LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, chính sách mở cửa và hội nhập của Nhà nước đã mở ra
một lối đi mới, là bước ngoặt của nền kinh tế Việt Nam.Trong nền kinh tế thị trường các
doanh nghiệp có điều kiện để hoạt động và phát triển nhưng cũng tạo ra sự cạnh tranh gay
gắt trong nền kinh tế, đòi hỏi ở các doanh nghiệp phải có những chính sách chiến lược
đúng đắn kịp thời thì mới có thể trụ vững được. Một trong những vấn đề quan trọng mà
các doanh nghiệp quan tâm là làm sao nâng cao năng suất lao động để từ đó có thể hạ giá
thành sản phẩm, sản phẩm làm ra có chất lượng đảm bảo đáp ứng được nhu cầu ngày
càng cao của khách hàng. Vậy những yếu tố cơ bản nào sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao
động ?? Để trả lời cho câu hỏi này nhóm 2 xin đi thảo luận đề tài: “ Phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến năng suất lao động. Liên hệ thực tiễn sự ảnh hưởng của yếu tố người
lao động tại FPT”.
Thời gian và điều kiện có hạn nên trong khi thực hiện đề tài này nhóm không thể
tránh khỏi những sai sót. Mọi ý kiến đóng góp của thầy giáo và các bạn nhóm xin chân
thành cảm ơn
PHẦN 1: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại
Năng suất lao động thể hiện sức sản xuất của lao động và được đo lường bằng số
lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc là lượng thời gian cần
thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm
Khác với các ngành sản xuất vật chất, đối tượng lao động của lao động thương mại là sản
phẩm hàng hóa đã hoàn chỉnh. Mục đích lao động của nhân viên thương mại là đưa hàng
hóa từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng một cách nhanh nhất và với chi phí thấp
nhất.Bởi vậy sức sản xuất của lao động thương mại được biểu hiện thông qua khối lượng
hàng hóa tiêu thụ được trong thời gian nhất định hoặc là thời gian lao động cần thiết để
thực hiện một đơn vị giá trị hàng hóa tiêu thụ
Từ đó ta có khái niệm: Năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại là mức tiêu
thụ hàng hóa bình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian.
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động
năng suất lao động tối ưu nhất
Chất lượng lao động có thể đánh giá theo tiêu thức là trí lực và thể lực.Trí lực bao
gồm một số khía cạnh điển hình như trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, còn thể lực
là tình trạng sức khỏe của người lao động.
Trình độ văn hoá là sự hiểu biết cơ bản của người lao động về tự nhiên, là sự giác
ngộ về chính trị, sự hiểu biết về xã hội, tinh thần thái độ lao động, đạo đức kinh doanh của
người lao động. Con người là nhân tố có tính chất quyết định đến quá trình kinh doanh, tư
tưởng con người quyết định đến hành động của họ. Trình độ văn hoá góp phần nâng cao
khả năng tư duy và sáng tạo. Khi trình độ văn hóa càng cao, càng phù hợp với thực tế thì
năng suất lao đông càng cao.
