Luận văn tốt nghiệp 1 Đại học Thương mại
Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ B2B
1.1Tính cấp thiết của đề tài
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động kinh
doanh thương mại của các tổ chức, cá nhân và sự phát triển kinh tế xã hội của các
nước. Thương mại điện tử (TMĐT) ra đời từ cái nôi công nghệ đã nhanh chóng
khẳng định được vị thế quan trọng (đại diện cho nền kinh tế tri thức) và những ưu thế
vượt trội của mình so với phương thức kinh doanh truyền thống trong nền kinh tế
toàn cầu.
Thương mại điện tử B2B (Business to business) mang lại cơ hội mới cho các
doanh nghiệp: mở rộng thị trường, giảm chi phí giao dịch, cải thiện hệ thống phân
phối, tăng doanh số, chăm sóc khách hàng tốt hơn....Đồng thời với các cơ hội đó
cũng là những thách thức: cạnh tranh sẽ tăng cao, thiếu nhân lực có đủ trình độ để
phát triển nhất là ở các nước đang phát triển….Vậy làm thế nào để nắm bắt được các
cơ hội, vượt qua những thách thức trong quá trình nền kinh tế Việt Nam ngày càng
hội nhập cả về chiều sâu và chiều rộng với nền kinh tế thế giới? Nâng cao năng lực
cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kì hội nhập là một vấn đề sống
còn. Làm thế nào để doanh nghiệp nhỏ tìm được chỗ đứng trên thị trường để có thể
tồn tại và phát triển trong thời kì cạnh tranh gay gắt với các tập đoàn lớn trong nước
và Quốc tế? Hơn nữa, với tình hình nền kinh tế đang bị khủng hoảng hiện nay, việc
giảm tối thiểu chi phí là vấn đề cấp thiết đặt ra cho các doanh nghiệp. Chính vì vậy,
ứng dụng Thương mại điện tử B2B (business to business ) vào các hoạt động giao
dịch mua bán hàng hóa, kiểm soát, tìm kiếm khách hàng, tìm kiếm nhà cung ứng tiềm
năng... để tối đa hóa hiệu quả công việc, tiết kiệm thời gian và giảm chi phí là một
hướng đi đúng đắn và cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
Nhớ lại cuộc khủng hoảng dotcom vào năm 2001, khi đó sự suy sụp của các
dotcom chỉ là một phần nhỏ của toàn bộ nền kinh tế Internet, chỉ những kiểu mẫu bán
lẻ qua mạng B2C (Business to Consumer - kinh doanh hướng đến tiêu dùng) suy sụp,
còn kiểu mẫu kinh doanh thật sự B2B vẫn hoạt động tốt với nhiều Công ty, tập đoàn
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Luận văn tốt nghiệp 3 Đại học Thương mại
Công ty dệt may Hoàng Dũng là một Công ty chuyên sản xuất, bán buôn với
số lượng lớn đa dạng các chủng loại vải phục vụ may xuất khẩu thời trang, các loại
vải phục vụ may đồng phục học sinh, văn phòng cũng như các ngành công nghiệp
nhẹ từ dạng mộc cho đến hoàn tất. Các sản phẩm đều được cung cấp tới các Công ty
khác với số lượng hàng hóa lớn rồi mới tới tay người tiêu dùng. Trang web của Công
ty đã thành lập được gần 2 năm, tuy nhiên, vẫn chưa khai thác được tối đa hiệu quả
và lợi ích mà website cũng như internet mang lại.
Qua thời gian học tập và rèn luyện tại khoa Thương mại điện tử trường Đại
học Thương mại. Đồng thời được tiếp cận với thực tiễn sinh động của hoạt động kinh
doanh tại Công ty Dệt may Hoàng Dũng. Em nhận thấy rằng, việc sử dụng trang web
của Công ty để có thể thực hiện trao đổi và bán sản phẩm của Công ty cho các đối tác
khác là một vấn đề vô cùng cần thiết giúp cho Công ty có thể giảm thiểu tối đa chi
phí bán hàng và tăng doanh thu.
