BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TR
ƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU NHÀ NƯỚC
LÊN CHI PHÍ ĐẠI DIỆN: NGHIÊN CỨU TẠI
SÀN CHỨNG KHOÁN HỒ CHÍ MINH
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ THU THỦY
MÃ SINH VIÊN : A19914
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH
HÀ N
ỘI – 2014BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TR
ƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU NHÀ NƯỚC
LÊN CHI PHÍ ĐẠI DIỆN: NGHIÊN CỨU TẠI
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam ñoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ
từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các
dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và ñược trích dẫn rõ
ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam ñoan này!
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Thủy
Thang Long University LibraryMỤC LỤC
CHƯƠNG 1.
GIỚI THIỆU 1
1.1.
Tính cấp thiết của ñề tài 1
1.2.
Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3.
Giả thuyết nghiên cứu 3
3.1.
Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 13
3.1.1.
Quá trình phát triển của thị trường chứng khoán 13
3.1.2.
Hoạt ñộng của thị trường chứng khoán 14
3.1.3.
Điều hành thị trường chứng khoán 14
3.1.4.
Các thành tựu ñạt ñược của thị trường chứng khoán Việt Nam 15
3.1.5.
Những tồn tại của thị trường chứng khoán 19
3.2.
Cổ phần hóa 20
3.2.1.
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 32
5.1.
Kết luận 32
5.2.
Một số khuyến nghị 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Tiếng Việt 35
Tiếng Anh 36
PHỤ LỤC 38
Mô hình phân tích số liệu mảng và sử dụng trong Stata 38
1.
Một số khái niệm và ký hiệu 38
2.
Một số phương pháp ước lượng cơ bản 39
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Bảng 3.1: VN-index lọt vào top 5 thị trường tăng trưởng mạnh nhất Thế giới 17
Bảng 3.2: Tóm tắt về khung pháp lý qua các năm 19
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến mô hình (1) 28
Bảng 4.2: Kết quả ước lượng mô hình (1) với tác ñộng ngẫu nhiên 29
Bảng 4.3: Kết quả kiểm ñịnh Hausman 30
Bảng 4.4: Kết quả ước lượng mô hình (1) với tác ñộng cố ñịnh 31
Bảng A.1: Số liệu mảng về năng suất lúa 38
Bảng A.2: Kết quả kiểm ñịnh LM của mô hình (1) cho việc lựa chọn mô hình tác ñộng
ngẫu nhiên và mô hình Pooled OLS 47
Bảng A.3: Kết quả kiểm ñịnh phương sai thay ñổi mô hình (1) 47
Biểu ñồ 3.1: Số lượng công ty niêm yết từ năm 2000 ñến nửa ñầu năm 2014 15
Biểu ñồ 3.2: Chỉ số VN-index từ năm 2000 ñến ngày 30/6/2014 16
Biểu ñồ 3.3: Khối lượng và giá trị giao dịch từ năm 2000 ñến ngày 30/6/2014 17
Biểu ñồ 3.4: Số lượng tài khoản giao dịch từ năm 2000 ñến ngày 30/6/2014 18
Hình A.1: Quy trình kiểm ñịnh 46
của các cổ ñông thông qua việc tăng giá trị doanh nghiệp trong khi ñó lợi ích của nhà
quản lý lại gắn liền với thu nhập mà họ nhận ñược. Lý thuyết ñại diện ñề cập ñến cái
gọi là mâu thuẫn ñại diện, hay mâu thuẫn giữa lợi ích của người chủ và người ñại diện.
Vì vậy chi phí ñại diện chính là chi phí ñể duy trì hiệu quả mối quan hệ ñại diện.
Kể từ nghiên cứu của Jensen Meckling (1976), ñã có nhiều nghiên cứu thực
nghiệm trên thế giới ñi sâu tìm hiểu về vấn ñề chi phí ñại diện trong các công ty cổ
phần. Trong ñó nhiều tác giả ñã dành thời gian tìm hiểu về các yếu tố tác ñộng tới chi
phí ñại diện. Tiêu biểu như nghiên cứu của Ang và cộng sự (2000), Sing và Davidson
2
(2003), Florakis (2008), Gul và các cộng sự (2012), Qian (1996), Zhu và Xu (2002).
