Luận văn tốt nghiệp 1 Đại học Thương mại
Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ B2B
1.1Tính cấp thiết của đề tài
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động
kinh doanh thương mại của các tổ chức, cá nhân và sự phát triển kinh tế xã hội của
các nước. Thương mại điện tử (TMĐT) ra đời từ cái nôi công nghệ đã nhanh chóng
khẳng định được vị thế quan trọng (đại diện cho nền kinh tế tri thức) và những ưu
thế vượt trội của mình so với phương thức kinh doanh truyền thống trong nền kinh
tế toàn cầu.
Thương mại điện tử B2B (Business to business) mang lại cơ hội mới cho các
doanh nghiệp: mở rộng thị trường, giảm chi phí giao dịch, cải thiện hệ thống phân
phối, tăng doanh số, chăm sóc khách hàng tốt hơn Đồng thời với các cơ hội đó
cũng là những thách thức: cạnh tranh sẽ tăng cao, thiếu nhân lực có đủ trình độ để
phát triển nhất là ở các nước đang phát triển….Vậy làm thế nào để nắm bắt được
các cơ hội, vượt qua những thách thức trong quá trình nền kinh tế Việt Nam ngày
càng hội nhập cả về chiều sâu và chiều rộng với nền kinh tế thế giới? Nâng cao
năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kì hội nhập là một
vấn đề sống còn. Làm thế nào để doanh nghiệp nhỏ tìm được chỗ đứng trên thị
trường để có thể tồn tại và phát triển trong thời kì cạnh tranh gay gắt với các tập
đoàn lớn trong nước và Quốc tế? Hơn nữa, với tình hình nền kinh tế đang bị khủng
hoảng hiện nay, việc giảm tối thiểu chi phí là vấn đề cấp thiết đặt ra cho các doanh
nghiệp. Chính vì vậy, ứng dụng Thương mại điện tử B2B (Business to Business)
vào các hoạt động giao dịch mua bán hàng hóa, kiểm soát, tìm kiếm khách hàng,
tìm kiếm nhà cung ứng tiềm năng để tối đa hóa hiệu quả công việc, tiết kiệm thời
gian và giảm chi phí là một hướng đi đúng đắn và cần thiết đối với các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay.
Nhớ lại cuộc khủng hoảng dotcom vào năm 2001, khi đó sự suy sụp của các
dotcom chỉ là một phần nhỏ của toàn bộ nền kinh tế Internet, chỉ những kiểu mẫu
bán lẻ qua mạng B2C (Business to Consumer - kinh doanh hướng đến tiêu dùng)
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Luận văn tốt nghiệp 3 Đại học Thương mại
được những thành công nhất định, góp phần hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam
trong công cuộc hội nhập với kinh tế Thế giới.
Công ty dệt may Hoàng Dũng là một Công ty chuyên sản xuất, bán buôn với
số lượng lớn đa dạng các chủng loại vải phục vụ may xuất khẩu thời trang, các loại
vải phục vụ may đồng phục học sinh, văn phòng cũng như các ngành công nghiệp
nhẹ từ dạng mộc cho đến hoàn tất. Các sản phẩm đều được cung cấp tới các Công ty
khác với số lượng hàng hóa lớn rồi mới tới tay người tiêu dùng. Trang web của
Công ty đã thành lập được gần hai năm, tuy nhiên, vẫn chưa khai thác được tối đa
hiệu quả và lợi ích mà website cũng như internet mang lại.
Qua thời gian học tập và rèn luyện tại khoa Thương mại điện tử trường Đại
học Thương mại. Đồng thời được tiếp cận với thực tiễn sinh động của hoạt động
kinh doanh tại Công ty Dệt may Hoàng Dũng. Em nhận thấy rằng, việc sử dụng
trang web của Công ty để có thể thực hiện trao đổi và bán sản phẩm của Công ty
cho các đối tác khác là một vấn đề vô cùng cần thiết giúp cho Công ty có thể giảm
thiểu tối đa chi phí bán hàng và tăng doanh thu.
Xuất phát từ những lý do trên, Em đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài:
“Hoàn thiện mô hình bán hàng B2B qua Website của Công ty Dệt may Hoàng
Dũng – www.detmayhoangdung.com.vn”
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các cơ sở lý luận về thương mại điện tử B2B và mô hình bán
hàng B2B qua website.
Hoàn thiện mô hình bán hàng B2B của Công ty TNHH Dệt may Hoàng
Dũng qua website www.detmayhoangdung.com.vn.
