1
Trong đời sống hàng ngày, con người tiếp nhận thông tin qua nhiều phương
tiện khác nhau.Thông tin rất đa dạng và phong phú, mỗi người
tiếp nhận nó với nhiều góc cạnh và sử dụng để làm lợi cho mình.
Đối với nhà đầu tư thì thông tin về hoạt động tài chính của các
công ty rất cần thiết, họ luôn luôn quan tâm và không ngừng phân
tích nhằm tìm ra hướng đầu tư tốt nhất cho mình.
Hoạt động tài chính trong doanh nghiệp là mạch sống của doanh nghiệp, nó liên
quan tới tất cả các khâu từ sản xuất đến kinh doanh, hoạt động tài
chính là chuỗi hoạt động huy động vốn cho sản suất kinh doanh
đồng thời quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả trên cở sở chấp
hành nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách, chế độ quy định về tài
chính tín dụng của Nhà nước.
Dưới tác động của các yếu tố pháp lý, yếu tố thị trường thì các thông tin về hoạt
động tài chính của các doanh nghiệp ngày càng được công khai
minh bạch hóa, đặc biệt đối với các công ty đã và đang hướng đến
việc chào bán cổ phiếu của mình ra thị trường.Tuy nhiên, việc
thông tin bất cân xứng cũng đã ảnh hưởng không tốt tới lòng tin
của các nhà đầu tư vào các bảng báo cáo tài chính của các công ty.
Chính vì thế cần phải đầy mạnh công tác phân tích nhằm nâng cao
tính hiệu quả và mức độ tin cậy về thông tin ở các báo cáo tài
chính để nắm rõ về hoạt động tài chính của một doanh
nghiệp.Dựa trên các báo cáo mà doanh nghiệp lập và các công
cộng phân tích phổ biến các thông số kế toán sẽ được xác định
các nguyên nhân thay đổi từ đó đưa ra các kết luận thích hợp.
Phạm vi phân tích là các diễn biến tài chính của doanh nghiệp thể hiện qua các
báo cáo tài chính của doanh nghiệp, trong đó gồm có Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ,Thuyết minh báo cáo tài chính, Bảng cân đối kế
toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.Ở đó, Bảng cân đối
kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh sẽ cho hầu hết các chỉ số
cần để phân tích.
tài chính doanh nghiệp đồng thời giúp doanh nghiệp hoàn thiện
hơn trong công tác quản lí tài chính của mình.
1.1.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Hoạt động phân tích nhằm đối chiếu, kiểm tra các số liệu của các quý quá khứ
ở các báo cáo tài chính để đưa ra những nhận xét về vấn đề tồn
tại, các rủi ro tiềm ẩn, đề xuất các hướng cải tạo cụ thể giúp cho
tình hình tài chính doanh nghiệp trở nên tốt đẹp hơn.
Báo cáo phân tích tài chính sẽ rất hữu ích không những cho chính doanh
nghiệp mà còn ảnh hưởng tới quyết định của một bộ phận bên
ngoài như : sự quản lý cơ quan nhà nước, đầu tư của các nhà đầu
tư cá nhân, các đối tác, khách hàng…Mỗi đối tượng quan tâm
dưới góc độ khác nhau nhưng luôn mưu cầu sự chuẩn xác ở thông
tin của các bảng báo cáo phân tích tài chính doanh nghiệp.
4
1.1.2.1 Đối với người quản trị, các cổ đông, lực lượng lao động trong
doanh nghiệp
Người đứng đầu doanh nghiệp lo lắng về nền tài chính của công ty, họ phải
tìm cách cân đối tài chính,giữa nguồn đầu tư và các nguồn tài trợ nhằm tránh
khả vỡ nợ và mang đến khả năng sinh lợi cho công ty.Họ luôn dựa kết quả phân
tích tài chính của các quý quá khứ để có sự điều chỉnh trong chiến lược đầu tư
ngắn hạn cũng như dài hạn ở các quý sau.Người quản lý cùng với những áp lực
về doanh thu, lợi nhuận, cổ tức cho các cổ đông của công ty nên họ phải nâng
cao công tác quản lý, kiểm soát hạn chế xãy ra rủi ro tài chính loại trừ những rủi
ro chung của thị trường.Bên cạnh đó, để nhận được phần lợi nhuận như mong
đợi thì các cổ đông cũng nắm rất rõ tình hình tài chính của công ty qua sự phân
tích riêng của mình hay qua kết quả đáng tin cậy của các nhà phân tích chuyên
môn, để rồi họ có những đề xuất mang tầm chiến lược lên ban quản trị nhằm
đưa ra ý kiến thống nhất về cách điều hành, đầu tư và phát triển của doanh
nghiệp.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp không những ảnh hưởng tới nhà lãnh
nghiệp.