Trong những nghiên cứu này, các tác giả chỉ ra rằng một yếu tố quan trọng tác ñộng
ñến vấn ñề chi phí ñại diện là sở hữu nhà nước trong công ty cổ phần. Ví dụ, nghiên
cứu của Zhu và Xu (2002) lập luận rằng các công ty tồn tại sở hữu nhà nước thường có
xu hướng kém chủ ñộng trong việc kiểm soát khoản ñầu tư của mình, ñồng thời do
việc huy ñộng vốn dễ dàng hơn, dẫn ñến hiện tượng các công ty có vốn ñầu tư nhà
nước có cơ chế kiểm soát công ty kém hơn, hay nói cách khác sẽ làm tăng chi phí ñại
diện. Tương tự, nghiên cứu của Qian (1996) cũng ñưa ra kết quả chứng minh rằng sở
hữu nhà nước sẽ làm vấn ñề chi phí ñại diện trở nên nghiêm trọng hơn, do người ñại
diện vốn nhà nước trong các công ty này thường theo ñuổi mục tiêu chính trị hơn là
mục tiêu ñối ña hóa giá trị doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, sở hữu nhà nước chiếm một tỷ lệ ñáng kể trong các công ty cổ
phần
1
. Nhìn chung, việc nhà nước tham gia ñiều hành và quản lý vừa có tác ñộng tích
cực lẫn tiêu cực. Về mặt tích cực, mục tiêu chính khi nhà nước can thiệp vào doanh
nghiệp là nhằm nâng cao hiệu quả của kinh doanh của doanh nghiệp và tạo một môi
trường thông tin minh bạch cho nhà ñầu tư ñể họ có thể nắm bắt ñược tình hình hoạt
ñộng của công ty một cách rõ ràng từ ñó sẽ ñưa ra ñược những quyết ñịnh và hướng ñi
ñúng ñắn cho doanh nghiệp
“Sở hữu nhà nước tác ñộng như thế nào lên vấn ñề chi phí ñại diện trong
các công ty niêm yết?”
1.3. Giả thuyết nghiên cứu
Như ñã phân tích ở trên, sở hữu nhà nước trong các công ty cổ phần không chỉ
gắn liền với các vấn ñề như chi trả các khoản lương thưởng, các tổn thất có thể nhìn
thấy trước mắt mà còn có các chi phí ẩn ñằng sau do sức ỳ tâm lý, sự lề mề, thụ ñộng
gây ra. Trong ñiều kiện tách rời quyền sở hữu và quyền quản lý, nhà nước với tư cách
là cổ ñông chính, phải thiết lập ñược một cấu trúc ñể kiểm soát những người làm thuê
là các giám ñốc hoặc các nhà quản lý ñể ñảm bảo tính hiệu quả trong kinh doanh và
duy trì các chi phí giao dịch ở mức ñộ thấp nhất. Thế nhưng không bao giờ có sự ñồng
nhất tuyệt ñối trong mục tiêu giữa người chủ và người ñại diện trong quá trình hoạt
ñộng dù là doanh nghiệp nhà nước. Người ñại diện cho phần vốn của nhà nước vẫn có
những mục tiêu khác với những cổ ñông còn lại. Tình trạng tham nhũng lãng phí tràn
lan trong các doanh nghiệp nhà nước là nỗi ám ảnh thường trực khi không ít nhà quản
lý do nhà nước bổ nhiệm ñã tìm ñủ mọi thủ ñoạn ñể làm thất thoát tài sản
4
. Do ñó, em
nghi ngờ rằng sở hữu nhà nước sẽ làm trầm trọng hơn vấn ñề về chi phí ñại diện, và
giả thuyết nghiên cứu ñặt ra là:
“Tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa chi phí ñại diện và sở hữu nhà nước.”
