Giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân,
chia số tự nhiên
I. LỜI NÓI ĐẦU
I.1 Lý do chọn đề tài
Qua ba năm dạy học sinh lớp 4 và cũng qua trao đổi với đồng nghiệp tôi thấy học
sinh thường xuyên lúng túng trong việc thực hiện bốn phép tính với số tự nhiên. Đối
với học sinh, nhiều em không nắm vững được cách cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên.
Các em thường làm sai ở một vài vị trí. Ví dụ có em thì cộng không nhớ, có em thì
thực hiện phép nhân đúng nhưng cách đặt phép tính lại sai. Nhiều em không biết
cách thực hiện phép chia. Khả năng tính nhẩm của học sinh còn thấp nên khi dạy
phép chia đòi hỏi các em phải trừ nhẩm thì các em không thực hiện được. Mặt khác
nhiều em còn chưa thuộc bảng cộng, trừ, nhân, chia nên trong khi lĩnh hội tri thức
gặp rất nhiều khó khăn.
Để giúp học sinh nắm bắt và thực hành phép tính cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên
một cách thành thạo, giúp các em thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia,
tôi xin mạnh dạn trình bày sáng kiến kinh nghiệm “Giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng
thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên ” với mong muốn
được trao đổi với anh chị em đồng nghiệp, cùng cảm nghiệm và tìm ra biện pháp
giúp đỡ học sinh học môn toán một cách tốt nhất.
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Trong bài viết này, là một giáo viên đang trực tiếp dạy lớp 4, tôi xin nêu ra một
số kinh nghiệm của mình về dạy học bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số tự
nhiên ở lớp 4 trên cơ sở chuẩn kiến thức kỹ năng để giúp học sinh nắm vững kiến
thức và kĩ năng thực hiện.
I.3. Đối tượng nghiên cứu
Là học sinh lớp 4D3 (điểm trường buôn Dliêya A) thuộc Trường Tiểu học
Nguyễn Thị Minh Khai - Năm học 2012-2013
I.4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu trình bày một số biện pháp nhằm
giúp học sinh thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên. Phạm vi
áp dụng ban đầu là lớp 4D3 (điểm trường buôn Dliêya A) thuộc Trường Tiểu học
tạo; nó góp phần vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của con
người như lao động cần cù, cẩn thận, có ý thức vượt khó khăn, làm việc có kế
hoạch, có nền nếp và có tác phong khoa học.
Trong chương trình môn Toán ở Tiểu học, số học là nội dung trọng tâm, là hạt
nhân của quá trình dạy học toán từ lớp 1 đến lớp 5. Các nội dung về đại lượng và đo
đại lượng, yếu tố hình học, giải bài toán có lời văn được tích hợp với nội dung số
học, chúng ta dạy học dựa vào các nội dung số học và tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa
các nội dung của môn Toán lớp 4. Với nội dung số học, môn Toán lớp 4 bổ sung,
tổng kết quá trình dạy học số tự nhiên và chính thức dạy phân số. Ở học kỳ I lớp 4,
môn Toán chủ yếu tập trung vào bổ sung, hoàn thiện, tổng kết, hệ thống hoá, khái
quát hoá (ở mức độ đơn giản, ban đầu) về số tự nhiên, dãy số tự nhiên, hệ đếm thập
phân bốn phép tính (Cộng.trừ, nhân, chia) với số tự nhiên và một số tính chất của
các phép tính đó. Vì vậy việc dạy học sinh nắm vững kiến thức về số tự nhiên mà
đặc biệt là khả năng thực hiện bốn phép tính là một yêu cầu đặt ra cần phải thực
hiện tốt. Bởi vì sau khi học xong hết bậc Tiểu học it nhất học sinh cũng phải thực
hiện thành thạo được bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên.
II.2 Thực trạng:
a.) Thuận lợi – khó khăn:
* Thuận lợi
Trong quá trình dạy học bản thân cũng như các giáo viên khác luôn được Nhà
trường quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ cho công tác dạy học. Đội ngũ giáo viên Nhà
Giáo viên : Đổng Trọng An –Năm học 2012-2013 2
Giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân,
chia số tự nhiên
trường có tay nghề cao là điều kiện thuận lợi để giáo viên dự giờ học hỏi kinh
nghiệm. Học sinh có đầy đủ SGK và Giáo viên có đầy đủ sách hướng dẫn , được
học về cách sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại. Bản thân giáo viên yêu nghề,
có năng lực sư phạm.