Tính toán nhằm triệt tiêu các rủi ro tìm ẩn và khơi dậy nội lực tài chính
trong công ty để đưa doanh nghiệp đi đúng quỹ đạo đã được hoạch định
và phát triển bền vững.
1.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
1.3.1 Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp
Nhà phân tích tài chính sẽ quan tâm tới tất cả các thông tinh có liên quan đến
sự hình thành và hoạt động của tài chính doanh nghiệp.Trong đó, sự tổng hợp
thông tin ở các báo cáo kế toán là hết sức quan trọng vì nó tập trung tất cả các
nghiệp vụ của doanh nghiệp đã và sẽ phát sinh.Tất cả các thông tin đó sẽ được
tổng hợp trên báo cáo tài chính.Báo cáo tài chính gồm có : Bảng cân đối kế
6
toán, báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo
cáo tài chính.
1.3.1.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính
của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đấy là một báo cáo
tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời
điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành
tài sản. Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa
tài sản và nguồn vốn.
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là
bản cân đối kế toán.Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một cách
tổng quát tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng
vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày:
- Hình thức cân đối hai bên: Bên trái là phần tài sản, bên phải là phần
nguồn vốn.
- Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản, phần
dưới là phần nguồn vốn.
khoản phải trả.
+ Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp.
1.3.1.2 Báo cáo kết quả kinh doanh
Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài
chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh
doanh. Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất
kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của vốn trong quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó cho phép dự tính khả năng
hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả sản
xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp cho nhà phân tích so sánh
doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ với
8
tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh
nghiệp. Trên cơ sở đó, có thể xác định được kết quả sản xuất kinh
doanh : lãi hay lỗ trong năm. Như vậy, báo cáo kết quả kinh
doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh
tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất
định. Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết
quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ
quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Biểu mẫu “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” có 3 phần:
+ Phần I: Lãi, lỗ.
+ Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
+ Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được
miễn giảm.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được lập trên cơ sở
các tài liệu:
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước.
+ Sổ kế toán trong kỳ của các tài khoản từ loại 5 đến loại 9.
+ Sổ kế toán các tài khoản 133 “Thuế GTGT được khấu trừ” và tài
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về
tình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồng
thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được
trình bày nhằm giúp cho người đọc và phân tích các chỉ tiêu trong báo cáo tài
chính có một cái nhìn cụ thể và chi tiết hơn về sự thay đổi những khoản mục
trong bảng cân đối kế toán và kết quả hoạt động kinh doanh.
“Thuyết minh báo cáo tài chính” được lập căn cứ vào những số liệu và
những tài liệu sau:
+ Các sổ kế toán kỳ báo cáo.
+ Bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo.
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo.
+ Thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trước, năm trước.
10
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày 8 chỉ tiêu nhằm cụ thể hoá các
chỉ tiêu mà bảng cân đối kế toán không thể nêu lên hết được bao gồm:
- Chỉ tiêu 1: Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu 2: Kỳ kế toán, đơn vị sử dụng trong kế toán
- Chỉ tiêu 3: Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng
- Chỉ tiêu 4: Các chính sách kế toán áp dụng
- Chỉ tiêu 5: Thông tin bổ sung các khoản mục trình bày trong bản cân đối
kế toán
- Chỉ tiêu 6: Thông tin bổ sung các khoản mục trình bày trong báo cáo kết
quả kinh doanh
- Chỉ tiêu 7: Thông tin bổ sung các khoản mục trình bày trong báo cáo
lưu chuyển tiền tệ
- Chỉ tiêu 8 : Thông tin khác
Tác dụng của việc phân tích “ Thuyết minh báo cáo tài chính”
Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính sẽ cung cấp bổ sung những
thông tin chi tiết, cụ thể hơn về một số tình hình liên quan đến hoạt động kinh
doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Cụ thể:.
thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích,
đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá
trình dự đoán và quyết định.