1.4. Phạm vi của nghiên cứu
Trong khóa luận này, em tập trung vào tìm hiểu tác ñộng của sở hữu nhà nước
lên chi phí ñại diện trong các công ty niêm yết có sở hữu nhà nước trên sàn chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai ñoạn từ năm 2012 ñến 2013.
1.5. Số liệu và phương pháp nghiên cứu
Số liệu phục vụ cho nghiên cứu ñến từ các báo cáo thường niên hàng năm của
các công ty từ năm 2012 ñến năm 2013. Có tất cả 92 quan sát lấy từ 46 công ty niêm
yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh.
Để ñánh giá tác ñộng của sở hữu nhà nước lên chi phí ñại diện, nghiên cứu sử
dụng phương pháp phân tích số liệu mảng (panel data analysis). Một ưu ñiểm lớn của
2.1. Cơ sở lý thuyết về vấn ñề chi phí ñại diện
Lý thuyết về chi phí ñại diện ñược nhắc tới lần ñầu trong nghiên cứu của Jensen
& Meckling (1976). Trong nghiên cứu nền tảng này, tác giả chỉ ra rằng ở mỗi công ty
cổ phần, bên cạnh các khoản chi phí phục vụ cho hoạt ñộng kinh doanh thường nhật
còn có thể phát sinh một khoản chi phí ñặc biệt khác, ñó là chi phí ñại diện. Chi phí
này xuất phát từ mẫu thuẫn trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần do luôn tồn tại sự
phân chia giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Người nắm quyền sở hữu là các cổ
ñông ñược ñại diện bởi hội ñồng quản trị, trong khi người nắm quyền quản lý lại là
người do hội ñồng quản trị chọn ra ñể ñại diện cho họ thực hiện các quyết ñịnh của
công ty. Các bên trong mối quan hệ này không thống nhất ñược về mục tiêu và lợi ích.
Tác giả lập luận rằng nhà quản lý thường có xu hướng tìm cách tối ña hóa lợi ích của
mình với chi phí mà ông chủ gánh chịu và làm việc vì lợi nhuận thu về của bản thân
hơn là mục tiêu ñối ña hóa giá trị doanh nghiệp. Từ ñó, chi phí ñại diện có thể coi là
“chi phí giám sát” ñược trả cho các kiểm soát viên nhằm báo ñộng cho các cổ ñông khi
các nhà quản lý trục lợi cho bản thân họ. Kể cả khi không có sự xuất hiện của ban
kiểm soát, chủ sở hữu có thể phải bỏ ra một khoản chi phí ñại diện khác gọi là “chi phí
ràng buộc” với nhà quản lý. Đây là chi phí nhằm ngăn ngừa hậu quả xấu có thể xảy ra
từ những hành ñộng thiếu trung thực của nhà quản lý, nhằm ràng buộc họ phải phục vụ
cho lợi ích của công ty. Cuối cùng, trong trường hợp vấn ñề xung ñột về lợi ích vẫn
diễn ra, chủ sở hữu sẽ giải quyết bằng cách thay nhà quản lý. Nhưng kể cả khi ñó, họ
vẫn sẽ mất một khoản chi phí tiềm tàng là “chi phí phụ trội”, ví dụ như chi phí sa thải
hay bồi thường hợp ñồng. Tất cả những chi phí trên ñều có thể phát sinh trong quá
trình hoạt ñộng của công ty cổ phần, và Jensen & Meckling gọi ñó là chi phí ñại diện
(Agency cost).