- Các em học sinh đều được học 2 buổi/ngày. Buổi sáng học lý thuyết và buổi
chiều được luyện tập củng cố để khắc sâu kiến thức. Từ đó giúp các em có khả năng
phép chia; hơn nữa các em đều tự tin khi lên bảng thực hiện. Giáo viên sau khi
hướng dẫn tỉ mĩ ban đầu của những tiết lý thuyết thì ở những tiết sau thường rất
nhàn vì chỉ cần ra đề là học sinh đều có thể thực hiện được.
Giáo viên : Đổng Trọng An –Năm học 2012-2013 3
Giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân,
chia số tự nhiên
Mặt yếu của đề tài là thời gian hướng dẫn của giáo viên sẽ kéo dài so với tiết học,
có thể ảnh hưởng tới các tiết học khác.
d) Các nguyên nhân, các yếu tố tác động…
Xuất phát từ việc trong những năm qua khi tôi dạy học sinh lớp 4, nhiều em khi
thực hiện phép tính làm còn sai. Ở đây không chỉ các em sai về cách đặt phép tính
mà các em còn chưa nắm vững kiến thức nhất là các bảng cộng, bảng trừ, bảng
nhân-chia. Điều này không phải do lỗi ở các em mà một phần cũng do lỗi từ giáo
viên. Ngoài ra với việc cá em thường xuyên nghỉ học vào mùa rẫy cũng ảnh hưởng
không nhỏ tới việc học của các em. Trên lớp thì một số em chưa thực sự chú ý,
thường nhìn ra ngoài hoặc nói chuyện riêng với bạn. Những đối tượng này thường là
các em học yếu, hổng kiến thức các em cảm thấy việc học còn nặng nề.
Nguyên nhân nữa mà tôi muốn nói đến là sự quan tâm đến việc học của con cái
của phụ huynh ở nhà chưa cao ( có thể nói là chưa có) bởi vì họ còn phải lo mưu
sinh nhiều hơn. Nhiều gia đình bố mẹ ham vui đi làm về là mở nhạc, hoặc uống
rượu nên ảnh hưởng đến việc học của con.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra.
Lớp 4D3 với số lượng học sinh đầu năm là 20 em trong đó 100% học sinh đều là
học sinh đồng bào thiểu số. Có 14 em thuộc dân tộc tại chỗ, số còn lại chủ yếu là các
em thuộc dân tộc phía Bắc di cư vào. Do đó, như tôi đã trình bày ở trên trình độ
nhận thức của học sinh trong lớp kém hơn so với mặt bằng chung của toàn trường.
Vì là học sinh chủ yếu là người dân tộc thiểu số nên trình độ nhận thức của các em
kém hơn so với những học sinh người Kinh cùng trang lứa. Điều kiện hoàn cảnh gia
đình của mỗi em cũng khác nhau nên cũng ảnh hưởng đến việc học của các em.
Là lớp có nhiều học sinh yếu không chỉ ở phân môn toán mà các phân môn khác
thành hết các bài tập theo chuẩn, có em còn làm hết các bài tập trong sách giáo khoa
thì đa số học sinh trong lớp mới chỉ giải được một bài hoặc một hai phần trong bài
học
Phương pháp học tập chưa tốt:
-Một số em không thuộc bảng cộng , bảng trừ, bảng nhân , bảng chia, công thức,
quy tắc tính chu vi, diện tích các hình đã học; chưa đọc kĩ đề toán để phân biệt cái
đã cho và cái phải tìm đã vội bắt tay vào giải; không chịu thử lại sau khi làm tính,
luôn tẩy xoá trong bài làm. Nhiều em không chịu làm ra nháp hoặc làm bài nháp cẩu
thả gây ra sự lộn xộn nhầm lẫn khi làm bài vào vở.
Năng lực tư duy yếu:
- Tư duy thiếu linh hoạt : Nghe giáo viên phân tích giảng giải, học sinh yếu
không biết khái quát, không biết tư duy nên không nhớ trình tự tính toán, giải toán.
-Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng đều phát triển chậm.
-Khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, sử dụng ngôn ngữ toán học lúng
túng, nhiều chỗ lẫn lộn.
Biểu hiện bề ngoài là thái độ thờ ơ đối với học tập, ngại cố gắng, thiếu tự tin,
ngay cả khi làm đúng bài tập, giáo viên hỏi cũng lại ngập ngừng không tin mình làm
đúng bài tập. Thái độ trong lớp thụ động. Có thể thấy rõ đặc điểm này khi các em
làm toán hoặc trả lời. Các em thường đưa mắt theo dõi thầy cô. Hễ thấy thầy cô cau
mày là sợ cho rằng mình sai không dám làm tiếp. Vì vậy kết quả học toán thường
xuyên dưới trung bình.
II.3 Giải pháp, biện pháp
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Giúp học sinh sinh nắm vững kiến thức, có kĩ năng thực hiện bốn phép tính, đồng
thời các em thực hành tốt các bài tập cùng dạng được giao.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên với trình độ tiếp thu môn toán còn quá yếu
của lớp mình, tôi đã áp dụng các biện pháp sau:
Công tác tổ chức:
- Sau khi nhận lớp, cũng như các giáo viên khác, công việc đầu tiên của tôi là
nhiều lần đã cố gắng về nhà học lại bảng cộng, trừ, nhân, chia cho thuộc để hôm sau
sẽ trả lời đúng cho bạn. Trong khi đó học sinh có lực học khá hơn sẽ theo dõi và
giúp đỡ học sinh yếu.
- Để giải được bất kì dạng toán nào đạt kết quả thì các em phải có kĩ năng thực
hiện bốn phép tính cơ bản. Nên tôi dành nhiều thời gian cho việc rèn kĩ năng thực
hiện bốn phép tính cơ bản (cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên với số tự nhiên) vì thực
tế dạy phép tính nhân có phép tính cộng, dạy phép chia có phép tính trừ. Từ thực tế
giảng dạy tôi thấy học sinh thường mắc phải các sai lầm sau:
b1) Với phép tính cộng.
Đa phần các em sai bởi chưa thuộc bảng cộng. Việc đặt tính của các em chưa đúng
hàng, hoặc các em đặt lệch nên khi cộng các em thường cộng sai. Qua quan sát học
sinh làm bài tôi còn phát hiện ra khi làm các dạng bài về phép tính cộng có nhớ thì
các em thường quên nhớ dẫn đến kết quả sai. Mặt khác nhiều em đặt phép tính chưa
đúng, chưa thẳng hàng. Ví dụ khi cộng 34578 với 5432 có em đặt phép tính như sau:
34578 34578
+
5432 mà không phải là
+
5432
88898 40000
Dẫn đến kết quả làm bị sai
Giáo viên : Đổng Trọng An –Năm học 2012-2013 6
Giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân,
chia số tự nhiên
Vì vậy khi dạy phép cộng, biện pháp đầu tiên của tôi là giúp học sinh nắm vững
kiến thức về số tự nhiên, về hàng, về giá trị của các chữ số từ đó giúp các em nắm
vững cách đặt phép tính đúng, thẳng hàng. Tôi luôn lưu ý học sinh khi cộng phải
cộng từ phải sang trái cộng từ hàng đơn vị rồi mới đến các hàng tiếp theo lần lượt từ
phải qua trái. Đối với những học sinh hay quên nhớ tôi thường lưu ý các em mỗi lần
có hai , ba chữ số. Về phép nhân ở lớp 4, học sinh được học tất cả 15 bài trong SGK
trong đó có 11 bài lí thuyết và 4 bài thực hành. Trong phần bài lí thuyết có 1 bài
Nhân với số có một chữ số; 1 bài nhân với 10,100,1000…chia cho
10,100,1000…;một bài Nhân với số có tận cùng là chữ số 0; một bài nhân với số có
hai chữ số và hai bài nhân với số có ba chữ số. Mục tiêu của hai dạng bài tập sau là
Giáo viên : Đổng Trọng An –Năm học 2012-2013 7
27546 - 3564 54263 -24562 17566 - 6785
25896-
15115
65960-
36259
62384-
38402
Giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân,
chia số tự nhiên
biết cách nhân với số có hai, ba chữ số và nhận biết được các tích riêng trong phép
nhân. Nhưng trong quá trình thực hiện học sinh thường mắc nhiều lỗi như:
Đặt các tích riêng trùng với nhau như khi thực hiện phép cộng.