1.4.3 Dự đoán và quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện
cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra những quyết
định tài chính. Có thể nói mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết
định tài chính. Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ra
những quyết định liên quan đến mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng
trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá giá trị doanh nghiệp.
1.5 Các phương pháp phân tích tài chính
Việc phân tích tài chính cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp để có thể lựa
chọn phương pháp tối ưu, hay việc sử dụng kết hợp các phương
12
pháp còn mang tính bắt buột khi đã sử dụng một phương pháp mà
các thông số cần thiết chưa thật chuẩn xác.
Thông thường các nhà phân tích thường sử dụng hai phương pháp phổ
biến là : phân tích ngang và phân tích dọc báo cáo tài chính.Cụ thể là : Phân tích
ngang báo cáo tài chính là việc so sánh đối chiếu tình hình biến động cả về số
tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính, còn
phân tích dọc là việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương
quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính
với nhau để rút ra kết luận.Sau đây là một số phương pháp phổ biến thường
dùng trong phân tích :
1.5.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh theo chiều ngang:
Khái niệm: Phân tích theo chiều ngang là điểm khởi đầu chung cho việc nghiên
cứu các báo cáo tài chính, bằng cách tính số tiền chênh lệch và tỷ lệ phần trăm
chên lệch của năm nay so với năm trước
Ý nghĩa:
- Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính
1.6.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp quan bảng
cân đối kế toán
Bước đầu phần tích bảng cân đối kế toán các nhà phân tích thường sử dụng
công cụ phân tích theo tỷ trọng .Bởi vì khi phân tích theo tỷ trọng một bảng cân
đối kế toán thường được mở rộng chi tiết hơn nhằm xem xét các khoản cấu
thành nên các nhóm nhỏ hơn trong bảng.Lần lượt phân tích :
Đây là phần tài sản tham gia vào trong chu kỳ sản xuất kinh doanh trong
thời gian dài.
1.6.1.1 Phân tích khái quát tình hình tài sản
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, trước tiên phải so
sánh tổng tài sản đầu kỳ và cuối kỳ. Qua so sánh, có thể thấy được sự thay đổi
14
quy mô tài sản mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ. Tuy nhiên, số tổng cộng của
tài sản tăng giảm là do nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó cần đi sâu phân tích
thành phần cơ cấu của tài sản.
Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài
hạn.Trong đó, tài sản ngắn hạn là các tài sản có thể chuyển thành tiền mặt trong
chu kỳ kinh doanh của công ty, gồm tiền mặt, các khoản tương đương
tiền,chứng khoán, các khoản phải thu, hàng tồn kho, chi phí phải trả.Tài sản dài
hạn là nguồn lực tham gia vào tạo ra lợi nhuận của công ty trong nhiều kỳ kinh
doanh.Đó là đất đai, các thiết bị, máy móc, các khoản đầu tư dài hạn, tài sản vô
hình.Để thấy được tác động của từng khoản mục tài sản đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của đơn vị phải tiến hành phân tích từng chỉ tiêu :
Tài sản ngắn hạn
Khoản mục đầu tiên ảnh hưởng đến tài sản ngắn hạn là khoản mục tiền mặt và
các khoản tương đương tiền.Tiền mặt bao gồm tiền, séc, ngân quỹ ký thác, các
khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn có tính thanh khoản cao
có khả năng chuyển sang tiền mặt.Khoản mục tiền và các khoản tương đương
tiền thể hiện chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình hình tài chính của doanh
trong kỳ, xem xét nó nhằm đánh giá tác động cảu sự thay đổi này
lên khoản mục tài sản tổng thể và lên báo cáo tài chính.Trong đó,
điều đầu tiên là phân tích các biến động thuộc về tài sản cố định :
máy móc, thiết bị, nhà xưởng, xem xét các số liệu về khấu hao,
giá trị còn lại trên bảng cân đối kế toán từ đó đưa ra nhận xét về
sự hợp lý của các chỉ tiêu này.
Qua phân tích tổng quát tình hình tài sản của đơn vị ta có thể thấy được sự thay
đổi các chỉ tiêu chi tiết, sự ảnh hưởng của chúng lên chỉ tiêu tổng
thể để tư đó đưa ra kết luận về vấn đề cần đi phân tích.