Để giải thích cụ thể cho vấn ñề chi phí ñại diện ở trên, Jensen & Meckling chỉ ra
rằng bản chất nằm ở sự phân ñịnh giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Sự phân tách
này ñem lại nhiều lợi ích nhưng cũng tiềm ẩn những hạn chế. Về lợi ích, trước tiên,
6
mỗi công ty cổ phần, ñặc biệt là các công ty lớn, thường có hàng trăm, hàng nghìn các
quản lý (nhóm 2), chi phí ñại diện sẽ phát sinh. Cũng trong nghiên cứu này, chi phí ñại
diện ñược tính theo hai cách: dựa vào hiệu suất sử dụng tổng tài sản và tỷ số giữa chi
phí hoạt ñộng trên doanh thu bán hàng. Lý do là bởi khi vấn ñề chi phí ñại diện thấp,
tài sản trong doanh nghiệp có xu hướng hoạt ñộng hiệu quả hơn, ñem về nhiều ñồng
doanh thu hơn, và ngược lại, tỷ lệ chi phí hoạt ñộng trên doanh thu thấp hơn. Bằng
Thang Long University Library
7
phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS regression), kết quả ước lượng cho
thấy hiệu suất sử dụng tài sản cao hơn và tỷ lệ chi phí thấp hơn ở các công ty thuộc
nhóm 1 so với nhóm 2.
Mở rộng cho nghiên cứu của Ang và cộng sự (2000) ở trên, Sing và Davidson
(2003) tiếp tục tìm hiểu về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và chi phí ñại diện trong
các công ty Mỹ, tuy nhiên họ xem xét tới cả các công ty có quy mô lớn. Cuộc nghiên
cứu khảo sát trên 1.528 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán trong giai ñoạn
1992-1994. Khác với nghiên cứu trước của Ang và cộng sự chỉ tập trung vào hai nhóm
công ty, Sing và Davidson kiểm chứng thêm tác ñộng của các công ty có quản lý nắm
giữ một phần vốn chủ sở hữu tới chi phí ñại diện. Ngoài việc phân tích vai trò của ban
giám ñốc trong việc kiểm soát chi phí ñại diện, nghiên cứu này còn tìm hiểu sâu hơn
về hành vi của ban ñiều hành khi họ nắm giữ quyền sở hữu ñồng thời quyền quản lý.
Kết thúc nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng việc gia tăng quyền kiểm soát cho người quản
lý thực sự ñã gia tăng sự liên kết giữa các nhà quản lý với lợi ích của chủ sở hữu, từ
ñó, chi phí ñại diện giảm ñi ñáng kể. Tương tự như nghiên cứu trước, chi phí ñại diện
vẫn ñược ño lường bởi hai yếu tố là hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ lệ chi phí hoạt ñộng
trên doanh thu. Bằng phương pháp hồi quy số liệu mảng (panel data), kết quả ước
lượng cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa hiệu suất sử dụng tài sản và phần trăm
sở hữu cổ phần của ban giám ñốc, tuy nhiên ñối với tỷ lệ chi phí hoạt ñộng trên doanh
thu kết quả không có ý nghĩa thống kê.
Ngoài ra, nghiên cứu ở các nước phát triển khác về vấn ñề chi phí ñại diện cũng
tìm thấy kết quả tương tự. Ở Anh, Florakis (2008) nghiên cứu tác ñộng của cơ chế
cao kéo theo sự phân tách giữa quyền kiểm soát và quyền quản lý, vấn ñề chi phí ñại
diện là tương ñối nghiêm trọng. Trong nghiên cứu này, các tác giả vẫn sử dụng phương
pháp ño lường chi phí ñại diện như ñề cập ở trên là dùng hiệu suất sử dụng tài sản.
Ngoài ra khi nói về các nghiên cứu chi phí ñại diện cũng không thể bỏ qua
trường hợp của Trung Quốc, bởi các ñặc ñiểm mang tính riêng biệt trong cấu trúc sở
hữu. Là một quốc gia theo ñuổi chế ñộ xã hội chủ nghĩa, quản lý nhà nước ñóng một
vai trò quan trọng trong các công ty Trung Quốc. Sở hữu nhà nước trong các công ty
niêm yết có thể dẫn tới vấn ñề về chi phí ñại diện, bởi lẽ người ñiều hành doanh
nghiệp ñại diện cho phần vốn của nhà nước thường có xung ñột về lợi ích với các cổ
ñông bên ngoài, do họ ñịnh hướng sự phát triển của công ty theo các mục tiêu chính
trị. Điều này ñi ngược lại với mục tiêu tối ña hóa giá trị công ty mà nhà ñầu tư mong
ñợi. Như vậy, vấn ñề chi phí ñại diện có thể nghiêm trọng ở các công ty có sở hữu nhà
nước. Để kiểm chứng ñiều này ñã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào mối
quan hệ giữa sở hữu nhà nước và chi phí ñại diện. Tựu chung lại, các nghiên cứu có
thể chia làm hai giai ñoạn: trước cải cách doanh nghiệp nhà nước (năm 1990) và sau
cải cách.