Xuất phát từ những lý do trên, Em đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài:
“Hoàn thiện mô hình bán hàng B2B qua Website của Công ty Dệt may Hoàng
Dũng – www.detmayhoangdung.com.vn”
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các cơ sở lý luận về thương mại điện tử B2B và mô hình bán hàng
B2B qua website.
Hoàn thiện mô hình bán hàng B2B của Công ty TNHH Dệt may Hoàng Dũng
qua website www.detmayhoangdung.com.vn.
Đưa ra một số kiến nghị giúp Công ty có thể phát huy được tối đa kênh bán
hàng trực tuyến B2B qua Website. Từ đó làm giảm chi phí bán hàng đồng thời gia
tăng doanh thu cũng như lợi nhuận cho Công ty Hoàng Dũng.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Do bản chất hoạt động kinh doanh của Công ty Dệt may Hoàng Dũng, là một
doanh nghiệp chuyên sản xuất và bán buôn với số lượng hàng hóa lớn. Và việc khai
về Luật Thương mại quốc tế (UNICITRAL), thương mại điện tử có nghĩa là việc trao
đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra
giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch.
2.1.2 Khái niệm TMĐT B2B
Thương mại điện tử B2B là giao dịch thương mại (trao đổi tiền lấy hàng hóa
hoặc dịch vụ) được tiến hành giữa hai DN bất kỳ thông qua mạng Internet, các mạng
truyền thông và các phương tiện điện tử khác.
(1)
2.1.3 Khái niệm bán hàng qua Website
Bán hàng B2B qua website là việc doanh nghiệp tận dụng lợi thế truyền thông
tin của Internet để thực hiện các tác nghiệp như: xử lý đơn hàng, thực hiện đơn hàng,
xử lý việc thanh toán, và các dịch vụ sau bán. Đồng thời đưa thông tin sản phẩm dịch
vụ lên trang web giúp cho các khách hàng là doanh nghiệp tìm kiếm thông tin, thuận
tiện cho việc lựa chọn và đặt mua hàng hóa.
2.1.4 Khái niệm mô hình kinh doanh
Mô hình kinh doanh là cách bố trí, sắp xếp các sản phẩm, dịch vụ và các dòng
thông tin, bao gồm việc mô tả các yếu tố của quá trình kinh doanh và vai trò của nó
đối với kinh doanh; đồng thời mô tả các nguồn doanh thu, khả năng thu lợi nhuận từ
mỗi mô hình kinh doanh đó.
(2)
(1)
Bài giảng môn Quản trị tác nghiệp TMĐT B2B – PGS.TS Nguyễn Văn Minh.
(2)
Electronic Commerce, Strategies and Models for Business-To-business Trading by Paul Timmers,
2001.
2.2 Một số lý thuyết về bán hàng
2.2.1 Vai trò của bán hàng B2B
Trong nền cơ chế thị trường, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh là một đơn vị
chăng và được mua bán một cách thuận tiện
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Luận văn tốt nghiệp 7 Đại học Thương mại
Để thu hút khách hàng các doanh nghiệp bán hàng B2B phải sử dụng các công
cụ để cạnh tranh giành giật khách hàng. Các công cụ đó có thể là:
Cạnh tranh về chất lượng hàng hóa
Cạnh tranh giá cả
Dịch vụ phục vụ khách hàng
Nhãn hiệu hàng hóa
Quảng cáo trực tuyến
2.2.2.3. Khách hàng là người mua đòi hỏi người bán hàng phải quan tâm đến
lợi ích của mình
Do khách hàng có vai trò quyết định trong mua bán nên họ có quyền lựa chọn
cân nhắc trước khi đưa ra quyết định mua. Cơ sở đưa ra quyết định mua hoặc không
là lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của khách hàng. Khách hàng sẽ cân đo, một bên
là số tiền phải bỏ ra với bên kia là những thứ khách hàng nhận được: số lượng, chất
lượng hàng hóa, kiểu dáng, độ an toàn, độ tin cậy, sự tiết kiệm trong sử dụng…Lợi
ích tinh thần của khách hàng là sự đồng cảm, quan tâm lo lắng của người bán đối với
người mua, cao nhất là sự tín nhiệm trong kinh doanh.
