BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN VIỆT GIANG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP VIỆC LÀM CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở VÙNG ĐÔ THỊ HOÁ
THUỘC THÀNH PHỐ BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60 31 10
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Đỗ Kim Chung
HÀ NỘI - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử
dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi việc giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Bắc Ninh, tháng 10 năm 2011
TÁC GIẢ
Nguyễn Việt Giang
i
LỜI CẢM ƠN
*
Thông qua Luận văn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới
viện sau Đại học Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội, Tỉnh uỷ - HĐND -
UBND Tỉnh Bắc Ninh, Sở lao động, thương binh và xã hội Tỉnh, Thành uỷ -
HĐND - UBND Thành phố Bắc Ninh và các thày, cô giáo đã đào tạo giúp
đỡ, cung cấp tài liệu phối hợp hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu. Đặc biệt là giáo sư - tiến sĩ ĐỖ KIM CHUNG đã trực tiếp hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, viết và hoàn thiện luận văn.
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
A. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
B. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1. Mục tiêu chung 2
2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Câu hỏi nghiên cứu 3
C. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1. Đối tượng nghiên cứu 3
2. Phạm vi nghiên cứu 3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH
VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN VÙNG ĐÔ THỊ HOÁ 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1.1 Lao động nông thôn và đặc điểm của lao động nông thôn 4
1.1.2 Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa đến việc làm của lao động
nông thôn 12
1.1.3 Việc làm và một số lý thuyết hiện đại về giải quyết việc làm 22
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn trong quá trình đô thị hóa 25
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 33
1.2.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong quá trình đô thị hóa 33
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 37
1.3. MỘT SỐ BÀI HỌC RÚT RA TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 50
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 52
iv
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 52
2.1.1 Tổng quan thành phố Bắc Ninh 52
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 58
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 58
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 59
Phần III: KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Số TT SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU TRANG
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất thành phố Bắc Ninh năm 2010 53
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố Bắc Ninh 54
Bảng 2.3: Tỷ trọng cơ cấu kinh tế các ngành của Thành phố 54
Bảng 2.4: GDP bình quân đầu người (Theo giá cố định năm 1994) 55
Bảng 3.1: Tình hình dân số và nguồn lao động trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
trong năm 2007, 2008 , 2009;2010 64
Bảng 3.2: Cơ cấu lao động trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 66
Bảng 3.3: Kết quả giải quyết việc làm từ 2007-2010 70
Bảng 3.4: Phân tích lao động được giải quyết việc làm theo các lĩnh vực: 71
Bảng 3.4: Phõn tích lao động được giải quyết việc làm theo các lĩnh vực 72
Bảng 3.5: Kết quả công tác dạy nghề của thành phố được tổng hợp theo biểu dưới
đây 73
Bảng 3.6: Dự báo tình hình phát triển dân số và nguồn lao động từ 2010-2015 90
Bảng 3.7: Dự kiến cụ thể dân số và nguồn lao động từ 2010-2015 91
Bảng 3.8: Dự kiến cơ cấu lao động theo các ngành từ 2010-2015 91
Bảng 3.9: Kế hoạch giải quyết việc làm cho người lao động từ 2010-2015 93
Bảng 3.10: Mục tiêu kế hoạch đào tạo nghề từ năm 2010-2015 95
vii
PHẦN I: MỞ ĐẦU
A. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Giải quyết việc làm cho người lao động giúp họ ổn định đời sống đó là vấn
đề cốt yếu để đảm bảo sự phát triển vững chắc của bất kỳ một quốc gia, một chế
độ chính trị nào. Ở Việt Nam, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới kinh tế (từ
sau đại hội đảng lần thứ 6), cơ cấu lao động, vấn đề việc làm của người lao động
đó cú những thay đổi đáng kể: tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp giảm (do
Về mặt lý luận giúp làm rõ lý luận và quan điểm về giải quyết việc làm cho
người lao động tại các đô thị trong qỳa trỡnh đô thị hoá.