Trước năm 1990, các doanh nghiệp Trung Quốc thường ñược kiểm soát bởi
quan chức nhà nước, những người nắm gần như nắm tất cả các vấn ñề trong doanh
nghiệp như hoạt ñộng kinh doanh hay quyết ñịnh về nhân sự. Việc tập trung quyền lực
này ñã dẫn ñến thiếu các sáng kiến quản lý, và ñộng cơ chính trị hoặc việc ñưa ra
những quyết ñịnh kinh doanh sai lầm do không có năng lực chuyên môn. Các chính trị
gia có ñộng lực ñể kiểm soát và trợ giá cho các doanh nghiệp nhà nước ñể ñạt ñược
Thang Long University Library
9
mục tiêu kinh tế kém hiệu quả ñể phục vụ cho các mục ñích chính trị. Ví dụ, các chính
trị gia có thể yêu cầu một doanh nghiệp nhà nước thuê nhiều công nhân hơn mức cần
thiết ñể tăng việc làm, hoặc ñể duy trì lao ñộng dư thừa ngay cả khi ñang thực hiện cắt
giảm lao ñộng của một số công ty (Shleifer và Vishny, 1994). Thêm vào ñó họ có thể
yêu cầu một công ty nhà nước ñáp ứng tốc ñộ tăng trưởng sản lượng mục tiêu mà họ
10
Các nghiên cứu về chi phí ñại diện trong giai ñoạn sau cải cách có thể kể ñến Zhu
và Xu (2002). Để thực hiện nghiên cứu, các tác giả thực hiện cuộc ñiều tra với 40.246
doanh nghiệp nhà nước trên phạm vi quốc gia trong năm 1997 và quý ñầu tiên năm
1998. Các thông tin thu thập ñược bao gồm có thông tin cơ bản về doanh nghiệp (vị
trí, ngành nghề, quy mô,…) và các thông tin riêng biệt khác như: tỷ lệ sở hữu nhà
nước (trước và sau cải cách), thông tin cổ ñông và ban ñiều hành… Sau khi tổng hợp
lại, tác giả chọn ra 884 doanh nghiệp phù hợp và áp dụng phương pháp hồi quy OLS
thông thường ñể kiểm ñịnh vấn ñề chi phí ñại diện thông qua việc ño lường hiệu suất
sử dụng tài sản. Kết quả ước lượng cho thấy các công ty sau khi tiến hành cải cách ñã
giảm vấn ñề về chi phí ñại diện, tuy nhiên vẫn chưa hoàn toàn ngăn chặn triệt ñể.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự góp mặt của các cổ ñông nước ngoài lại góp
phần làm giảm chi phí ñại diện. Điều ngạc nhiên là kết quả cho thấy các công ty ñộc
lập về tự chủ vẫn nảy sinh vấn ñề chi phí ñại diện. Ngoài ra, các nghiên cứu khác trên
thị trường Trung Quốc cũng cho ra kết quả tương tự như nghiên cứu của (Naughton,
1995) hay Aghion và Tirole (1997).