Đưa ra một số kiến nghị giúp Công ty có thể phát huy được tối đa kênh bán
hàng trực tuyến B2B qua website. Từ đó làm giảm chi phí bán hàng đồng thời gia
tăng doanh thu cũng như lợi nhuận cho Công ty Hoàng Dũng.
2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1 Khái niệm Thương mại điện tử
Để hiểu về Thương mại điện tử B2B trước hết ta cần phải hiểu rõ thế nào là
Thương mại điện tử. Trên thế giới hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về TMĐT
theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Trong luật mẫu về TMĐT của Ủy ban Liên hợp quốc
về Luật Thương mại quốc tế (UNICITRAL), thương mại điện tử có nghĩa là việc
trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in
ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch.
2.1.2 Khái niệm TMĐT B2B
Thương mại điện tử B2B là giao dịch thương mại (trao đổi tiền lấy hàng hóa
hoặc dịch vụ) được tiến hành giữa hai DN bất kỳ thông qua mạng Internet, các
mạng truyền thông và các phương tiện điện tử khác.
(1)
2.1.3 Khái niệm bán hàng qua Website
Bán hàng B2B qua website là việc doanh nghiệp tận dụng lợi
thế truyền thông tin của Internet để thực hiện các tác nghiệp như:
xử lý đơn hàng, thực hiện đơn hàng, xử lý việc thanh toán, và các
dịch vụ sau bán. Đồng thời đưa thông tin sản phẩm dịch vụ lên
trang web giúp cho các khách hàng là doanh nghiệp tìm kiếm
thông tin, thuận tiện cho việc lựa chọn và đặt mua hàng hóa.
2.1.4 Khái niệm mô hình kinh doanh
Mô hình kinh doanh là cách bố trí, sắp xếp các sản phẩm, dịch vụ và các
dòng thông tin, bao gồm việc mô tả các yếu tố của quá trình kinh doanh và vai trò
của nó đối với kinh doanh; đồng thời mô tả các nguồn doanh thu, khả năng thu lợi
nhuận từ mỗi mô hình kinh doanh đó.
(2)
(1)
Bài giảng môn Quản trị tác nghiệp TMĐT B2B – PGS.TS Nguyễn Văn Minh.
(2)
Trong bối cảnh cạnh tranh như vậy quyền quyết định thuộc về người mua và khách
hàng “lên ngôi thượng đế”. Trong hoạt động bán hàng B2B nhân viên bán hàng
phải coi khách hàng mang lại việc làm, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, là
người mà DN phải phụ thuộc vào, càng không phải để tranh cãi. Đặc điểm này đòi
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Luận văn tốt nghiệp 7 Đại học Thương mại
hỏi doanh nghiệp phải coi trọng khách hàng, lấy nhu cầu của khách hàng làm cơ sở
tính toán kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2.2.2. Khách hàng chỉ quan tâm tới hàng hóa có chất lượng cao, giá cả
phải chăng và được mua bán một cách thuận tiện
Để thu hút khách hàng các doanh nghiệp bán hàng B2B phải sử dụng các
công cụ để cạnh tranh giành giật khách hàng. Các công cụ đó có thể là:
Cạnh tranh về chất lượng hàng hóa
Cạnh tranh giá cả
Dịch vụ phục vụ khách hàng
Nhãn hiệu hàng hóa
Quảng cáo trực tuyến
2.2.2.3. Khách hàng là người mua đòi hỏi người bán hàng phải quan tâm
đến lợi ích của mình
Do khách hàng có vai trò quyết định trong mua bán nên họ có quyền lựa
chọn cân nhắc trước khi đưa ra quyết định mua. Cơ sở đưa ra quyết định mua hoặc
không là lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của khách hàng. Khách hàng sẽ cân đo,
một bên là số tiền phải bỏ ra với bên kia là những thứ khách hàng nhận được: số
lượng, chất lượng hàng hóa, kiểu dáng, độ an toàn, độ tin cậy, sự tiết kiệm trong sử
dụng…Lợi ích tinh thần của khách hàng là sự đồng cảm, quan tâm lo lắng của
người bán đối với người mua, cao nhất là sự tín nhiệm trong kinh doanh.