2.2.2.4. Nhu cầu thị hiếu của KH luôn thay đổi
Trong thời kỳ khoa học công nghệ và kỹ thuật thay đổi như vũ bão, nhiều
hàng hóa với chất lượng tốt ra đời nhằm thoả mãn nhu cầu, chu kỳ sống của sản
phẩm ngày càng rút ngắn, điều này là một khó khăn thách thức lớn với người kinh
doanh. Chỉ những doanh nghiệp luôn theo dõi sự biến động của nhu cầu mới có thể
đưa ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu. Phần thưởng là lợi nhuận sẽ thuộc về người
lần đầu tiên đưa ra được sản phẩm mới thỏa mãn nhu cầu thị hiếu của khách hàng,
nhất là đối với DN kinh doanh các mặt hàng tư liệu tiêu dùng, những mặt hàng liên
quan đến mốt. Thương mại điện tử B2B có thể đáp ứng được tốt nhu cầu của khách
hàng với tốc độ nhanh nhờ lợi thế về thông tin.
nghiệp khác. Đề tài cũng cho thấy được tình hình ứng dụng hải quan điện tử đã được
triển khai tại Việt nam, tạo thuận lợi cho các DN xuất nhập khẩu, và đây cũng chính
là nền tảng cho sự phát triển TMĐT B2B tại Việt nam.
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Luận văn tốt nghiệp 9 Đại học Thương mại
c. Bài viết với nhan đề “Giao dịch B2B trong thương mại điện tử” của
TS.Nguyễn Quốc Thịnh trong Kỷ yếu hội thảo khoa học “TMĐT với đổi mới và phát
triển đào tạo kinh tế, quản trị kinh doanh của các trường ĐH nước ta” đã cho ta có
được cái nhìn tổng quan về giao dịch B2B với những thuận lợi và khó khăn. Và cả sự
khác biệt của giao dịch B2B truyền thống với giao dịch trong TMĐT. Ngoài ra, bài
viết cũng cho ta thấy được thủ tục hải quan qua mạng và giao nhận hàng hóa tại Việt
Nam hiện nay đã được triển khai và được đánh giá là khá tốt. Đã tạo nền tảng cho
hoạt động xuất khẩu trong B2B được tiến hành thuận tiện hơn.
d. Đề tài luận văn “Một số vấn đề ứng dụng TMĐT trong hoạt động xúc tiến
xuất khẩu sản phẩm dệt may Việt Nam” của sinh viên Thái Thu Hương K35F1
trường Đại học Thương mại cũng đã khẳng định được tầm quan trọng của TMĐT
đặc biệt là TMĐT B2B đối với việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm dệt may Việt
Nam. Các cơ hội và thách thức đối với các DN dệt may cũng đã được tác giả phân
tích cụ thể và chi tiết. Tuy nhiên, nói đến xuất khẩu sản phẩm dệt may thì phải nói
đến thị trường B2B. Tác giả chưa đưa ra được giải pháp thực sự để đẩy mạnh hoạt
động B2B, giúp các DN có thể xúc tiến hoạt động xuất khẩu sản phẩm của mình một
cách thuận tiện và nhanh chóng nhất. Các DN cần có website riêng, tuy nhiên, nếu
chỉ thành lập rồi để đó thì chỉ tốn thêm chi phí mà không mang lại lợi ích. Việc tham
gia và các sàn giao dịch trong nước cũng như quốc tế và vô cùng quan trọng, nhất là
đối với hoạt động xuất khẩu.
e. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thanh Hà – Đại học Ngoại Thương
“các mô hình TMĐT B2B trên thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam”. Đề tài đã
giới thiệu những mô hình TMĐT B2B phát triển trên thế giới. Và xác định mô hình
nào phụ hợp, có thể áp dụng tốt ở thị trường Việt Nam. Vấn đề mà đề tài chưa giải
2.4.2.1 Các lợi ích của bán hàng B2B trong TMĐT
a. Lợi ích đối với doanh nghiệp bán
Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại
truyền thống, các Công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung
cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới.