c) Tại Việt Nam
Do sự tương ñồng về mặt chính trị nên vấn ñề chi phí ñại diện ở Việt Nam có thể
xảy ra trong các công ty cổ phần. Thực tế, một số nghiên cứu ñã dành thời gian ñi sâu
vào phân tích chi phí ñại diện và các yếu tố tác ñộng, ñặc biệt là trong mối quan hệ với
sở hữu nhà nước. Có thể kể tới các nghiên cứu tiêu biểu như “Quản trị công ty vấn ñề
ñại diện trong các công ty ñại chúng ở Việt Nam” của Nhâm Phong Tuân Nguyễn Anh
Tuấn (2013) và “Nghiên cứu mối tương quan tương quan giữa chi phí ñại diện và cấu
trúc tỷ lệ sở hữu của các công ty cổ phần tại Việt Nam” của Thân Thị Thu Thủy, Lê
Văn Lâm và Nguyễn Trung Thông (2012). Cơ sở cho các nghiên này ñều dựa vào lý
thuyết nền tảng chi phí ñại diện ñề xuất bởi Jensen & Meckling (1976) và các nghiên
cứu thực nghiệm khác trên thế giới.
Đầu tiên là công trình của Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn (2013) tập
trung vào lý thuyết nền tảng của quản trị công ty (QTCT) là lý thuyết ñại diện. Lý
năm và các thông tin nội bộ khác của các công ty cổ phần trong năm 2012 trên sàn
chứng khoán Hồ Chí Minh. Dữ liệu thực hiện trên 92 công ty cổ phần có vốn chủ sở
hữu trên 1.000 tỷ ñồng. Các công ty này chủ yếu hoạt ñộng trong các lĩnh vực tài
chính ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, dược, bất ñộng sản Phương pháp ño lường
chi phí ñại diện ñược tính toán dựa trên tỷ lệ tổng doanh thu trên tổng tài sản, tương tự
như trong nghiên cứu của Ang, Cole và Lin (2000) và các tác giả khác. Chỉ số này cho
thấy mức ñộ hiệu quả trong việc khai thác và sử dụng tài sản của các nhà quản lý. Hiệu
suất sử dụng tài sản cao chứng tỏ công ty ñó ñược kiểm soát tốt vấn ñề chi phí ñại
diện. Vì thế mà chi phí ñại diện ñược xem là tỷ lệ nghịch với chỉ số này.
Cũng trong nghiên cứu này, các tác giả ñã xây dựng một mô hình hồi quy tuyến
tính với phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) với biến phụ thuộc
chính là tỷ lệ tổng doanh thu trên tổng tài sản ñể ño lường chi phí ñại diện. Biến ñộc
lập chính bao gồm tỷ lệ sở hữu của ban quản lý, tỷ lệ sở hữu nước ngoài và tỷ lệ sở
hữu nhà nước. Các biến kiểm soát gồm có ñòn bẩy tài chính và quy mô công ty.
Không như mong ñợi của tác giả kết quả ước lượng cho thấy sở hữu nhà nước không
có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích chi phí ñại diện, nên không thể ñánh giá rõ
ràng về tác ñộng của sở hữu nhà nước. Tuy nhiên, các biến sở hữu của ban quản lý và
12
sở hữu nước ngoài lại có ý nghĩa thống kê. Cụ thể, tỷ lệ sở hữu ban quản lý càng cao,
chi phí ñại diện càng giảm. Tương tự, sở hữu nước ngoài lớn cũng góp phần làm giảm
mức ñộ vấn ñề ñại diện. Ngoài ra chi phí ñại diện có dấu hiệu tăng lên cùng với quy
mô công ty và giảm ñi khi có nhiều sự giám sát từ các chủ nợ. Từ kết quả này, tác giả
ñưa ra một số khuyến nghị như thu hút thêm vốn ñầu tư nước ngoài, khuyến khích việc
tham gia sở hữu vốn của ban ñiều hành hay ñối với các công ty có quy mô lớn cần một
hệ thống kiểm soát hoạt ñộng chặt chẽ. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn tồn tại hạn chế
do chưa tìm ra tác ñộng của sở hữu nhà nước, có thể xuất phát từ việc dữ liệu chưa
ñược mở rộng sang các năm tiếp.
Từ ñó, nghiên cứu trong khóa luận của em tiếp tục ñi sâu vào ñánh giá tác ñộng
của sở hữu nhà nước lên chi phí ñại diện. Bộ số liệu trong nghiên cứu ñược thu thập từ
thành một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất trong khu vực chỉ trong một thời
gian ngắn
5
.
