hiếm, thì công nghệ có thể giúp cho con người sản xuất ra nhiều sản
phẩm hơn với số nguồn lực dùng vào sản xuất không đổi, thậm trí còn ít hơn.
- Công nghệ làm cho các đầu vào trong nông nghiệp ngày một đa dạng.
Không những công nghệ làm thay đổi bản chất giữa đầu vào và đầu ra mà
còn thay đổi bản chất của đầu vào hay tạo ra những đầu vào mới trong nông
nghiệp, góp phần tăng sản phẩm, giảm chi phí và bảo tồn môi trường. Công
nghệ được đổi mới làm cho sản xuất trở nên đa dạng và bền vững hơn.
- Công nghệ làm cho sản xuất có thu nhập cao hơn, có thời gian rảnh
rỗi dài hơn và do vậy góp phần làm tăng chất lượng cuộc sống của nông dân.
Sự thay đổi công nghệ là sự hoàn thiện về kiến thức hay kỹ thuật để