LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay chúng ta đang nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động của chính
quyền địa phương nhằm bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính
quyền địa phương, tổ chức hợp lý các cấp chính quyền địa phương, tăng cường
hiệu lực quản lý nhà nước ở địa phương trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Thuật ngữ “Chính quyền địa phương” thường được hiểu là những đơn vị
của chính quyền trực tiếp cung cấp dịch vụ cho công dân tại cấp trung gian thấp
và thấp nhất. Tại một số nước trên thế giới, các đơn vị chính quyền địa phương
đã có quyền tự trị từ rất lâu trước khi các quốc gia đó được thành lập với cơ cấu
tổ chức chính quyền như hiện nay và do đó, không cần sự phân cấp thấm quyền
từ cấp chính quyền cao hơn cho các đơn vị này. Tại một số nước có cơ cấu nhà
nước đơn nhất, chính quyền địa phương thi hành quyền lực của mình theo
nguyên tắc quyền lực của chính quyền cấp dưới do chính quyền Trung ương trực
tiếp ủy nhiệm, và cấp trung ương có thế bãi bỏ việc ủy nhiệm đó. Tại một số
nước thuộc hệ thống đơn nhất khác, chính quyền địa phương hoạt động theo
nguyên tắc thẩm quyền chung, và trên nguyên tắc được phép thực thi những
thẩm quyền không thuộc chính quyền Trung ương.
Khác với chế độ tự quản địa phương của một số nước, chính quyền địa
phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước
thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân
địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ
sở các cơ quan quyền lực nhà nước này theo quy định của pháp luật nhằm quản
lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập
trung dân chủ và kết hợp hài hoà giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích
chung của cả nước.
Với nội dung tiểu luận, tôi mong muốn góp phần làm rõ hơn về cơ cấu
chính quyền địa phương tại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động của chính quyền địa phương Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
theo xu hướng chung và phù hợp với Hiến pháp 2013.
2
cập tới việc kiện toàn củng cố Hội đồng nhân dân và Ưỷ ban nhân dân các cấp
và hướng cải cách tố chức và hoạt động của hai cơ quan này mà không đề cập
tới các cơ quan nhà nước khác trong hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa
phương. Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp 2013 thì chính quyền địa
phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn
vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định và căn cứ Luật Tố chức Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 chính quyền địa phương được tổ chức ở
ba cấp tương ứng đối với các đơn vị hành chính sau đây:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);
- Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);
- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện
cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa
phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà
nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật
định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực
hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng
cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành
chính nhà nước cấp trên. Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và
4
pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và
thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.
Ngoài ra, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo
tình hình của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân
dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền
và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt
quan nhà nước ở cấp huyện như Chi cục Thuế, Chi cục Thống kê, Huyện đội,
Công an huyện, v.v không phải là cơ quan của chính quyền địa phương cấp
huyện mà là cơ quan của chính quyền Trung ương đặt tại huyện (đóng trên địa
bàn huyện).
3. Cấp tỉnh
Đây là chính quyền của các địa phương cấp tỉnh và thành phố trực thuộc
Trung ương, Ủy ban nhân dân có từ 11 đến 17 thành viên, gồm Chủ tịch, các
Phó Chủ tịch, 1 ủy viên thư ký và các ủy viên khác. Thường trực ủy ban Nhân
dân cấp tỉnh gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, và ủy viên thư ký. Người đứng
đầu chính quyền địa phương cấp tỉnh là Chủ tịch úy ban Nhân dân. Trên danh
nghĩa, vị trí này do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định bằng bầu cử theo hình
thức bỏ phiếu. Giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là các Sở, ngành tỉnh.