Trình độ chuyên môn là sự am hiểu nắm vững tay nghề trong lĩnh vực mà người lao
động đang thực hiện. Sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ xảo nghề
càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ đó
góp phần nâng cao năng suất lao động
Công tác kinh doanh thương mại mang tính chất tổng hợp cả về kinh tế và kỹ thuật nên
với trình độ văn hóa cao kết hợp với trình độ chuyên môn, tay nghề giỏi sẽ là tiền đề để
nâng cao năng suất lao động
Tình trạng sức khoẻ :Trạng thái sức khoẻ cũng là một yếu tố của người lao động ảnh
hưởng tới năng suất lao động. Nếu người có tình trạng sức khoẻ không tốt sẽ dẫn đến mất
tập trung trong quá trình lao động, làm cho độ chính xác của các thao tác trong công việc
giảm dần, thậm chí dẫn đến tai nạn lao động khiến cho hiệu quả công việc không được
cao dẫn đến năng suất lao động sẽ bị giảm
Cơ cấu lao động trong doanh nghiệp thương mại được xác định dựa trên các tiêu
thức như các tiêu thức đã trình bày ở trên đó là trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa,
hay theo độ tuổi, giới tính, .Cơ cấu lao động sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao động trong
từng ngành nghề doanh nghiệp thương mại cụ thể . Chẳng hạn như nếu một doanh nghiệp
thương mại yêu cầu trình độ từ đại học trở lên phải đạt ở mức 70 % nhưng cơ cấu lao
động trong doanh nghiệp mới chỉ được ở mức 60% điều này sẽ khiến năng suất lao động
sẽ có những ảnh hưởng nhất định. Hoặc như tại các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ tỷ
trọng nữ thường cao hơn nam nên tỷ lệ nghỉ việc theo quy định của pháp luật đối với lao
tham gia vào ngành mà sản phẩm, dịch vụ được tiêu dùng thường xuyên thì nhu cầu tiêu
dùng đối với hàng hóa, dịch vụ này sẽ cao hơn hẳn so với những hàng hóa, dịch vụ có nhu
cầu ít hơn. Từ đó doanh nghiệp sẽ có cơ hội gia tăng mặt hàng mà mình cung cấp cho thị
trường, qua đây làm cho năng suất lao đông của doanh nghiệp tăng lên.
Chẳng hạn như doanh nghiệp tham gia ngành hàng bán lẻ với các sản phẩm là đồ
dùng thiết yếu trong sinh hoạt so với doanh nghiệp tham gia ngành du lịch sẽ có mức
năng suất lao động là khác nhau. Vì là ngành bán lẻ với các mặt hàng là đồ dùng thiết yếu
luôn được tiêu thụ mỗi ngày nên mức tiêu thụ hàng hóa sẽ cao hơn hẳn so với mức tiêu
thụ dịch vụ tại doanh nghiệp tham gia ngành du lịch, đơn giản là vì nhu cầu sử dụng dịch
vụ du lịch là không thường xuyên và hay theo dịp, theo mùa hơn.
b. Mặt hàng và cơ cấu mặt hàng
Kết cấu mặt hàng kinh doanh ảnh hưởng đến năng suất lao động của nhân viên
thương mại được biểu hiện ở hai phương diện trái ngược nhau. Một mặt, nếu hành hóa có
chất lượng cao, kết cấu hàng hóa kinh doanh phù hợp với kết cấu của tiêu dùng thì các
doanh nghiệp có điều kiện để tăng khối lượng hành hóa tiêu thụ do đó tăng năng suất lao
động. Mặt khác khi kết cấu hàng hóa thay đổi làm cho năng suất lao động biểu hiện bằng
tiền của người lao động thay đổi. Như ta đã biết hàng hóa kinh doanh của thương mại có
nhiều chủng loại. Có mặt hàng, nhóm hàng có giá trị thấp nhưng trong kinh doanh đòi hỏi
hao phí lao động cao, ngược lại có mặt hàng, nhóm hàng có giá trị rất cao nhưng hao phí
lao động lại thấp. Bởi vậy khi những mặt hàng có giá trị thấp, hao phí lao động cao tăng
lên thì năng suất lao động tăng lên nhưng sự biểu hiện bằng tiền của nó lại giảm xuống và
ngược lại. Để đánh giá đúng thực chất năng suất lao động của doanh nghiệp thương mại,
đặc biệt là của nhân viên bán hàng ta phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố này.
Ví dụ như cùng là nhóm mặt hàng quần áo nhưng những bộ quần áo giá cả bình dân
( kèm theo chất lượng cũng “bình dân”) được tiêu thụ ở các chợ bình dân trên địa bàn Hà
Nội như chợ Nhà Xanh, chợ sinh viên mỗi ngày cao hơn hẳn so với mặt hàng quần áo
cao cấp bán trong các trung tâm thương lớn sang trọng. Nghĩa là trung bình một ngày 1
nhân viên bán hàng quần áo ở chợ Xanh bán được 10 bộ quần áo thì ở các cửa hàng quần
áo cao cấp một nhân viên bán hàng có thể chỉ bán được một bộ. Nhưng biểu hiện bằng
tiền thì trung bình 10 bộ quần áo ở chợ nhà Xanh 3 triệu nhưng còn ở mặt hàng cao cấp 1
sử dụng các phương thức thanh toán nhanh chóng, tiện lợi, ít rủi ro khách hàng và cung
cấp những dịch vụ sau bán tốt nhất cho khách hàng thì chắc chắn sẽ khiến cho người tiêu
dùng quan tâm và sử dụng nhiều hơn các sản phẩm của doanh nghiệp, đồng nghĩa là năng
suất lao động sẽ tăng lên. Trên thực tế, việc sử dụng các phương thức thanh toán hay cách
thức phục vụ cũng sẽ là yếu tố để cạnh tranh cho các doanh nghiệp kinh doanh cùng mặt
hàng.