Quá trình nhân có nhớ lại không nhớ hoặc nhớ lộn xộn. Ví dụ như có em nhân 25 x
5 bằng 25 viết 5 nhớ 2 nhưng các em lại làm ngược lại viết 2 nhớ 5.
Biện pháp mà tôi đưa ra để khắc phục tình trạng các em nhân sai là khi dạy dến
các dạng bài tập này giáo viên cần thao tác chậm để học sinh nắm bắt được cách
nhân. Các trường hợp nhân thì có nhiều nhưng xin được đơn cử ra đây mấy trường
hợp sau cần làm chậm để các em nắm rõ.
Trường hợp nhân với số có hai chữ số. Dạng phép tính này là tương đối mới so với
học sinh. Về cách thực hiện dạy lí thuyết tôi hoàn toàn thống nhất như cách dạy
trong sgv hướng dẫn nhưng ở phần thực hành nhân trước khi nhân giáo viên cần làm
rõ cho học sinh đây là phép nhân số có mấy chữ số với số có mấy chữ số. Sở dĩ tôi
nói điều này bởi vì để các em nhớ số lần nhân và cách đặt các tích riêng. Ví dụ khi
nhân 1377 với 25 là phép nhân giữa số có bốn chữ số với số có hai chữ số nên mỗi
8685
2754
36225
Giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân,
chia số tự nhiên
đánh giá được kết quả thực hiện của từng em qua đó nhận biết được kĩ năng nhân
của từng em, nắm bắt được chỗ hổng của từng em để khắc sâu cho các em.
b4) Với phép tính chia
Nội dung dạy học phép chia các số tự nhiên ở lớp 4 chủ yếu được thể hiện
trong SGK qua 18 bài học, trong đó 11 bài học “lý thuyết” và 7 bài “luyện tập”; học
sinh được luyện tập qua một số bài tập trong một số bài học tiếp theo. Trong 11 bài
học “lý thuyết” có 3 bài về “ Chia cho số có hai chữ số” và 2 bài “ Chia cho số có ba
chữ số”. Mức độ cần đạt khi dạy học phép chia các số tự nhiên ở lớp 4 là: “Biết đặt
tính và thực hiện phép chia số có nhiều chữ số cho số có không quá hai chữ số
(thương có không quá ba chữ số)”, “ Biết chia chuẩn cho 10, 100, và 1000,…”. Do
đó khi dạy học về phép chia số tự nhiên ở lớp 4 thì giáo viên cần chú trọng vào dạy
học chia số có nhiều chữ số cho số có một chữ số, hai chữ số. Với phép chia số có
nhiều chữ số cho số có ba chữ số chỉ có tính chất giới thiệu cho tất cả học sinh và
dành cho học sinh khá, giỏi thực hiện các bài tập trong sách giáo khoa.
Ở lớp 3, các em đã được học chia các số tự nhiên có 5 chữ số cho số có một chữ
số: đặt phép chia và các thao tác chia ( chia theo thứ tự từ trái sang phải, mỗi lần
chia thực hiện lần lượt các thao tác như chia trong bảng, nhân trong bảng, thực hiện
trừ nhẩm)
Ở lớp 4 , kĩ thuật chia số tự nhiên đến sáu chữ số cho số tự nhiên có một chữ số
(cả chia hết và chia có dư) hoàn toàn tương tự chia số có năm chữ số cho số có một
chữ số.
Đối với phép chia số tự nhiên có đến sáu chữ số cho số có một chữ số thì không
quá khó với học sinh khi tìm thương trong mỗi lần chia.Nhưng với phép chia cho số
có hai chữ số. giáo viên cũng hướng dẫn học sinh cách đặt tính và các thao tác thực
hiện chia như đã làm phép chia cho số có một chữ số. Tuy nhiên, một điều đặc biệt
Lần 2 Hạ 5, được 105; 105 chia 35 được 3, viết 3;
3 nhân 5 bằng 15, viết 5 nhớ 1;
3 nhân 3 bằng 9, thêm 1 bằng 10, viết 10;
105 trừ 105 bằng 0, viết 0.