2.2.2.4. Nhu cầu thị hiếu của khách hàng luôn thay đổi
Trong thời kỳ khoa học công nghệ và kỹ thuật thay đổi như vũ bão, nhiều
thương mại điện tử B2B, bao gồm: một số vấn đề chung về TMĐT B2B, kế hoạch
tác nghiệp trong TMĐT B2B, quản trị bán hàng trong TMĐT B2B, quản trị nguồn
nhân lực trong TMĐT B2B và theo dõi, kiểm soát, đánh giá hiệu quả kinh doanh
của TMĐT B2B.
b. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của PGS.TS Nguyễn Văn Minh: “Giải
pháp đẩy mạnh ứng dụng trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) cho các doanh nghiệp Việt
Nam”. Đề tài này đã cho chúng ta hiểu rõ hơn về thế nào là trao đổi dữ liệu điện tử
giữa các doanh nghiệp, thực trạng về tình hình ứng dụng trao đổi dữ liệu điện tử
(EDI) tại Việt Nam hiện nay. Tác giả cũng đưa ra các giải pháp giúp doanh nghiệp
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Luận văn tốt nghiệp 9 Đại học Thương mại
có thể ứng dụng một các hiệu quả nhất để có thể trao đổi dữ liệu điện tử với các
doanh nghiệp khác. Đề tài cũng cho thấy được tình hình ứng dụng hải quan điện tử
đã được triển khai tại Việt Nam, tạo thuận lợi cho các DN xuất nhập khẩu, và đây
cũng chính là nền tảng cho sự phát triển TMĐT B2B tại Việt Nam.
c. Bài viết với nhan đề “Giao dịch B2B trong thương mại điện tử” của
TS.Nguyễn Quốc Thịnh trong Kỷ yếu hội thảo khoa học “TMĐT với đổi mới và
phát triển đào tạo kinh tế, quản trị kinh doanh của các trường ĐH nước ta” đã cho
ta có được cái nhìn tổng quan về giao dịch B2B với những thuận lợi và khó khăn.
Và cả sự khác biệt của giao dịch B2B truyền thống với giao dịch trong TMĐT.
Ngoài ra, bài viết cũng cho ta thấy được thủ tục hải quan qua mạng và giao nhận
hàng hóa tại Việt Nam hiện nay đã được triển khai và được đánh giá là khá tốt. Đã
tạo nền tảng cho hoạt động xuất khẩu trong B2B được tiến hành thuận tiện hơn.
d. Đề tài luận văn “Một số vấn đề ứng dụng TMĐT trong hoạt động xúc tiến
xuất khẩu sản phẩm dệt may Việt Nam” của sinh viên Thái Thu Hương K35F1
trường Đại học Thương mại cũng đã khẳng định được tầm quan trọng của TMĐT
đặc biệt là TMĐT B2B đối với việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm dệt may Việt
Nam. Các cơ hội và thách thức đối với các DN dệt may cũng đã được tác giả phân
bán hoặc thông qua một đối tác kinh doanh trực tuyến thứ ba. Đối tác trung gian
này có thể là tổ chức, cá nhân hoặc một hệ thống điện tử.
Khách hàng trong TMĐT B2B không phải là cá nhân mà họ là các doanh
nghiệp, và thường giao dịch với khối lượng hàng hóa lớn, giá trị cao.
B2B truyền thống giao dịch thông tin dựa vào điện thoại, máy fax trong khi
thương mại điện tử B2B được thực hiện thông qua mạng điện tử, thông thường là
Internet. Sự ra đời của TMĐT B2B có thể giúp giảm bớt trung gian như: nhà phân
phối, nhà bản lẻ. TMĐT B2B có hai loại giao dịch cơ bản: mua hàng ngay lập tức
(Spot buying) và mua hàng chiến lược (Strategic sourcing).
Khối lượng hàng hóa giao dịch trong B2B thường rất lớn, giá trị cao, tuy
nhiên tần xuất đặt hàng thì lại không nhiều.
2.4.2 Các lợi ích và cơ sở hạ tầng chính cho bán hàng B2B
2.4.2.1 Các lợi ích của bán hàng B2B trong TMĐT
a. Lợi ích đối với doanh nghiệp bán
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Luận văn tốt nghiệp 11 Đại học Thương mại
Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại
truyền thống, các Công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung
cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới.
Giảm chi phí sản xuất: Giảm chi phí giấy tờ, giảm chi phí chia sẻ thông tin,
chi phí in ấn, gửi văn bản truyền thống. Đồng thời có thể giảm mức dự trữ và chi
phí liên quan dự trữ, từ đó có thể hạ giá thành sản phẩm.
Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong
phân phối hàng. Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ
bởi các cửa hàng (showroom) trên mạng.
Sản xuất hàng theo yêu cầu: Còn được biết đến dưới tên gọi “Chiến lược
kéo”, lôi kéo khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi nhu cầu
của khách hàng.
nguồn thu cho Nhà nước.
Gia tăng công ăn việc làm cho người lao động khi doanh nghiệp hoạt động
hiệu quả và mở rộng quy mô nhờ áp dụng thương mại điện tử B2B.
2.4.2.2 Cơ sở hạ tầng chính cho bán hàng B2B
Để triển khai B2B, DN trước hết cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin (CNTT) bằng cách tin học hoá các quy trình kinh doanh, quy trình quản lý, quản
trị trong nội bộ DN. Và tiến xa hơn là xây dựng các cơ sở dữ liệu nội bộ, tích hợp
các quy trình để hỗ trợ việc ra quyết định kinh doanh, kết nối với các đối tác.
Sau đây là một số yêu cầu về cơ sở hạ tầng để triển khai B2B:
Mạng truyền thông & giao thức.
Phần mềm cho việc thực hiện các hoạt động bên bán, bên mua, PRM.
Hậu cần - vận tải, nhà kho và phân phối.
Các phần mềm liên quan khác: phần mềm quản trị quan hệ khách hàng, phần
mềm quản trị nguồn cung ứng, phần mềm quản lý kho.
2.4.3 Các hình thức bán hàng B2B
2.4.3.1 Bán hàng qua Cataloge
a. Lợi ích:
Giảm chi phí xử lý đơn đặt hàng và các công việc liên quan tới giấy tờ.
Giảm giá thành tìm kiếm sản phẩm cho người mua, giúp khách hàng có thể
đặt hàng một cách nhanh chóng.
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Luận văn tốt nghiệp 13 Đại học Thương mại
Người bán có thể quảng cáo, truyền thông trực tuyến. Từ đó giúp giảm chi
phí tìm kiếm doanh nghiệp mua.
Khả năng đưa ra những catalogue khác nhau và những giá khác nhau cho các
khách hàng khác nhau.
b. Khó khăn:
Trong việc tìm khách hàng trực tuyến: Nếu như doanh nghiệp triển khai mô
đồng bán hàng mà không có bên thứ ba nào tham gia vào quá trình ký kết.
2.4.4 Quy trình bán hàng trong TMĐT B2B
2.4.4.1 Xử lí đơn hàng
Hình 2.1: Quy trình xử lý đơn hàng.
a. Các hoạt động trước đặt hàng
Hợp đồng bán hàng: Bán hàng B2B có thể được thỏa thuận chính thức qua
hợp đồng. Một hợp đồng điển hình nói rõ thỏa thuận của người bán đồng ý bán và
người mua đồng ý mua một hàng hóa cụ thể, với số lượng xác định, đơn giá, tổng
giá trị, hoặc kết hợp tất cả các tiêu chí này trong một giai đoạn thời gian xác định.
Yêu cầu thông tin đơn hàng (Order Enquiry): Một giao dịch bán hàng B2B
thường được bắt đầu bằng yêu cầu thông tin đơn hàng từ khách hàng. Đây là yêu
cầu thông tin về một hàng hóa hoặc dịch vụ tại một thời điểm cụ thể.
Báo giá (Quotation): Để trả lời một yêu cầu thông tin đơn hàng từ khách
hàng (hay RFQ-Request for Quotation), người bán thường cung cấp giấy báo giá.
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Luận văn tốt nghiệp 15 Đại học Thương mại
Đây là một văn bản giao dịch kinh doanh mô tả hàng hóa và dịch vụ mà người bán
sẵn sàng cung ứng cho người mua tiềm năng.
b. Xử lý dữ liệu đơn đặt hàng
Dựa trên cơ sở hợp đồng bán hàng hoặc giấy báo giá, nếu người mua quyết
định thực hiện đơn đặt hàng, người mua có thể thông báo bằng một số phương tiện:
qua điện thoại, nói trực tiếp với người bán hàng, chính thức qua thư hoặc đơn đặt
hàng. Từ đơn đặt hàng của người mua, người bán tiến hành kiểm tra tồn kho. Nếu
người bán cho phép bán trả sau, kiểm tra tín dụng sẽ được thực hiện.
c. Kiểm tra tồn kho
Khi một khách hàng mua hàng thể hiện mong muốn mua hàng và nhận hàng
vào một thời điểm cụ thể, Công ty sẽ tiến hành kiểm tra tồn kho. Tức là xác định
xem có đủ số lượng hàng hóa để giao vào thời điểm đã định hay không.
chuyển, nơi đến. Các nhân viên bộ phận vận tải nhập dữ liệu về vận chuyển vào hệ
thống, thông báo cho bộ phận làm hóa đơn về việc hàng đã được vận chuyển.