1.2.3. Nhân tố công cụ lao động
1. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, địa điểm, vị trí doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp thương mại một phần quan trong làm tăng năng suất lao động
quan trọng đó chính là công cụ lao động. Nếu một doanh nghiệp có cơ sở vật chất kém
không đáp ứng được cả về quy mô số lượng cũng như chất lượng thì cũng sẽ ảnh hưởng
đến việc tiêu thụ hàng hóa. Chẳng hạn như việc phân bổ mạng lưới các cửaa hàng, quầy
hàng, ki ốt bán hàng của doanh nghiệp không hợp lý, nhỏ hẹp, thì cũng không thể thu hút
được người tiêu dùng đến với cửa hàng. Một điều tất yếu trên thực tế cho thấy là một cửa
hàng to ngoài mặt tiền, được trang trí bắt mắt, có chỗ để xe thuận tiện cho khách hàng sẽ
thu hút được nhiều người tiêu dùng để ý đến hơn là những cửa hàng có vị trí không thuận
lợi.
Mạng lưới kho tàng và sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa kho hàng, cửa hàng và
phương tiện vận chuyển cũng góp phần làm tăng năng suất lao động.
Số lượng, chất lượng và cơ cấu của trang thiết bị kinh doanh. Sự bố trí và sắp xếp các
phương tiện lao động trong các cửa hàng kho hàng nếu được trang bị đầy đủ và sắp xếp
một cách khoa học sẽ tiết kiệm được diện tích, không gian, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc di chuyển của người lao động cũng như máy móc, giúp người lao động có tư thế làm
việc thoải mái nhất góp phần làm giảm thời gian lãng phí trong lao động. Khi doanh
nghiệp thương mại muốn lớn mạnh trên thị trường thì việc đầu tư vào cơ sở vật chất là
một khoản đầu tư lớn và có ý nghĩa rất quan trọng.
b. Ứng dụng khoa học công nghệ
Ngày nay khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển, khoa học công nghệ sẽ giúp
cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đẩy mạnh lên một vị trí mới,
hoạt động kinh doanh không chỉ ở nội địa mà còn xuyên quốc gia, xuyên lục địa. Bây giờ
Ngày 27/10/1990, công ty đổi tên thành Công ty Phát triển và Đầu tư Công nghệ (The
Corporation for Financing and Promoting Technology) với định hướng kinh doanh tin
học.
• 1996: Trở thành công ty công nghệ thông tin số 1 Việt Nam
Sau 8 năm thành lập, FPT khẳng định vị trí số 1 trên thị trường tin học Việt Nam.
FPT nhiều năm liên tiếp được bạn đọc của Tạp chí PC World bình chọn là công ty tin học
uy tín nhất Việt Nam.
• 1999: Toàn cầu hóa
Trung tâm Xuất khẩu Phần mềm (tiền thân của Công ty Phần mềm FPT – FPT Software)
được thành lập vào cuối năm 1999 với mục tiêu xuất khẩu phần mềm sang châu Âu, Bắc
Mỹ, Nhật Bản. Các chi nhánh FPT tại Bangalore (Ấn Độ) và Văn phòng FPT tại Mỹ lần
lượt được thành lập vào năm 1999, 2000.
• 2002 - 2006: Trở thành công ty đại chúng
Tháng 03/2002, FPT cổ phần hóa.
Ngày 13/12/2006, cổ phiếu FPT chính thức niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh – HOSE).
• 2008: Đạt mức doanh thu 1 tỷ USD
FPT liên tục tăng trưởng trên 50%/năm kể từ năm 2002 và năm 2008 đã cán đích doanh
thu 1 tỷ USD.