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Luận văn tốt nghiệp 11 Đại học Thương mại
Giảm chi phí sản xuất: Giảm chi phí giấy tờ, giảm chi phí chia sẻ thông tin,
chi phí in ấn, gửi văn bản truyền thống. Đồng thời có thể giảm mức dự trữ và chi phí
liên quan dự trữ, từ đó có thể hạ giá thành sản phẩm.
Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong
phân phối hàng. Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ
bởi các cửa hàng (showroom) trên mạng.
Sản xuất hàng theo yêu cầu: Còn được biết đến dưới tên gọi “Chiến lược
kéo”, lôi kéo khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi nhu cầu
của khách hàng.
Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: Với lợi thế về thông tin và khả
năng phối hợp giữa các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời gian
tung sản phẩm ra thị trường.
Các lợi ích khác: Nâng cao uy tín, hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất
lượng dịch vụ khách hàng; đối tác kinh doanh mới….
b. Lợi ích đối với doanh nghiệp mua
Vượt giới hạn về không gian và thời gian: Thương mại điện tử B2B cho
phép khách hàng mua hàng hóa mọi nơi, mọi lúc đối với các Công ty trên khắp thế
giới. Giảm chi phí tìm kiếm và thời gian mua hàng.
Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ: Các Công ty có nhiều lựa chọn
hơn vì tiếp cận được nhiều nhà cung cấp hơn.
Giá thấp hơn: Do thông tin thuận tiện, dễ dàng và phong phú hơn nên khách
hàng có thể so sánh giá cả giữa các nhà cung cấp thuận tiện hơn và từ đó tìm được
2.4.3 Các hình thức bán hàng B2B
2.4.3.1 Bán hàng qua Cataloge
a. Lợi ích:
Giảm chi phí xử lý đơn đặt hàng và các công việc liên quan tới giấy tờ.
Giảm giá thành tìm kiếm sản phẩm cho người mua, giúp khách hàng có thể đặt
hàng một cách nhanh chóng.
Người bán có thể quảng cáo, truyền thông trực tuyến. Từ đó giúp giảm chi phí
tìm kiếm doanh nghiệp mua.
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Luận văn tốt nghiệp 13 Đại học Thương mại
Khả năng đưa ra những catalogue khác nhau và những giá khác nhau cho các
khách hàng khác nhau.
b. Khó khăn:
Trong việc tìm khách hàng trực tuyến: Nếu như doanh nghiệp triển khai mô
hình bán hàng qua Cataloge, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp cần phải đẩy mạnh
công tác marketing điện tử để có thể tìm được tập khách hàng trực tuyến cho DN.
Vấn đề mâu thuẫn kênh phân phối: doanh nghiệp có thể sẽ gây ra xung đột
giữa các kênh phân phối truyền thống hiện có của mình. Ảnh hưởng xấu đến hoạt
động kinh doanh truyền thống.
Nếu sử dụng cơ sở hạ tầng mạng EDI truyền thống sẽ làm tăng chi phí mua
của khách hàng. Phải có một lượng khách hàng trực tuyến đủ lớn mới đáp ứng được
chi phí.
2.4.3.2 Bán qua đấu giá
Bán từ site của Công ty
- Đối với các Công ty lớn, thường xuyên tiến hành bán đấu giá, thì việc lập
site đầu giá riêng của mình là có ý nghĩa.
- Công ty phải chi phí cho cơ sở hạ tầng, điều hành và bảo trì site đấu thầu.