Về mặt thực tiễn đề tài sẽ góp phần đánh giá thực trạng lao động và việc
làm, những vấn đề đặt ra và phương hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách
nhằm giải quyết có hiệu quả tình hình thiếu việc làm trên địa bàn Thành phố
Bắc Ninh trong quá trình đô thị hoá rất nhanh như hiện nay.
Để làm rõ cho các vấn đề nêu trên tôi tiến hành thực hiện đề
tài:“Nghiờn cứu giải pháp việc làm cho lao động nông thôn ở vùng đô thị hoá
thuộc Thành phố Bắc Ninh ”.
B. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu giải pháp và đề xuất chính sách việc làm cho lao động nông
thôn ở vùng đô thị hóa thuộc Thành phố Bắc Ninh.
2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn ở vùng đô thị hóa.
- Đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn vùng đô thị hóa thuộc Thành phố Bắc Ninh.
2
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu và đề xuất chính sách việc làm cho lao
động nông thôn vùng đô thị hóa của địa phương.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn nào làm rõ vấn đề việc làm và giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn vùng đô thị hóa ?
- Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong
vùng đô thị hóa của địa phương ra sao?
- Giải pháp và chính sách nào nhằm nâng cao hiệu quả vấn đề giải quyết
việc làm cho lao động nông thôn thuộc vùng đô thị hóa thuộc Thành phố Bắc
Ninh?
C. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Lao động nông thôn là lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất kinh
doanh nông nghiệp. Hoạt động sản xuất kinh doanh của lao động nông thôn gán
liền với đối tượng cây trồng, vật nuôi có những đặc điểm rất riêng, không giống
với lao động ở các lĩnh vực khác. Có thể chỉ ra một số đặc điểm của lao động
nông thôn như sau (chủ yếu là của lao động nông thôn ở nước ta).
1.1.1.1 Cung lao động nông thôn mang tính chất tự có
Đây là đặc điểm cơ bản tạo nên sự không ăn khớp giữa cung lao động
nông thôn với cầu lao động nông thôn và cầu lao động cả nước. Đặc điểm này
xuất phát từ nhũng lý do sau đây:
- Cung lao động nông thôn chủ yếu là do dân số quyết định. Sinh đẻ cung
cấp lao động tương lai cho thị trường sức lao động không thuần túy là hành vi
sản xuất “hàng húa” theo nhu cầu của thị trường như những hàng hóa khỏc. Cỏc
nghiên cứu hiện nay về gia đình cho thấy, gia đình nông dân, nông thôn có ba
chức năng cơ bản
Thứ nhất, chức năng sinh đẻ để duy trì nòi giống
Thứ hai, chức năng làm kinh tế để tồn tại và phát triển
Thứ ba, chức năng nuôi dưỡng, giáo dục, đào tạo những người chưa đến
độ tuổi lao động và quá tuổi lao động.
4
Thực tiễn tăng dân số ở các nước trên thế giới và trong từng quốc gia cho
thấy, chức năng sinh đẻ duy trì nòi giống thường không vận động cùng chiều với
trình độ phát triển và hoàn cảnh của kinh tế. Hiện tượng phổ biến là: 1- Các nước
phát triển có tốc độ tăng dân số và lao động tăng tự nhiên thấp hơn các nước
đang phát triển và các nước nghèo; 2 – Trong mỗi quốc gia, bình quân số con đẻ
ra của một phụ nữ nông thôn trong độ tuổi sinh đẻ cao hơn ở thành thị và bình
quân số con của một phụ nữ chí thức thường thấp hơn cỏc nhúm xã hội khác. Ở
nước ta tình hình cũng diễn ra tương tự.
Như vậy, khác với sản xuất hàng hóa thông thường chủ yếu dựa vào nhu
cầu thị trường, còn hàng hóa sức lao động thì không hoàn toàn như vậy. Dưới
đây là so sánh những khác biệt giữa quá trình sản xuất hàng hóa thông thường
Gia đình, xã hội, người lao động.