Vậy 1855 : 35 = 53
Khi học sinh đã chia thành thạo được rồi tôi hướng dẫn các em cách trừ nhẩm
Cách hướng dẫn thực hiện:
Lần 1: 185 chia 35, viết 5;
5 nhân 5 bằng 25; 25 trừ 25 bằng 0; viết 0 nhớ 2;
5 nhân 3 bằng 15,thêm 2 bằng 17; 18 trừ 17 bằng 1,viết 1;
Lần 2: Hạ 5, được 105; 105 chia 35 được 3, viết 3
3 nhân 5 bằng 15; 15 trừ 15 bằng 0, viết 0 nhớ 1
3 nhân 3 bằng 9, thêm 1 bằng 10; 10 trừ 10 bằng 0, viết 0
Vây: 1855: 35 = 53.
Trường hợp học sinh yếu không thuộc bảng cửu chương khi chia các em thường
gặp khó khăn. Ngoài cách hướng dẫn như đã trình bày ở trên tôi còn sử dụng cách
làm sau:
Trường hợp chia 1855: 35 học sinh sẽ nhẩm với bảng chia 3. Tôi yêu cầu các em
này viết bảng chia 3 ra và tìm vị trí của số 18 trong bảng ta được 18 chia 3 bằng 6
nhưng khi nhân lên kết quả lớn hơn 185 nên ta hạ thương xuống là 5. Tiếp tục với
lần chia tiếp theo ta nhẩm 10 với 3 và tìm số gần với 10 trong bảng chia 3 được kết
quả phép chia là 3 và cuối cùng thực hiện như cách chia ở trên.
Trường hợp chia cho số có ba chữ số cũng vậy. Giáo viên cũng yêu cầu học sinh
thực hiện cách chia nhẩm với số đầu tiên của số chia. Khuyến khích các em thử đi
thử lại nhiều lần để có kết quả đúng. Giáo viên tuyệt đối không được làm thay cho
học sinh mà phải yêu cầu các em thực hiện từng bước một. Việc các em thực hiện
phép tính nhiều lần các em sẽ cảm thấy việc chia đơn giản hơn và sẽ kiên trì thực
hiện phép tính. Các em sẽ không ngại mỗi khi có phép tính chia cho số có hai, ba
chữ số. Đối với phép chia tôi rút ra được một quy tắc giúp các em chia đúng và
chính xác là :GV lưu ý học sinh phải luôn chia nhẩm với số đầu của số chia.
cho các em xác định đúng, sai. Nếu sai thì phải giải thích, chỉ ra nguyên nhân sai và
nêu cách sửa. Khi các em đã làm được điều này nghĩa là các em không mắc sai lầm
nữa.
Với tất cả các dạng bài trên để khắc sâu kiến thức tôi cho học sinh làm đi làm
lại nhiều lần. Bên cạnh đó, trong quá trình giảng dạy, cung cấp kiến thức, nếu liên
quan đến kiến thức cũ hoặc công thức quy tắc tôi đều dừng lại 5 phút đến 10 phút để
củng cố ôn tập. Khi dạy tôi cố gắng đưa ra câu hỏi phù hợp với trình độ học sinh lớp
mình làm sao cho tất cả các em được yêu cầu cơ bản của bài học. Trong từng tiết
học, tôi chịu khó chấm bài để kiểm tra trình độ học sinh, phát hiện những sai lầm
của các em để kịp thời uốn nắn sửa chữa.
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp.
Để thực hiện được các biện pháp nêu trên đây không phải là một việc làm khó
mà nó đòi hỏi người giáo viên phải biết kiên trì, nhẫn nại. Khi dạy những dạng bài
tập này giáo viên cần chuẩn bị cho học sinh một tâm lí thoải mái, không ngại khó
,ngại khổ. Những học sinh chưa thuộc bảng cộng trừ, nhân, chia nhất thiết phải cho
các em ôn lại để các em nắm cách thực hiện. Giáo viên phải thận trọng trong khi
nhận xét bài làm của học sinh. Luôn phải khen các em nếu các em có những biểu
hiện tiến bộ. Không trách móc, chê bai học sinh khiến các em tự ti với bạn bè.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các giải pháp biện pháp tôi nêu ra trên đây có mối quan hệ khăng khít với nhau.