- Nếu Công ty đã có site bán hàng từ catalog điện tử thì chi phí tổ chức
kênh bán đấu giá thêm vào là không lớn.
b. Xử lý dữ liệu đơn đặt hàng
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Luận văn tốt nghiệp 15 Đại học Thương mại
Dựa trên cơ sở hợp đồng bán hàng hoặc giấy báo giá, nếu người mua quyết
định thực hiện đơn đặt hàng, người mua có thể thông báo bằng một số phương tiện:
qua điện thoại, nói trực tiếp với người bán hàng, chính thức qua thư hoặc đơn đặt
hàng. Từ đơn đặt hàng của người mua, người bán tiến hành kiểm tra tồn kho. Nếu
người bán cho phép bán trả sau, kiểm tra tín dụng sẽ được thực hiện.
c. Kiểm tra tồn kho
Khi một khách hàng mua hàng thể hiện mong muốn mua hàng và nhận hàng
vào một thời điểm cụ thể, Công ty sẽ tiến hành kiểm tra tồn kho. Tức là xác định xem
có đủ số lượng hàng hóa để giao vào thời điểm đã định hay không.
2.4.4.2 Thực hiện đơn hàng (Order Fulfilment)
a. Thông báo cho khách hàng (Order Acknowledgement)
Khi đơn đặt hàng được hệ thống quản lý đơn hàng nhận, người bán phải thông
báo cho khách hàng biết, khẳng định rằng mọi việc trôi chảy. Trong TMĐT, việc này
là rất quan trọng vì không có quan hệ mặt đối mặt giữa người mua và người bán.
Việc chấp nhận đơn hàng hàm ý cả việc chấp nhận các điều kiện của khách hàng liên
quan đến hàng hóa, dịch vụ.
b. Lập kế hoạch phân phối và vận tải
Kế hoạch phân phối được lập tương ứng với lượng thời gian cần thiết cho các
hoạt động bên trong như xuất hàng, bao gói hàng, chất xếp hàng. Và xác định phương
thức vận chuyển, lựa chọn người vận chuyển, tuyến đường vận chuyển với chi phí
thấp nhất. Kế hoạch phân phối thường được chia thành 3 phần:
- Xuất kho và bao gói
- Chất xếp
- Vận chuyển hàng đến địa điểm giao hàng
c. Xuất kho và bao gói
Phiếu xuất kho được coi là sự cho phép chính thức xuất hàng ra khỏi kho.
hiện trong tài liệu.
2.4.4.4 Dịch vụ sau bán hàng
Dịch vụ khách hàng: Dịch vụ khách hàng có thể cần thiết ở bất kỳ giai đoạn
nào của quá trình mua bán. Trong quá trình lướt web và chọn hàng, khách hàng cần
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Luận văn tốt nghiệp 17 Đại học Thương mại
dịch vụ khách hàng để thu thập thông tin về hàng hóa và dịch vụ. Trong quá trình
mua hàng, khách hàng muốn biết về phương thức thanh toán, lập hóa đơn, quá trình
kiểm tra. Trong quá trình đặt mua hàng và thực hiện, khách hàng muốn biết về tình
trạng đơn hàng và giai đoạn xử lý. Sau khi đơn hàng được chấp nhận, khách hàng
muốn biết về sự bảo hành, sửa chữa, các dịch vụ, trả lại hàng và hoàn tiền.
Bảo hành (Warranties): Bảo hành là một văn bản mà ở đó nhà sản xuất hoặc
nhà phân phối sản phẩm đưa ra lời hứa về việc họ sẽ giải quyết như thế nào tình
huống khi một điều gì đó không tốt xảy ra với sản phẩm. Văn bản này cũng đồng thời
là tài liệu hướng dẫn khách hàng giải quyết các vấn đề nảy sinh với hàng hóa.
Trả lại sản phẩm (Product Return): Sau khi hàng hóa được chuyển đến khách
hàng, khách hàng có thể quyết định trả lại một phần hoặc tất cả đơn hàng. Một số lý
do hoàn trả hàng:
- Khách hàng nhận thấy sản phẩm mua về không đáp ứng các mong đợi của họ,
không phụ thuộc vào việc sản phẩm có vận hành đúng (đảm bảo thực hiện đúng chức
năng của sản phẩm) hay không.