III. VAI TRÒ VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHÍNH QUYÈN ĐỊA
PHƯƠNG VIỆT NAM
1. Vai trò
Chính quyền địa phương ở Việt Nam có vai trò hai mặt. Một mặt, với tư
cách là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, chính quyền địa
phương thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trên
6
lãnh thố địa phương trong cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhất trên lãnh thổ
Việt Nam. Mặt khác, chính quyền địa phương lại là cơ quan do nhân dân địa
phương lập ra (trực tiếp và gián tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương
nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định của
Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Vai trò như vậy
của chính quyền địa phương được thể hiện tập trung về nguyên tắc tập trung dân
chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, của bộ máy nhà nước
nói chung. Trong đó, tập trung thống nhất là yếu tố có tính chủ đạo. Tư tưởng cơ
bản trong tố chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc đó là vừa bảo đảm sự
tập trung thống nhất, vừa phát huy vai trò chủ động tích cực của địa phương.
2. Mô hình:
xuất kinh doanh, tách dần hoạt động hành chính với hoạt động các đơn vị kinh
tế, sự nghiệp và dịch vụ công.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhìn chung được nâng lên một
bước về trình độ lý luận chính trị, học vấn ,chuyên môn nghiệp vụ. Đa số cán bộ
công chức giữ gìn phẩm chất chính trị và đạo đức, lối sống, thích ứng dần với cơ
chế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Những tiến bộ đó đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước của dân, do dân và
vì dân.
2. Một số tồn tại trong tổ chức, hoạt động của chính quyền địa
phưoug Việt Nam
Mô hình tổ chức bộ máy, hệ thống luật pháp chưa phân định thật rõ chính
quyền đô thị và chính quyền nông thôn, chưa phản ánh hết đặc điểm của chính
8
quyền đô thị, nhất là các đô thị lớn, kinh tế - văn hoá – xã hội phát triển nhanh.
Việc xác định chức năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và chức năng quản lý nhà nước, quản lý của chủ sở hữu của
các bộ, các địa phương còn nhận thức khác nhau, có nhiều sơ hở, hiệu quả thấp.
Mục tiêu tinh giản biên chế chưa đạt yêu cầu, biên chế một số bộ máy vẫn
có xu hướng tăng lên nhưng chất lượng cán bộ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu.
Việc đào tạo theo chức danh cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế; cơ cấu và
chất lượng cán bộ, công chức còn bất cập. Một bộ phận cán bộ, công chức yếu
kém về tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân.
Thực hiện chủ trương phát huy dân chủ, đẩy mạnh phân cấp cho các cấp
chính quyền địa phương, các văn bản pháp luật liên quan đến chính quyền địa
phương được ban hành những năm vừa qua đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn
của cơ quan chính quyền địa phương ở mỗi cấp.
Những giải pháp cụ thể của Luật như tăng cường cơ cấu tổ chức của
HĐND hay giảm số thành viên của UBND cấp xã, tăng cường chức năng giám
sát của HĐND hay tăng cường nguyên tắc tập thể trong hoạt động của UBND
tăng cường kiểm tra, giám sát của trung ương, với việc đề cao trách nhiệm của
người đứng đầu các cấp chính quyền địa phương.