Năm 2008, đổi tên công ty thành Công ty Cổ phần FPT và tái khẳng định ngành nghề
kinh doanh cốt lõi gồm viễn thông, công nghiệp nội dung và các dịch vụ CNTT.
• 2010: Thay đổi hệ thống nhận diện thương hiệu, tiến sâu vào thị trường đại chúng
Lần đầu tiên sau 22 năm, FPT thay đổi hệ thống nhận diện thương hiệu. Đây là bước khởi
đầu quan trọng cho chiến lược tiến vào thị trường đại chúng của FPT.
• 2011: Chiến lược One FPT – “FPT phải trở thành Tập đoàn Toàn cầu Hàng đầu
của Việt Nam”
Chiến lược One FPT với lộ trình 13 năm (2011-2024) được phê duyệt với định hướng tập
trung vào phát triển công nghệ và mục tiêu “FPT phải trở thành Tập đoàn Toàn cầu Hàng
đầu của Việt Nam”, lọt vào danh sách Top 500 trong Forbes Global 2000 vào năm 2024.
trường suy giảm trong năm do kinh tế khó khăn, đã ảnh hưởng đến một số ngành nghề
của công ty.
Đến năm 2013, doanh thu, lợi nhuận đã tăng trở lại. Doanh thu tăng 13% so với cùng
kỳ năm 2012, lợi nhuận trước thuế tăng 5% so với cùng kỳ. Các hoạt động tăng trưởng
chủ yếu thuộc về mảng phần mềm, viễn thông, đáng chú ý là mảng tích hợp hệ thống đã
tăng trưởng trở lại sau một thời gian dài suy giảm do ảnh hưởng từ sự cắt giảm chi tiêu
của cơ quan nhà nước cũng như doanh nghiệp.
Tốc độ tăng trưởng của FPT đang chững lại trong những năm gần đây. Hiện FPT chỉ duy
trì được tốc độ tăng trưởng khoảng 17%/ năm giảm so với mức tăng trưởng thời gì trước.
Điều này có thể do sự cạnh tranh mạnh của các đối thủ cạnh tranh và khủng hoảng kinh
tế. Tuy nhiên, hiện tại FPT vẫn thuộc nhóm công ty tăng trưởng cao và có tiềm năng phát
triển rất lớn. Vì vậy trong tương lai FPT sẽ vẫn hoạt động ổn định và phát triển
2.2. Nhân tố người lao động ảnh hưởng tới năng suất lao động.
2.2.1. Số lượng, cơ cấu, chất lượng lao động.
Tính đến hết ngày 31/12/2013, tổng số CBNV là 17.419 người, trong đó có 6500 kỹ
sư lập trình viên, chuyên gia công nghệ theo tiêu chuẩn quốc tế.
Số lượng nhân lực FPT qua các năm:
Số lượng nhân lực tăng dần qua các năm phù hợp với quy mô phát triển của FPT.
Quy mô phát triển ngày càng lớn dẫn tới khối lượng công việc ngày càng nhiều, nhu cầu
tuyển dụng ngày càng cao. Với việc tuyển dụng hàng năm phù hợp với kế hoạch phát
triển từng thời kì giúp công ty có đội ngũ nhân lực đáp ứng được khối lượng công việc.
Điều này giúp đảm bảo được khối lượng công việc hợp lý cho mỗi nhân viên, tránh làm
việc quá sức và duy trì được năng suất lao động cao của người lao động
Cơ cấu nhân lực của FPT năm 2013
Cơ cấu nhân lực theo đổ tuổi:
Độ tuổi Phần trăm (%)
Dưới 25 tuổi 17,44
Từ 25 đến 30 tuổi 50,54
Từ 31 đến 40 tuổi 28,96
Từ 41 đến 50 tuổi 2,42
phầm, tư vấn, cộng tác viên…. Tỷ lệ có trình độ trên đại học đa phần là các cấp quản lý.
Có trình độ chuyên môn phù hợp với công việc sẽ giúp các nhân viên tạo được hứng thú,
làm tốt công việc, phát huy được hết năng suất lao động của bản thân. Giúp FPT có được
đội ngũ nhân lực chất lượng cao.