Tính chủ động
trong sản xuất
Mức độ cao trong chủ
động lựa chọn mặt hàng
Chủ động tạo ra cơ cấu,
chủng loại theo nhu cầu
thị trường và lựa chọn
nguyên liệu, thiết bị, công
nghệ
Không chủ động được trong việc
lựa chọn giới tính. Nếu dùng khoa
học thuần túy sẽ dẫn đến nhiều
nguy cơ lâu dài cho xã hội
Người “sản xuất” không hoàn
toàn chu động trong quyết định
chất lượng sản phẩm
5
Như vậy, ngay từ đầu, nguồn cung lao động nông thôn đó cú sự không
tính toán từ cầu lao động,từ sự cân đối giữa lao động với các điều kiện để tạo
việc làm trong tương lai như vốn, tư liệu sản xuất, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu
việc làm của xã hội.
Lao động nông thôn là một bộ phận của dân số gắn liền với đặc điểm từng
gia đình, dân tộc, tụn giỏo… Là sản phẩm của dân cư nông thôn nên lao động
nông thôn có độ thuần nhất, đồng đều thấp hơn ở thành thị, thậm chí khác nhau
giữa các dân tộc trong một xã, một huyện. Dấu ấn mà mỗi lao động trưởng thành
từ cỏc vựng nông thôn mang nặng tính riêng biệt của vùng xuất cư và hàm chứa
nhiều mặt tích cực nhưng cũng có vô vàn hạn chế của từng làng, xã, dòng họ,
dân tộc, tôn giáo, gia đình.
1.1.1.2 Cầu lao động nông thôn có tính chất thời vụ
Thái lan là 0,66ha… - theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tư liệu của các nước
ASEAN). Năng suất lao động của lao động nông thôn thấp(năng suất lao động
nông nghiệp nông thôn của ta chỉ bằng 75.7% của Trung Quốc, 0.8% của Nhật
bản, 0.4% của Đan Mạch… - theo Báo cáo phát triển thế giới 2005, Nxb. Văn
hóa thông tin, Hà Nội, 2004, tr.374.), nên tình trạng thất nghiệp tam thời của lao
động nông thôn lớn, trở thành một vấn đề kinh tế - xã hội cấp thiết cần phải được
giải quyết. Nguyên thủ tướng chính phủ Phan Văn Khải đã khẳng định, nếu một
lao động nông nghiệp phải làm việc 250 ngày trong một năm thì lực lượng lao
động nông nghiệp bị dôi dư khoảng 9 đến 10 triệu lao động.
1.1.1.3 Chất lượng lao động nông nghiệp nông thôn thấp
Không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các quốc gia trên thế giới, chất lượng
nguồn lực lao động nông nghiệp, nông thôn đều thấp hơn ở thành thị. Mặc dù,
trong xếp hạng chỉ số phát triển con người(HDI), Việt Nam thường được xếp cao
hơn nhiều nước cùng thu nhập theo đầu người do thành công của phát triển giáo
dục – đào tạo, nhưng tổng thể - ngoài căn bệnh chạy theo thành tích, kê khai
không đúng sự thật thì chất lượng giáo dục – đào tạo của Việt Nam còn rất thấp.
7
Các kết quả nghiên cứu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, nhiều
cơ quan và cá nhân đều cho thấy chất lượng thấp kém của nguồn lực lao động
nông thôn. Sự thấp kém này không chỉ thể hiện ở trình độ tay nghề mà còn ở thể
chất, thái độ, thói quen lao động… Cá biệt, còn một bộ phận không nhỏ lao động
nông thôn thiếu ý thức vươn lên, ỷ lại vào nhà nước và cộng đồng, nặng về khai
thác tự nhiên. Kết quả nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam cho thấy
đang tồn tại một bộ phận nông dân được nhà nước và cộng đồng cấp đất nông
nghiệp, cho vay vốn, hướng dẫn làm ăn… nhưng không đủ bản lĩnh và ý chí
vươn lên.