2.4.4.3 Xử lí thanh toán
Phụ thuộc vào thực tế của Công ty, quá trình lập hóa đơn thanh toán thường
được bắt đầu sau khi hàng hóa được chuyển đi đến người mua. Hóa đơn (Invoice)
cũng có thể được gửi trước khi hàng được chuyển đi, sau khi hoàn thành việc phân
phối hoặc theo một lịch trình lập hóa đơn nào đó không quan hệ trực tiếp tới phân
phối hàng hóa và dịch vụ.
Các phương thức thanh toán chủ yếu trong B2B:
Séc điện tử (Electronic-check): là một phiên bản hay thể hiện điện tử của séc
giấy. Bỏ qua những quá trình kĩ thuật đắt giá và thể hiện tiến bộ của công nghiệp
ngân hàng. Có thể được sử dụng bởi tất cả người tiêu dùng của ngân hàng mà có tài
khoản séc.
Thẻ mua sắm (Purchasing cards): là thẻ thanh toán cho mục đích đặc biệt
phát hành tới những nhân viên của Công ty chỉ dùng cho mua sắm nguyên vật liệu
không chiến lược.
Thư tín dụng- Letter of credit: là một bản thỏa thuận được viết bởi một ngân
hàng để trả cho người bán, trên tài khoản của người mua, một số tiền được thể hiện
trong tài liệu.
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Luận văn tốt nghiệp 17 Đại học Thương mại
2.4.4.4 Dịch vụ sau bán hàng
Dịch vụ khách hàng: Dịch vụ khách hàng có thể cần thiết ở bất kỳ giai đoạn
nào của quá trình mua bán. Trong quá trình lướt web và chọn hàng, khách hàng cần
dịch vụ khách hàng để thu thập thông tin về hàng hóa và dịch vụ. Trong quá trình
mua hàng, khách hàng muốn biết về phương thức thanh toán, lập hóa đơn, quá trình
kiểm tra. Trong quá trình đặt mua hàng và thực hiện, khách hàng muốn biết về tình
trạng đơn hàng và giai đoạn xử lý. Sau khi đơn hàng được chấp nhận, khách hàng
- Sửa chữa, hoán cải, tái chế hoặc tân trang.
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Luận văn tốt nghiệp 19 Đại học Thương mại
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN
TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TMĐT B2B
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua các phiếu điều tra và phỏng vấn chuyên sâu đối
với một số cán bộ chủ chốt của Công ty Hoàng Dũng (mẫu phiếu điều tra và câu
hỏi phỏng vấn chuyên sâu được đính kèm phần phụ lục).
+ Nội dung: Điều tra tình hình triển khai các mô hình bán hàng B2B qua
website www.detmayhoangdung.com.vn của Công ty.
+ Cách thức tiến hành: Các phiếu điều tra (bao gồm 23 phiếu) được gửi đến
các trưởng bộ phận, người quản lý, các cấp lãnh đạo có liên quan trực tiếp đến việc
hoạch định chiến lược và thực thi các công việc liên quan tới hoạt động bán hàng
B2B qua website.
Đối với phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Trước tiên cần xây dựng bảng
câu hỏi đơn giản, dễ hiểu xoay quanh tình hình triển khai mô hình bán hàng B2B
qua website của Công ty. Và tiến hành phỏng vấn một số người có chuyên môn cao
trong Công ty. Sau đó tổng hợp phân tích, chọn lọc phục vụ cho việc nghiên cứu và
giải quyết vấn đề.
+ Ưu điểm: Thực hiện nhanh chóng, thuận lợi, phản ánh đúng thực trạng vấn
đề cần nghiên cứu.
+ Nhược điểm: Các câu trả lời có thể chưa thực sự chính xác, hoặc đôi khi bị
bỏ qua.
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo và tài liệu tại Công ty dệt may Hoàng
Dũng và các thông tin về Công ty trên internet.
Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Sau khi thu thập lại các phiếu
(3)
Báo cáo TMĐT Việt Nam 2008 – Bộ Công Thương
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Luận văn tốt nghiệp 21 Đại học Thương mại
Hình 3.1: Các hình thức đào tạo.
Nguồn: báo cáo TMĐT Việt Nam 2008 – Bộ công thương
Về đào tạo chính quy tại bâc đại học và cao đẳng, một cuộc điều tra cho thấy
có 49 trường đã triển khai hoạt động đào tạo về thương mại điện tử, gồm 30 trường
Đại học và 19 trường Cao đẳng. Về thời gian triển khai hoạt động đào tạo TMĐT,
14 trường bắt đầu từ năm 2003 trở về trước, 9 trường năm 2004, 4 trường năm
2005, 11 trường năm 2006, 8 trường năm 2007 và 3 trường năm 2008. Như vậy, có
thể rút ra nhận xét ban đầu là hoạt động đào tạo TMĐT đã được chú trọng từ một
vài năm trở lại đây, bắt kịp với nhịp độ phát triển nói chung của TMĐT tại Việt
Nam. Đây là một thực tế đáng mừng, chứng tỏ sự đổi mới và nắm bắt kịp thời nhu
cầu phát triển TMĐT ngay trong mục đích đào tạo chính thức của từng trường. Từ
đây sẽ cung cấp nguồn nhân lực vừa có trình độ về kinh tế vừa có kiến thức chuyên
môn về TMĐT cũng như TMĐT B2B.
Có thể nói, ngoài yếu tố công nghệ, nhân lực là một trong số những nhân tố
có tính quyết định đến hiệu quả của hoạt động kinh doanh nói chung và của hoạt
động kinh doanh TMĐT B2B nói riêng. Tuy nhiên, tình hình nhân lực cho hoạt
động thương mại điện tử B2B tại Công ty Hoàng Dũng lại chưa được đầu tư một
cách thích đáng, chưa có những nhân viên thực sự hiểu sâu, hiểu rõ về thương mại
điện tử B2B, cũng như các cấp lãnh đạo cũng chỉ có một cái nhìn chung nhất về
TMĐT B2B. Chính vì vậy mà việc hoạch định các chiến lược phát triển cũng như
chiến lược đầu tư cho TMĐT B2B thực sự chưa được cụ thể và chính xác.
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Tần suất cập nhật website của doanh nghiệp cũng đã có tiến bộ rõ rệt so với
các năm trước. Số doanh nghiệp cập nhật website hàng tuần tăng đáng kể. Đặc biệt
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Luận văn tốt nghiệp 24 Đại học Thương mại
năm 2008 chỉ còn 13% doanh nghiệp không thường xuyên cập nhật website. Tỷ lệ
doanh nghiệp cập nhật website hàng tháng hoặc không thường xuyên cập nhật giảm
liên tục qua các năm. Điều này cho thấy website ngày càng khẳng định vai trò như
một kênh giao tiếp và tương tác thường xuyên của doanh nghiệp đối với khách
hàng.
3.2.1.3 Tham gia sàn giao dịch TMĐT
Nói đến thương mại điện tử B2B hầu hết mọi người đều nghĩ ngay đến các
sàn giao dịch TMĐT B2B. Mô hình này bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2003,
và liên tục phát triển mạnh qua các năm. Tuy nhiên, cho đến nay tiện ích của phần
lớn các sàn B2B Việt Nam vẫn chỉ dừng ở việc đăng tải thông tin doanh nghiệp và
nhu cầu mua bán. Hầu như chưa sàn nào có những tiện ích hữu dụng để hỗ trợ
doanh nghiệp đàm phán, giao kết hợp đồng trực tuyến và theo dõi tiến trình thực
hiện hợp đồng. Nhưng trước sức ép cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập Quốc tế
ngày càng sâu rộng, quy trình vận hành và hoạt động của các sàn TMĐT B2B Việt
Nam trong năm 2008 đã có nhiều chuyển biến về chất lượng. Trước tiên là nỗ lực
của các đơn vị quản lý sàn nhằm cải tiến giao diện, đa dạng hóa dịch vụ và tạo điều
kiện cho doanh nghiệp thành viên có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp xúc với thị
trường cũng như gia tăng khối lượng giao dịch.
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn
Minh
Luận văn tốt nghiệp 25 Đại học Thương mại
Hình 3.3: Quy mô doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch thương mại điện tử (báo
cáo TMĐT Việt Nam 2008)