Để chuyển ñổi nền kinh tế ñất nước từ cơ chế kế hoạch tập trung và bao cấp
sang nền kinh tế thị trường tự do, Việt Nam cần một kênh huy ñộng vốn ñể ñầu tư phát
triển, cùng với việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong ñầu những năm 1990, là
ñộng lực cho việc thành lập thị trường chứng khoán.
Ủy ban Phát triển thị trường vốn thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNN) sau ñó ñã ñược lập theo Quyết ñịnh 207/QD-TCCB ngày 06 Tháng 11 năm
1993. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về việc thành lập Ban soạn thảo Nghị ñịnh,
Luật chứng khoán trong việc chuẩn bị thành lập một thị trường chứng khoán theo
Quyết ñịnh của Thủ tướng số 361/QD-TTg (29 tháng 6 năm 1995). Ban này ñược giao
trách nhiệm như sau:
- Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng
khoán;
- Soạn thảo Nghị ñịnh của Chính phủ về việc thành lập Ủy ban An ninh Nhà
nước;
5
http://www.baomoi.com/Bai-3-Thanh-tuu-thoi-ky-doi-moi-o-Viet-Nam-Con-duong-di-len-CNXH-hinh-thanh-
nhung-net-co-ban/122/3319047.epi
14
- Chuẩn bị cơ sở hạ tầng và ñội ngũ nhân viên ñược tập huấn về thị trường
chứng khoán.
- Thực hiện các dự án hợp tác với các nước và tổ chức quốc tế trong lĩnh vực
thiết lập sự phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam.
Được thành lập theo Nghị ñịnh 75/CP của Chính phủ (ngày 28 Tháng 11 năm
1996), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC) là cơ quan quản lý thị trường chứng
15
3.1.4. Các thành tựu ñạt ñược của thị trường chứng khoán Việt Nam
Sau hơn 13 năm phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam ñã ñạt ñược một
số kết quả ñáng kể. Thứ nhất, số lượng các công ty niêm yết tăng lên với câp ñộ theo
cấp số nhân
6
, trong 4 năm gần ñây, tổng số các mã giao dịch có xu hướng giảm do số
mã bị hủy niêm yết nhiều hơn số mã niêm yết mới ñược tóm tắt trong hình 3.1:
Biểu ñồ 3.1: Số lượng công ty niêm yết từ năm 2000 ñến nửa ñầu năm 2014
Đơn vị: Công ty
(Nguồn: Báo cáo tổng kết 14 năm hoạt ñộng của HOSE)
Chỉ số VN-index là chỉ số giá cổ phiếu quan trọng với giai ñoạn cơ bản 100
ñiểm trong ngày giao dịch ñầu tiên (28/7/2000). Vào lúc bắt ñầu, với vốn hóa thị
trường tổng cộng chỉ hơn 1,1 tỉ ñô la Mỹ, bao gồm 45 cổ phiếu niêm yết và 1 cổ phiếu
quỹ. Chỉ số VN-index ñược cho là không có khả năng ñại diện cho tình trạng nền kinh
tế. Kỷ lục của VN-Index trong 14 năm qua là 1170,67 ñiểm vào ngày 12/3/2007, sau
6
http://bizlive.vn/chung-khoan/nam-2013-sut-giam-chung-khoan-moi-gia-tang-huy-niem-yet-76684.html
16
ñó lao dốc xuống 235,50 ñiểm ngày 24/2/2009
.
Tuy nhiên, chỉ số VN-index lại tăng
ñáng kể qua các năm
7
:
(Nguồn: Báo cáo tổng kết 14 năm hoạt ñộng của HOSE)
Số lượng tài khoản giao dịch trên sàn HOSE vẫn giữ mức tăng ổn ñịnh qua các
năm dù thị trường có nhiều biến ñộng.
9
http://tinnhanhchungkhoan.vn/chung-khoan/ttck-13-nam-qua-nhung-con-so-13870.html