Giải pháp này là tiền đề cho giải pháp kia, nó thúc đẩy quá trình để học sinh nắm
vững kiến thức. Từ khâu tổ chức lớp học cho đến khâu hướng dẫn học sinh luyên
tập thực hành đều liên quan với nhau. Chỉ cần giáo viên không để ý đến một khâu
nào đó thì học sinh sẽ nắm không vững được cách thực hiện. Tôi lấy ví dụ như khi
Giáo viên : Đổng Trọng An –Năm học 2012-2013 11
244
8
00
8
0
0 – 1 2 – 3 – 4 5 – 6 7 – 8 9 - 10
Giữa kì I 20 3 8 5 4
Cuối kì I 20 1 9 6 4
/ Kết luận: Trên đây là cách dạy của tôi về dạy phép nhân, chia cho số có hai chữ số.
Tôi rất mong các bạn đọc, đóng góp thêm ý kiến để phương pháp dạy phép nhân,
chia đạt kết quả cao nhất.
II.4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, khi học sinh đã được củng cố, khắc sâu, mở rộng và rèn
kĩ năng luyện tập thực hành về các dạng bài tập “củng cố kĩ năng thực hiện bốn
phép tính” lớp 4 tôi thấy kết quả của việc làm đó như sau:
- Học sinh được tổ chức hoạt động một cách độc lập, tìm tòi kiến thức, tầm
nhận thức đối với mọi đối tượng học sinh là phù hợp, nên học sinh tiếp thu một cách
có hiệu quả.
- Các em biết dựa vào kiến thức lý thuyết để vận dụng làm các bài tập một
cách chủ động.
- Với phương pháp tổ chức này học sinh nắm kiến thức một cách sâu sắc có
cơ sở, được đối chứng qua nhận xét của bạn, của giáo viên.
- Các em đã hình thành được thói quen đọc kỹ bài, xác định yêu cầu của bài.
Không còn tình trạng bỏ sót yêu cầu của đề bài.
- Học sinh có ý thức rèn cách trình bày sạch sẽ, khoa học, hợp lý. Ngoài ra
học sinh còn có thêm thói quen kiểm tra, soát lại bài của mình.
- Qua việc giảng dạy theo dõi kết quả của học sinh qua các giờ kiểm tra, bài
kiểm tra định kỳ của học sinh tôi thấy: Học sinh sẵn sàng làm bài tập bất kỳ lúc nào.
Giáo viên : Đổng Trọng An –Năm học 2012-2013 12
Giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân,
chia số tự nhiên
Đó cũng nói lên học sinh đã bắt đầu yêu thích môn học, mạnh dạn nêu ý kiến của
mình.
- Tuy kết quả tôi nêu trên hết sức sơ lược và ở phạm vi nhỏ, song nó cũng góp phần
* Đối với nhà trường và các cấp quản lý: Nhà trường cần tạo điều kiện cơ sở
vật chất để giáo viên và học sinh có thể học tập nâng cao kiến thức.
+ Tạo điều kiện để giáo viên nâng cao tay nghề qua việc cung cấp các loại
sách tham khảo, trang thiết bị phục vụ bộ môn.
+ Động viên khuyến khích kịp thời những giáo viên, học sinh đạt nhiều thành
tích cao trong giảng dạy và học tập.
+ Quan tâm xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ.
Giáo viên : Đổng Trọng An –Năm học 2012-2013 13
Giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân,
chia số tự nhiên
Trong quá trình thực hiện đề tài vẫn còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong được
những ý kiến đóng góp của ban giám khảo cùng các bạn đồng nghiệp để sáng kiến
này được hoàn thiện hơn.
Dliêya , ngày 1 2 tháng 3 năm 2013
Người viết:
ĐỔNG TRỌNG AN
Giáo viên : Đổng Trọng An –Năm học 2012-2013 14
Giúp học sinh lớp 4 có kĩ năng thực hiện tốt bốn phép tính cộng, trừ, nhân,
chia số tự nhiên
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO, PHỤ LỤC
TT Tên tác giả Tên sách Nhà xuất bản
1 Đỗ Trung Hiệu, Đỗ
Đình Hoan, Vũ Quốc
Chung, Vũ Dương
Thuỵ
Phương pháp dạy học môn
Toán ở Tiểu học
NXB Giáo dục
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
CẤP HUYỆN
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Giáo viên : Đổng Trọng An –Năm học 2012-2013 16