1.6.1.2 Phân tích khái quát tình hình nguồn vốn
Khi đi phân tích nguồn vốn tức là các nhà phân tích đang thăm dò về khả năng
tự tài trợ của doanh nghiệp, tài trợ bởi nợ vay hay vốn chủ sở hữu.Phân tích các
chỉ tiêu :
1.6.1.2.1 Phân tích nợ phải trả
16
Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn có khoản thời gian thanh toán dưới một năm, nó liên quan mật
thiết với các khoản thanh toán xung quanh việc sử dụng các tài
sản lưu động.Nợ ngắn hạn phân ra làm hai loại:
- Loại nợ phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh : Các chi phí
phải trả, thuế phải nộp, phải trả người bán…
- Loại nợ phát sinh từ hoạt động tài trợ : các khoản vay, nợ dài hạn đến
hạn trả
- Qua sự phân tích các chỉ tiêu của khoản mục nợ ngắn hạn các nhà phân
tích sẽ đưa ra nhận xét vì tình hình tài chính của doanh nghiệp có đảm
bảo để thanh toán các khoản nợ này hay không, tỷ trọng nợ có phù hợp
với tính chất hoạt động của công ty hay không.Đặc biệt qua khoản nợ
vay có thể đánh giá được công ty nay có tự chủ được về tài chính hay
không, hay họ đang đẩy mạnh sử dng đòn bẩy tài chính, để làm được
điều này thì phải đi phân tích các lợi ích mà khoản vay đem lại có bồi
nghiệp này đang hoạt động, nhằm phân loại phương pháp chi phí
và ảnh hưởng của nó tới công ty.Phân tích giá vốn hàng bán còn
là tiền đề để phân tích lợi nhuận gộp trong doanh nghiệp.
- Lợi nhuận gộp :Nhà phân tích đặc biệt chú ý đến các nhân tố giải thích
những thay đôi trong doanh thu và giá vốn hàng bán khi đi phân
tích lợi nhuận gộp.Chỉ tiêu này được công khai nưng các yếu tố
làm thay đổi nó thường được giữ kín vì là thông tin nội bộ doanh
nghiệp nên khi phân tich thông thường rất khó xác định bản chất
của sự thay đổi.
- Phân tích chi phí : thường được đánh giá theo tỷ trọng, thể hiện mối quan
hệ phần trăm với doanh thu.Các công ty khác nhau thì mối quan
hệ giữa chi phí với doanh sẽ khác nhau vì tỷ trọng của từng loại
chi phí trong chỉ tiêu chi phí tổng thể là khác nhau.
18
Qua sự phân tích tổng quan các chỉ tiêu tiêu trên các nhà phân tích sẽ xác định
được tính chính xác các chỉ tiêu sau như :lợi nhuân thuần từ hoạt
động kinh doanh, tổng lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận sau
thuế TNDN, đưa ra các số liệu chứng minh mối quan hệ, thể hiện
sự thay đổi trong cơ cấu từ đó dự đoán được tình hình sản xuất
kinh doanh của doanh nhiệp ở các quý tiếp theo.
1.6.3. Phân tích các tỷ số tài chính
1.6.3.1. Tỷ số thanh toán
- Tỷ số thanh toán hiện hành: Là tỷ số đo lường khả năng thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp và tỷ số này được sử dụng rộng rãi trong
doanh nghiệp.
T ỷ số thanh ¿ án hi ệ nh à nh=
T ài s ả n ng ắ n hạ n
N ợ ng ắ n hạ n
Tỷ số này cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển thành tiền
ra sao. Hiệu quả của việc sử dụng nợ vay và các đòn bẩy như thế nào.
- Tỷ số nợ:
T ỷ số n ợ=
T ổ ng nợ
T ổ ngt à i s ả n
×100
Tỷ số này nói lên kết cấu vay nợ của doanh nghiệp. Nếu tỷ số này quá lớn thì
phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp thiếu lành mạnh, mức độ rủi ro
cao và khi có cơ hội đầu tư hấp dẫn, doanh nghiệp khó có thể huy động đực vốn
bên ngoài.
Trong đó:
+ Tổng nợ bao gồm: Tổng nợ ngắn hạn và nợ dài hạn của doanh nghiệp tính cho
đến thời điểm lập báo cáo.
+ Tổng tài sản bao gồm: Tổng tài sản ngắn hạn và tổng tài sản dài hạn.