- Lỗi về phía người bán hoặc nhà vận tải, ví dụ nhập đơn sai, sai về số lượng,
thiếu chi tiết, phụ tùng, chất hàng không đủ, chất hàng thừa, đơn hàng lặp…
- Hàng hóa bị hư hỏng, khuyết tật, lỗi thời, quá hạn…không phù hợp mong đợi
của khách hàng.
- Hàng hóa chuyển đến muộn, khách hàng từ chối nhận.
- Trả lại theo hợp đồng thỏa thuận, ví dụ khi khách hàng đang có tồn kho quá
lớn, nhu cầu điều chỉnh tồn kho, hàng hóa lỗi thời hoặc quá hạn..
- Trong thương mại B2B, số lượng hàng thường lớn, trả lại hàng là vấn đề cần
Công ty. Sau đó tổng hợp phân tích, chọn lọc phục vụ cho việc nghiên cứu và giải
quyết vấn đề.
+ Ưu điểm: Thực hiện nhanh chóng, thuận lợi, phản ánh đúng thực trạng vấn
đề cần nghiên cứu.
+ Nhược điểm: Các câu trả lời có thể chưa thực sự chính xác, hoặc đôi khi bị
bỏ qua.
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo và tài liệu tại Công ty dệt may Hoàng
Dũng và các thông tin về Công ty trên internet.
Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Sau khi thu thập lại các phiếu
điều tra, dữ liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS (Statistical Package
for Social Sciences – là phần mềm xử lý thống kê dùng trong các ngành khoa học xã
hội) để phục vụ cho việc phân tích.
3.2 Thực trạng phát triển và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến hoạt
động bán hàng theo mô hình B2B
3.2.1 Tổng quan tình hình TMĐT B2B ở Việt Nam
3.2.1.1 Trình độ nhân lực cho phát triển TMĐT B2B
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Luận văn tốt nghiệp 20 Đại học Thương mại
Nắm bắt được lợi thế cạnh tranh cũng như tính hiệu quả của thương mại điện
tử B2B, nhiều DN đã chủ động nâng cao nhận thức đào tạo cho nhân viên dưới hình
thức khác nhau. Nguồn nhân lực cho TMĐT nói chung và cho phát triển B2B nói
riêng vì thế đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, đáp ứng phần nào chiến lược chuyển sang
kinh doanh qua mạng của nhiều doanh nghiệp.
Tuy nhiên, thực tế trong những năm qua nhiều doanh nghiệp mới chỉ quan tâm
đến đào tạo TMĐT bề nổi mà chưa có bề sâu. Do đó, khi xây dựng website của
doanh nghiệp hoặc tham gia các sàn giao dịch điện tử B2B, những doanh nghiệp này
chưa khai thác hay tận dụng được tối đa các cơ hội kinh doanh mà hình thức này đem
lại. Nhiều lớp học miễn phí đã được mở để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nhanh chóng
với phương thức kinh doanh mới mẻ này, nhưng nhận thức về lợi ích của TMĐT
thích đáng, chưa có những nhân viên thực sự hiểu sâu, hiểu rõ về thương mại điện tử
B2B, cũng như các cấp lãnh đạo cũng chỉ có một cái nhìn chung nhất về TMĐT B2B.
Chính vì vậy mà việc hoạch định các chiến lược phát triển cũng như chiến lược đầu
tư cho TMĐT B2B thực sự chưa được cụ thể và chính xác.
3.2.1.2 Cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu TMĐT B2B
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Luận văn tốt nghiệp 22 Đại học Thương mại
Website là một kênh thông tin quan trọng giúp doanh nghiệp tiếp cận với
người tiêu dùng và với các doanh nghiệp khác. Mặt khác, trong thời đại CNTT bùng
nổ hiện nay, việc thành lập website trở thành một yêu cầu thiết yếu đối với doanh
nghiệp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, khẳng định tên tuổi và mở ra các cơ hội
kinh doanh mới. Kết quả điều tra cũng thể hiện xu hướng trên. Năm 2008, 45,3%
doanh nghiệp có website, 4,1% doanh nghiệp sẽ xây dựng website trong tương lai.