Ở nước ta, kỹ năng phổ biến của lao động nông nghiệp, nông thôn là trồng
lương thực, trước hết là trồng lúa. Thuần nông, thuần trồng trọt diễn ra nhiều thế
kỷ nên kỹ năng của đa số lao động nông nghiệp nông thôn là canh tác trồng trọt.
Trong hoàn cảnh đó, đất đai là phương tiện sinh tồn gần như là duy nhất đối với
nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.
Như vậy nếu để quá trình trên tự thân vận động, “tự tìm đường đi” thỡ cỏc
xu hướng trên vận động sẽ rất chậm. Vấn đề là làm thế nào để nhà nước, cộng
đồng và dân cư nông thôn chủ động thúc đẩy các xu hướng đó tiến nhanh, hợp
quy luật mà không gây hậu quả xấu.
Việc di chuyển đất đai của nông dân này cho nông dân khác để đảm bảo
quy mô bình quân đất đai cho một đơn vị kinh doanh nông nghiệp là yêu cầu
bức thiết. Tuy vậy việc làm này chỉ có hiệu quả kinh tế - xã hội tốt nếu thực
hiện tốt các việc sau đây: 1 – tạo việc làm phi nông nghiệp để những hộ nông
dân chuyển sang phi nông nghiệp có nhiều việc làm, thu nhập cao hơn và ổn
định hơn khi làm nông nghiệp; 2 – Nâng cao chất lượng nguồn lao động nông
nghiệp nông thôn nước ta không những có thể tự tạo việc làm phi nông nghiệp
tại nông thôn hoặc đủ năng lực để tham gia vào thị trường sức lao động ở thành
thị hoặc xuất khẩu.
9
1.1.1.4 Lao động nông nghiệp nông thôn hoạt động ở quy mô hộ gia đình
Sự phân công lao động trong gia đình nông dân chưa thật rạch ròi. Hiện
tượng lao động gia đình nông dân vừa làm nông nghiệp vừa làm công nghiệp
dịch vụ là hiện tượng mang tính phổ biến. Trong các gia đình nông dân, hiện
tượng buổi sáng làm nông nghiệp, buổi chiều làm công việc phi nông nghiệp
hoặc những lúc nông nhàn thì đi làm thuê ở thành thị, làm thuê cho các chủ trang
trại, chủ làng nghề, v.v…
Tính chất gia đình của lao động không chỉ thể hiện trong khi thực hiện
quá trình lao động mà còn ở phân phối kết quả, thụ hưởng lợi ích. Ở đây, hình
thành những nguyên tắc gia đình rất linh hoạt trong phân công lao động và thụ
hưởng kết quả. Nếu đưa những nguyên tắc thói quen gia đình của nông dân vào
các hoạt động kinh tế - xã hội khác sẽ không thành công. Tính chất gia đình của
lao động nông nghiệp, nông thôn vừa tạo thuận lợi cho sự bền vững của kinh tế
tiểu nông, sự bền vững của gia đình nhưng vừa gây khó khăn cho sự hòa nhập
của lao động nông nghiệp, nông thôn vào thị trường sức lao động đòi hỏi tính
- Việc thực hiện một số chính sách Nhà nước đã làm giảm cơ hội tự tạo ra
việc làm của lao động nông nghiệp, nông thôn.
+ Các giải pháp nâng cao chất lượng nông sản, phát triển công nghiệp chế
biến, ứng phó với nông sản thường xuyên thay đổi chưa hữu hiệu. Do đó, một số
bộ phận nông dân tổn thất nguồn lực, giảm cơ hội tự tạo việc làm của dân cư
nông thôn.
+ Phân bổ nguồn lực đất đai chưa hợp lý và nhiều thiếu sót trong chính
sách đất đai đã làm giảm nguồn lực và cơ hội tạo việc làm cho dân cư nông thôn.