Cơ cấu nhân sự theo chức năng công việc:
Chức năng công việc Nhân sự Tỷ lệ
Quản lý 1746 10%
Kỹ sư công nghệ 6684 38%
Cán bộ kinh doanh 3403 20%
Cán bộ hỗ trợ 5586 32%
Tỷ lệ nhân viên theo chức năng công việc hợp lý. Nhiều nhất là các kỹ sư công nghệ,
tiếp theo là các cán bộ hỗ trợ và thứ ba là cán bộ kinh doanh, phù hợp với tính chất lĩnh
vực kinh doanh của công ty. Từ cơ cấu này ta có thể thấy FPT bố trí sử dụng nhân lực một
cách hợp lý, đúng người đúng việc. Việc bố trí, sử dụng nhân lực hợp lý là yếu tố quan
trọng giúp các nhân viên phát triển khả năng của bản thân, tạo hứng thú động lực trong
công việc từ đó nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công việc.
Nói tóm lại số lượng, cơ cấu và chất lượng lao động của công ty FPT phù với với
lĩnh vực kinh doanh và tính chất công việc. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để duy trì,
phát huy và nâng cao NSLĐ của nhân viên. Điều này biểu hiện cụ thể như sau
2.2.2. Tổ chức quản lý lao động khoa học tại FPT
Với 7 công ty thành viên trực thuộc và 7 trung tâm chuyên sâu theo từng ngành kinh
tế và lĩnh vực công nghệ, FPT đã tối ưu hóa tổ chức, huy động tối đa nguồn lực để phục
vụ khách hàng và phối hợp hiệu quả giữa thành viên. Đảm bảo hoạt động cho các công ty
thành viên và trung tâm là 9 ban chức năng phụ trách các mảng công việc: Tài chính,
Nhân sự, Kế hoạch kinh doanh, Chất lượng, Hành chính, Truyền thông, Thông tin, Hồ sơ
thầu và pháp chế, Công đoàn & Tổng hội.
Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên
hệ và quan hệ phụ thuộc được chuyên môn hóa và có trách nhiệm quyền hạn nhất định
được bố trí theo từng cấp đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và mục tiêu chung.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty theo dạng trực tuyến chức năng. Do đó, mức
khuyến khích người lao động nâng cao trình độ của mình cho phù hợp với yêu cầu của
công việc.
Công cụ quản lý nhân viên cấp dưới đang được FPT áp dụng:
• Quản lý bằng học thuyết của Maslow: tạo động lực bằng 5 thang nhu cầu của chính
người lao động. .
• Quản lý bằng quy chế lao động
• Quản lý bằng quy trình làm việc.
• Quản lý bằng cơ chế giám sát.
• Quản lý bằng sự khích lệ tinh thần làm việc.
• Quản lý bằng thủ tục hành chính.
Việc sử dụng các công cụ bố trí và quản lý nhân viên cấp dưới tại FPT đã mang lại một
môi trường làm việc mà ở đó người lao động biết nhận định năng lực của mình đang ở
mức độ nào, được phát huy sở trường sẵn có và hoàn thiện những phần còn thiếu, người
quản lý có công cụ kiểm soát tốt nhân viên của mình hơn, mối quan hệ giữa cấp trên và
cấp dưới cũng trở nên gần gũi, qua đây thúc đẩy nhân viên trong công ty làm việc hăng
say, nhiệt tình. Vậy nên năng suất lao động trong công ty cũng ngày được cải thiện theo
hướng đi lên.
Ví dụ về việc thiết lập quy chế kiểm soát giờ giấc làm việc tại các cty thành viên FPT:
FPT Software: Theo quy định Kiểm soát thời gian làm việc, mỗi lần đến cơ quan
sau 8h45 và về trước 17h30, CBNV sẽ bị phạt 20.000 đồng. Đặc biệt, nếu đơn vị có tổng
số hơn 30% nhân viên đi làm muộn và về sớm mỗi tháng sẽ phải nhận quyết định khiển
trách và phạt lãnh đạo quản lý của bộ phận theo từng mức cụ thể. Hằng tháng, đơn vị ban
hành các quyết định phạt và số tiền đó được trừ vào tháng lương thứ 13 của CBNV. Ngoài
ra, dữ liệu về quản lý thời gian đi làm mỗi tháng là một trong các kênh công cụ để FPT
Software đánh giá nhân viên.