Còn lại 50,6% doanh nghiệp không có và cũng không dự định xây dựng website.
Hình 3.2:Tỷ lệ DN có website năm 2008.
“Trích: Báo cáo TMĐT Việt nam 2008 – Bộ công thương”
So với các năm trước, tỷ lệ doanh nghiệp có website năm 2008 vẫn tiếp tục
tăng nhanh theo đà tăng trong hai năm 2006 và 2007. Tuy nhiên tỷ lệ doanh nghiệp
dự định xây dựng website trong tương lai gần cũng giảm đi đáng kể. Với tỷ lệ chỉ còn
4,1% doanh nghiệp có dự định xây dựng website, trong một vài năm tới tỷ lệ doanh
nghiệp có website có thể sẽ không có nhiều thay đổi.
Về chức năng, 89,9% website có chức năng giới thiệu về doanh nghiệp, 85,9%
website quảng bá cho sản phẩm, 38% website cho phép đặt hàng và 3,5% website có
chức năng thanh toán trực tuyến.
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Luận văn tốt nghiệp 23 Đại học Thương mại
Về đối tượng mà các website hướng tới, 84% hướng tới đối tượng khách hàng
là doanh nghiệp, 70% hướng tới đối tượng người tiêu dùng. Tỷ lệ qua các năm cho
mối liên hệ tỷ lệ nghịch giữa quy mô và số lượng DN tham gia sàn. Các doanh
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh
Luận văn tốt nghiệp 25 Đại học Thương mại
nghiệp có quy mô càng nhỏ thì tỷ lệ tham gia sàn giao dịch TMĐT càng lớn. Điều
này chứng tỏ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã biết đến lợi thế của sàn giao dịch
TMĐT trong việc xây dựng hình ảnh và tăng cường khả năng cạnh tranh. Đặc biệt là
trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều sàn giao dịch thương mại điện tử B2B vẫn thực
hiện hình thức hỗ trợ không thu phí đối với một số doanh nghiệp tham gia.
Hình 3.4:Mức độ tham gia và ký được hợp đồng từ sàn giao dịch TMĐT
của DN năm 2008 – Nguồn Báo cáo TMĐT Việt Nam 2008 – Bộ công thương
Tỷ lệ doanh nghiệp ký được hợp đồng từ sàn thương mại điện tử cũng tăng lên
so với năm 2007. Năm 2008, trong số các doanh nghiệp đã tham gia sàn giao dịch
thương mại điện tử có 69,7% doanh nghiệp ký được hợp đồng từ sàn giao dịch
thương mại điện tử, cao hơn so với tỷ lệ 63% của năm 2007. Điều này cho thấy việc
tham gia sàn thương mại điện tử đã mang lại hiệu quả thực sự đối với một số doanh
nghiệp.
Công ty dệt may Hoàng Dũng cũng đã đăng ký tham gia một số sàn giao dịch
B2B của Việt nam và cũng đã nhận được sự hỗ trợ trong việc tìm kiếm thông tin
cũng như khách hàng của các sàn này. Tuy nhiên, việc tham gia này còn rất hạn chế,
thực tế cho thấy, Công ty đã tham gia, tuy nhiên tất cả các sàn mà Công ty tham gia
thì đều là ở mức độ thành viên miễn phí, chưa có sàn nào Công ty thực sự tham gia
với vai trò là thành viên vàng hoặc thành viên bạc (thành viên phải trả phí thường
niên) để có thể nhận được những quyền lợi hữu ích nhất từ các sàn giao dịch đó. Mới
Sv: Trần Thế Dũng - K41-I3 Gvhd: PGS.TS Nguyễn Văn Minh