Ví dụ, điều tra 4 tỉnh ở Tõy Nguyờn cho thấy, năm 2002, ở 3 tỉnh Tõy Nguyờn
được điều tra, số lao động nông nghiệp khu vực nhà nước chỉ chiếm 10 – 13%
tổng số lao động nông nghiệp trên địa bàn nhưng được giao sử dụng 60 – 70%
quỹ đất đai các loại. Hộ gia đình nông dân chiếm gần 90% lao động nhưng chỉ
được giao 30 - 40% đất đai các loại. Thậm chí các lâm trường ở Tõy Nguyờn
chiếm 4.8% lao động nhưng lại giao quản lý 64.5% đất lâm nghiệp của vùng.
11
+ Giá cả nhiều loại đầu vào thời gian dài biến động thường xuyên. Ví dụ
giá phân hóa học năm 2005 tăng 2 lần so với năm 2003. Trong 2 năm 2004 –
2005, giá xăng dầu tăng 7 lần. Chi phí sắt thép xăng, dầu, phân bón có thời kỳ
tăng đột biến… làm giảm lợi nhuận tớch lũy của nông dân. Ví dụ, riêng chi phí
xăng dầu tăng đã làm cho giá xay sát, vận chuyển 1 tấn gạo từ 120 ngàn đồng lên
150 ngàn đồng.
+ Thiên tai dịch bệnh xảy ra thường xuyên với mật độ và cường độ ngày
càng gia tăng. Ví dụ, năm 2006, thiên tai đã gây thiệt hại cho nền kinh tế nước ta
trên 18 ngàn tỷ đồng. Năm 2007, lũ lụt, bóo, ỳng, lũ quột đó gây thiệt hại trên
7,8 ngàn tỷ đồng. Trong đó, một phần tổn thất không nhỏ thuộc về nông nghiệp,
nông thôn mà nông dân phải gánh chịu. Năm 2004, bệnh vàng lụi, xoắn lỏ gõy
tổn thất cho 500 ngàn ha lúa ở đồng bằng sông Cửu Long làm tổn thất thu nhập
của gần 500 ngàn hộ nông dân. Hoặc năm 2003 đầu năm 2004, dịch cúm gia cầm
đã làm chết, hoặc thiêu hủy cộng với giá hạ trong tiêu thụ đã làm thiệt hại của
các hộ nuôi gia cầm cả nước khoảng 1800 tỷ đồng.
Hai là, tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp, hay công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong quá trình đô thị hóa có sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế từ dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp, thương
mại và dịch vụ;
Ba là, đô thị hóa là quá trình hình thành, nâng cấp và mở rộng quy mô đô thị
với cơ sở hạ tầng hiện đại;
Bốn là, các làn sóng di cư từ nông thôn đến đô thị làm tăng nhanh quy mô
dân số đô thị, tạo sự chuyển dịch từ lối sống phân tán, mật đọ dân số thưa thớt
sang lối sống tập trung, mật độ dân số cao. Điều đó dẫn đến sự bố trí lại dân cư,
thay đổi cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội;
Năm là, không gian đô thị ngày càng mở rộng, cùng với nó là sự thu hẹp đất
nông nghiệp để phát triển các khu đô thị mới, khu công nghiệp, thương mại, dịch
vụ, du lịch;
13
Sáu là, tốc độ và quy mô hội tụ kinh tế đô thị ngày càng gia tăng, thể hiện ở
sự gia tăng của quy mô và tốc độ thu hút vốn, gia tăng số lượng và quy mô các
đơn vị kinh tế;
Bảy là, chuyển từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị, từ văn hóa làng xã
sang văn hóa đô thị, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp;
Tám là, cùng với quá trình đô thị hóa là sự thay đổi về cơ chế, chính sách
phát triển và quản lý đô thị.
Ngoài những đặc trưng chung nêu trên, đô thị hóa của Việt Nam cũn cú đặc
trưng riêng gắn liền với đặc điểm của nước nông nghiệp truyền thống, đó là đô
thị hóa có tính chất điển hình. Tính chất này có nguồn gốc từ sự tồn tại đan xen,
hòa trộn giữa nông thôn và thành thị ở mọi phương diện, từ không gian địa lý, cơ
sở hạ tầng, dân cư, tôn giáo, văn hóa cho đến các hoạt động kinh tế. Làng trong
phố, phường, cư dân nông thôn hoạt động nông nghiệp với nếp sống làng, xã
truyền thống vẫn còn đang hiện hữu ngay trong lòng hầu hết các đô thị ở Việt
Nam.