- Cần có sự phân biệt Chính quyền địa phương giữa các vùng lãnh thổ,
nghiên cứu và giải quyết dứt điểm mô hình tổ chức chính quyền ở địa bàn nông
thôn và đô thị, chứ không thể tổ chức như nhau trong khi giữa hai địa bàn này có
nhiều khác nhau về điều kiện kinh tế, địa lý, dân cư, kết cấu hạ tầng, nhất là
thành phố trực thuộc trung ương còn có vị trí, vai trò của một trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hoá, khoa học v.v , có ảnh hưởng đối với cả một vùng, cũng như
10
đối với cả nước. Mạnh dạn phân cấp, phát huy vai trò quyết định và khả năng
chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, nguồn lực, ngân sách, biên
chế cho chính quyền địa phương; giao đủ thẩm quyền và tạo cơ chế bảo đảm
thực quyền của HĐND các cấp nhưng đồng thời tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát;
- Việc phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ ở nước ta những năm vừa qua
chưa được giải quyết thoả đáng về lý luận và thực tế. Vì thế nên mới có chuyện
khi thì ồ ạt sáp nhập tỉnh (năm 1980 cả nước có 36 tỉnh, ba thành phố trực thuộc
trung ương và một đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo) để rồi sau đó lần lượt chia tách
tỉnh trả lại gần như trước khi nhập tỉnh. Việc xác định vị trí, tính chất và vai trò
của từng loại đơn vị hành chính cũng là vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa quyết
định trong việc tổ chức hợp lý các cấp chính quyền địa phương. Cuối những
năm 1970 đến giữa những năm 1980 chúng ta đã có chủ trương không đúng khi
xác định huyện là địa bàn chiến lược nên đã ban hành một loạt văn bản về xây
dựng huyện và tăng cường cấp huyện, trong khi đơn vị hành chính này một thời
gian dài chỉ là “cấp trung gian”. Do không xác định đúng các đơn vị hành chính
nên chúng ta không giải quyết được vấn đề tổ chức mấy cấp chính quyền ở tỉnh,
mấy cấp ở thành phố, cấp nào có Hội đồng nhân dân, còn cấp nào chỉ có Ủy ban
nhân dân. Đây là vấn đề được thảo luận nhiều từ khi soạn thảo Hiến pháp 1992
đến nay vẫn chưa giải quyết xong, tương tự Hiến pháp 1992 thì Hiến pháp 2013
không quy định về vấn đề rất quan trọng này mà dành cho Luật quy định.
khiếu nại tố cáo và kiến nghị của công dân đối với các hoạt động của các cơ
quan, các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước là những điều kiện căn bản để
đảm bảo tính dân chủ của các hoạt động quản lý nhà nước. Từ đó có thể thấy
rằng, mặc dù trong lĩnh vực hành pháp, yếu tố tập trung luôn được quán triệt và
chi phối tất cả các hoạt động, nhưng không vì thế mà mất đi cơ sở dân chủ của
nó, một khi nó được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của chính đông đảo chúng
12
thông qua lăng kính “công khai”. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền trong
điều kiện cụ thể của nước ta không còn thuần tuý là công việc lý luận mà đã và
đang trở thành các công việc thực tiễn. Mô hình nhà nước ấy đang đòi hỏi phải
cải cách một cách căn bản các thiết chế quyền lực của Nhà nước trên tất cả các
phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Điều căn bản là các biện pháp,
phương hướng cải cách ấy phải được tiến hành đồng bộ, đảm bảo tính hài hoà,
phù hợp với nhau giữa các loại cơ quan trong bộ máy nhà nước thống nhất, đảm
bảo xây dựng một nền hành chính phù hợp với tình hình mới của đất nước hiện
nay và cho tương lai.
13
KẾT LUẬN
Hệ thống Chính quyền địa phương có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng
trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước. Trong nhiều năm qua, vấn đề đổi mới tổ
chức và phương thức hoạt động của Chính quyền địa phương đã được Đảng và
Nhà nước ta quan tâm, một số chủ trương lớn đã được đặt ra và tổ chức thực
hiện như: chủ trương cải cách hành chính đối với các nội dung: thể chế; bộ máy;
thủ tục hành chính; đội ngũ cán bộ, công chức; hiện đại hóa nền hành chính, tài
chính công); phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương trên một số lĩnh vực;
thí điểm không tố chức HĐND huyện, quận, phường đã đạt một số kết quả
nhất định, tuy nhiên việc tiếp tục nghiên cứu đổi mới mô hình tổ chức và
phương thức hoạt động của Chính quyền địa phương để nâng cao hiệu lực, hiệu
quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội
là luôn cần thiết, để tiếp tục đưa ra phương hướng, giải pháp hợp lý cho chính
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
16
MỤC LỤC 16
16