FPT Distribution là đơn vị duy nhất trong FPT Trading theo dõi thời gian làm việc
của nhân viên bằng hình thức điểm danh mỗi đầu giờ sáng và chiều. Quy trình của việc
này bắt đầu từ Trưởng, phó bộ phận từng trung tâm, phòng ban. Họ sẽ điểm danh hằng
sáng rồi gửi thông tin cho Trưởng phòng tổng hợp vùng miền để tập hợp. Cuối mỗi tuần,
cán bộ này sẽ gửi danh sách cập nhật chung cho toàn công ty. Đơn vị cũng đã đưa ra chế
viên của mình, vì điều đó là chất keo gắn kết người FPT, thúc đẩy mỗi người FPT làm
việc hăng say và cống hiến nhiều hơn cho sự phát triển của công ty. Thông qua các hoạt
động văn hóa được tổ chức thường xuyên, không những các giá trị truyền thống được duy
trì và phát huy mà nhu cầu đời sống tinh thần của CBNV cũng được đáp ứng, tạo cho họ
sự phấn khởi trong công việc kinh doanh ngày càng áp lực hơn. Và rất nhiều những hoạt
động văn thể mỹ ở các cấp nhỏ hơn được triển khai đều đặn trong năm; các câu lạc bộ sở
thích, nhóm, hội còn rủ nhau giao lưu, chơi thể thao, văn nghệ,
PHẦN 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT LIÊN QUAN ĐẾN NHÂN TỐ NGƯỜI LAO
ĐỘNG NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN FPT
3.1. Hoàn thiện công tác tiền lương
Con người luôn là yếu tố cơ bản quan trọng mang tính chất quyết định đến hoạt động
lao động. Tiền lương là thu nhập chính của người lao động, nó tác động trực tiếp đến
người lao động. Mục đích của người lao động là bán sức lao động của mình để được trả
công. Vì vậy vấn đề tiền lương thu hút được sự chú ý của tất cả mọi người, nó là công cụ
để thu hút lao động, kích thích khả năng làm việc.
Tiền lương có ảnh hưởng khá lớn đến năng suất lao động của người lao động.Chính
sách tiền lương hợp lý giúp họ duy trì cuộc sống và an tâm làm việc cống hiến cho doanh
nghiệp và nâng cao năng suất lạo động. Vì vậy nhóm đưa ra các giải pháp hoàn thiện công
tác tiền lương cho doanh nghiệp FPT.
• Hoàn thiện chính sách tiền lương :
- Xây dựng các mức lương phù hợp với từng chức danh, từng tính chất công việc.Và vị trí
then chốt trong chi nhánh cần có mức độ ưu tiên hơn, trả lương cao hơn so với các doanh
nghiệp cùng ngành ở trên thị trường.
- Phân công công việc phù hợp tại một số phòng ban.
• Hoàn thiện việc xác định mức lương: việc tính các hệ số lương cần đơn giản và rõ
ràng hơn.
• Hoàn thiện cơ cấu tiền lương:
- Đa dạng hóa cách thức, phương thức và các hình thức thưởng.
- Hoàn thiện các chế độ phúc lực và dịch vụ dành cho nhân viên
Cấu thành nên lực lượng sản xuất chung cho tất cả các lĩnh vực ngành nghề luôn có
3 yếu tố cơ bản quan trong đó là : người lao động, công cụ lao động, đối tượng lao động.
Đây là 3 yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp năng suất lao động . Việc nghiên cứu sự ảnh hưởng
của các yếu tố này sẽ giúp cho các nhà quản lý của các doanh nghiệp biết được trong
những giai đoạn nào thì cần đầu tư phát triển cho những yếu tố nào để có thể đạt được
mục tiêu đã đặt ra với 3 yếu tố đó thì người lao động đóng vai trò quan trọng và quyết
định nhất. Khi tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt thì sức sáng tạo của con người mới là
điều quan trọng nhất, con người là yếu tố cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện nay.