- Tỷ số thanh toán lãi vay: Một số thay đổi trong bảng tổng kết tài sản cho biết
tình hình của đòn cân nợ. Gánh nặng tài chính mà công ty phải đương đầu do
việc sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động kinh doanh hoàn toàn không phụ thuộc
vào tỷ lệ giữa số nợ so với tài sản hay so với vốn chủ sở hữu mà phụ thuộc vào
khả năng của công ty trong việc tạo ra dòng tiền mặt thanh toán nợ theo yêu cầu
20
hàng năm. Điều này dẫn đến việc hình thành lên các hệ số thanh toán Hệ số
thanh toán thông dụng nhất là hệ số thanh toán lãi vay.
T ỷ số thanh ¿ ánl ãi vay =
L ợ i nhuậntr ướ cthu ế +L ãi vay
L ãi vay
1.6.3.3 Tỷ số hoạt động kinh doanh
Vòng quay hàng tồn kho:
Số vòng quay hàng tồn kho là một chỉ tiêu dùng để đánh giá doanh thu sử dụng
hàng tồn kho hiệu quả thế nào. Quy mô hàng tồn kho của doanh nghiệp có thể
Nhân tố tài sản cố định được xác định trên cơ sở giá trị còn lại của tài sản cố
định đến thời điểm lập báo cáo. Nó được xác định dựa vào nguyên giá tài sản
cố định sau khi trừ khấu hao tích luỹ đến thời điểm lập báo cáo. Tỷ số này đánh
giá tổng quát về tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Việc sử dụng tài sản cố
định có hiệu quả hay không, ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu và hoạt động kết
quả kinh doanh của một doanh nghiệp.
1.6.3.4 Tỷ số doanh lợi
Doanh lợi tiêu thụ (ROS):
Chỉ tiêu doanh lợi tiêu thụ, hệ số này đặc biệt quan trọng đối với các giám đốc
điều hành do nó phản ánh chiến lược giá của công ty trong việc
kiểm soát các chi phí hoạt động, nghĩa là ROS cho biết xu hướng
công ty tiết kiệm được chi phí hoạt động khi ROS tăng.
ROS =
L ợ i nhu ậ n sauthuế
Doanh thuthuầ n
×100
Doanh lợi tài sản (ROA):
ROA là thước đo bao quát nhất khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Nếu ROA
quá cao sẽ làm cho nhà phân tích tài chính lo lắng vì rủi ro luôn song hành với
lợi nhuận.
22
ROA=
L ợ inhu ậ nsau thuế
T ổ ng t ài s ản
×100
Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE):
ROE là thước đo quan trọng về khả năng sinh lợi từ quan điểm chủ sở hữu.
ROE =
L ợi nhuậ n sauthuế
V ố nch ủ sở h ữ u
Số vòng quay tài sản
1
x
Xem xét qua chỉ số Dupont để tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn sở hữu thì doanh
nghiệp cần phải:
- Tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, có nghĩa là phải tiết kiệm chi phí, tăng
doanh thu để tăng tổng mức lợi nhuận và đạt tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc
độ tăng doanh thu.
- Tăng tốc độ luân chuyển tài sản, có nghĩa là doanh nghiệp phải tăng doanh thu
và đầu tư, dự trữ tài sản hợp lý.
- Giảm tỷ lệ vốn chủ sở hữu, điều này có nghỉa doanh nghiệp phải đảm bảo tốc
độ tăng vốn sở hữu thấp hơn tốc độ tăng tài sản.
=
Tỷ lệ vốn chủ sở
x
24
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TƯ VẤN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG AN CƯ
2.1Giới thiệu chung về công ty cổ phần tập đoàn Tư Vấn Đầu Tư
Xây Dựng An Cư
2.1.1Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần tập đoàn
TV- ĐT- XD An Cư
2.1.1.1 Quá trình hình thành công ty
Tên công ty : CÔNG TY CP TẬP ĐOÀN TƯ VẤN- ĐẦU TƯ-XÂY
DỰNG AN CƯ
25
Tên giao dịch : AN CU IVESTMENT CONSTRUCTION CONSULTION
GROUP JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắc : AN CU GROUP JSC
Trụ sở chính 1/6/52A Đường số 1, P.07,Q.Gò Vấp, Tp.HCM