- Mức độ đô thị hóa gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
triển công nghiệp. Hiện tượng bùng nổ dân số bên cạnh sự phát triển yếu kém
của công nghiệp đã làm cho quá trình đô thị hóa và công nghiệp mất cân đối, sự
mâu thuẫn giữa đô thị và nông thôn tăng lên. Sự chênh lệch đú đó thúc đẩy sự
dịch chuyển dân cư nông thôn ra đô thị một cách ồ ạt, không kiểm soát được,
gây rất nhiều hậu quả nặng nề, trong đó có vấn đề việc làm, thất nghiệp.
1.1.2.2 Tác động của đô thị hóa đến việc làm của lao động nông nghiệp, nông thôn
- Tác động của đô thị hóa đến việc làm.
+ Đô thị hóa tạo nhiều việc làm mới.
* Đụ thị húa tạo nhiều việc làm mới trong các lĩnh vực công nghiệp, xây
dựng, thương mại và dịch vụ. Để tiến hành đô thị hóa đòi hỏi phải thúc đẩy xây
dựng, cải tạo, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật với việc hình thành các khu công
nghiệp, khu du lịch, khu thương mại, khu đô thị mới ngày càng hiện đại. Cơ sở
15
kỹ thuật hiện đại sẽ kích thích gia tăng hội tụ các nguồn lực đầu tư cho sản xuất
thúc đẩy hoạt động kinh tế phi nông nghiệp diễn ra ngày càng sôi động, đa dạng
hóa và phát triển các ngành nghề công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch
vụ…,đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, đô thị
hóa từ đó tạo nhiều việc làm mới trong công nghiệp, xây dựng, thương mại và
dịch vụ.
* Đô thị hóa tạo nhiều việc làm trong khu vực không chính thức. Đô thị hóa
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập và mức sống của cư dân đô thị,
làm nảy sinh các nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần. Để đáp ứng nhu
cầu đó đòi hỏi sản xuất và dịch vụ phải dược mở rộng, kéo theo sự phát triển đa
dạng các ngành nghề, tạo nhiều việc làm mới. Trong đó, đáng chú ý là sự hình
thành và phát triển một cách tự phát từ khu vực kinh tế không chính thức với
những hoạt động kinh tế quy mô nhỏ, không đăng ký, không đòi hỏi chuyên môn
kỹ thuật như bán hàng rong, các dịch vụ, buôn bán nhỏ tại nhà, trên vỉa hè, giúp
việc gia đình, lao động tự do… Sự phát triển của khu vực kinh tế không chính
thức tạo ra nhiều việc làm tạm thời, góp phần giải quyết việc làm cho một lực
lượng lao động không nhỏ, không có tay nghề, lao động nhập cư, lao động nông
khai thác tối ưu như: chi phí giao dịch thấp, giao thông vận tải thuận lợi, cơ sở
hạ tầng hiện đại, nguồn vốn đầu tư cho cho sản xuất phi nông nghiệp hội tụ ngày
càng nhiều, thông tin, tiến bộ khoa học kỹ thuật…Ở khía cạnh khác, việc tiến
hành thực hiện những nội dung để đẩy mạnh đô thị hóa như quy hoạch mở rộng
không gian đô thị, cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp,
đường sá, xây dựng các khu thương mại, dịch vụ tập trung, thực hiện thay thế lao
động thủ công bằng cơ khí, tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
phát triển tự động hóa nhiều lĩnh vực, ngành nghề… cũng là tác nhân làm thay
đổi cơ cấu việc làm.
+ Đô thị hóa làm tăng khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm của
người lao động.
* Do trình độ người lao động tăng lên.
17