MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC VỆ SINH TRONG TRƯỜNG MN - Pdf 24

Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, nền kinh tế - xã hội của đất nước ta có sự phát triển
không ngừng làm cho ngành Giáo dục nói chung và ngành học mầm non nói riêng
cũng dần từng bước củng cố và phát triển. Trong xu thế chung đó đòi hỏi người làm
công tác chăm sóc giáo dục trẻ phải có năng lực toàn diện, có những phẩm chất cần
thiết mới hoàn thành được nhiệm vụ giao phó. Việc hình thành cho đứa trẻ các kiến
thức cơ bản về vệ sinh cá nhân hàng ngày là một việc làm rất cần thiết.
Như chúng ta đã biết có một số dân tộc của vùng núi Tây Bắc nói chung và
người dân tộc Lào nói riêng của xã Nà Tăm có một lối sống cổ hủ và lạc hậu. Việc ở,
vệ sinh cá nhân hàng ngày không phải là nhu cầu thiết yếu. Gia đình ở nhiều thế hệ,
không có khuôn viên thoáng mát, không có cây xanh. Sinh hoạt cá nhân mà không
cần có giếng nước, không có cống thoát nước, không có các đồ vệ sinh cá nhân cho
từng người riêng, thực hiện các thao tác vệ sinh chủ yếu bằng tay mà không cần các
dụng cụ hỗ trợ, không có nơi vệ sinh cụ thể. Với cách sống như vậy đứa trẻ rất lúng
túng, bỡ ngỡ trước những dụng cụ vệ sinh mà nhà trường cung cấp, không xác định
được các thời điểm cần vệ sinh, nơi đi vệ sinh trong ngày. Đặc biệt với cách sống như
vậy làm cho các bệnh (Tiêu chảy, qoai bị, sốt phát ban và đặc biệt là căn bệnh tay
chân miệng đang bùng phát hiện nay) có cơ hội phát triển và xâm nhập vào cơ thể của
trẻ, gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của trẻ.
Để chuẩn bị cho thế hệ trẻ nói chung và trẻ dân tộc Lào nói riêng bước vào thời
đại của nền văn minh trí tuệ, thời đại của công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và
mục đích chung của Giáo dục mầm non là phát triển tất cả các khả năng của trẻ, hình
thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người, một mặt đáp ứng các
nhu cầu phát triển tổng thể hài hoà của trẻ về các mặt: Thể chất, ngôn ngữ, nhận thức,
thẩm mỹ, tình cảm - xã hội, hình thành kĩ năng giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ và
phòng tránh một số bệnh lây truyền. Mặt khác chuẩn bị sẵn sàng cho trẻ vào lớp 01 và
1
Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
đăc biệt là công tác phổ cập giáo dục trẻ em năm tuổi tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm:

trẻ mới phát triển tốt. Nhưng công tác giáo dục không thể thực hiện được cái khó
trước mà nó phải tuân thủ theo một quy trình từ rễ đến khó từ đơn giản đến phức tạp.
Như vậy việc hình thành thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ cũng phải bắt đầu từ cái
đơn giản.
Trước tiên phải cho trẻ biết khi nào cần vệ sinh, sau đó cho trẻ biết cách vệ sinh
như thế nào? Tức là cung cấp cho trẻ các kỹ năng cơ bản.
1. Kỹ năng:
+ Theo quan điểm của nhà tâm lý học Liên Xô cũ XiKiXen gọi: Kỹ năng là khả
năng thực hiện có hiệu quả hệ thống các hoạt động phù hợp với mục đích và điều kiện
thực hiện hệ thống này.
+ Theo quan điểm của NPlevitôn: Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả của một số
động tác nào đó trong hành động phức tạp hơn: Ông cho rằng con đường hình thành kỹ
năng thường là bắt chước kỹ năng, bắt chước các hành động nổi bật bằng quá trình làm
thử và luyện tập bao giờ cũng gắn bó với thực tiễn.
2. Kỹ xảo:
+ Theo quan điểm của XiKixengon: Kỹ xảo là biện pháp hành động đặc trưng ở
trình độ thành thạo trong đó yếu tố tự động hoá.
+ Còn theo quan điểm của Anleonchiep thì đa số trường hợp kỹ xảo của con
người nảy sinh trên cơ sở biến hành động thành thao tác như một phương thức hành
động được tự động hoá một cách có ý thức như một thành phần được tự động hoá của
việc thực hiện hành động, tự động hoá một cách có ý thức như một thành phần tự
động hoá của việc thực hiện hành động.
3
Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
Tóm lại: Kỹ xảo là hành động thành thạo dựa trên cơ sở biến hành động thành
thao tác nhờ có sự luyện tập tích cực các hành động.
3. Thói quen:
Thói quen thường chỉ những hành động những hành vi của cá nhân được diễn ra
trong những điều kiện ổn định về không gian và quan hệ xã hội rất cụ thể. Thói quen
thường gắn với nhu cầu của cá nhân và gần như phản xạ có điều kiện. Khi trở thành

chất khá khang trang, phòng học kiên cố, có tường rào bao quanh, có hệ thống điện
nước thuận tiện. Lớp được cung cấp tương đối đầy đủ các thiết bị phục vụ cho công
tác dạy học.
Lớp học được bố trí hai giáo viên trong đó một giáo viên có trình độ đại học,
một giáo viên có trình độ đạt chuẩn.
2. Điều kiện khó khăn.
Lớp học chiếm 96% trẻ là người dân tộc Lào và là lớp ghép ba độ tuổi nên nhận
thức của trẻ không đồng đều, khả năng sử dụng các đồ dùng vệ sinh còn lúng túng và
chưa có thao tác.
Đa số phụ huynh học sinh là người thuần nông chuyên sản xuất nông nghiệp,
nhận thức của phụ huynh còn nhiều hạn chế, kinh tế còn hạn hẹp, đời sống của phụ
huynh chưa cao các gia đình có mức thu nhập thấp, không ổn định.
Giáo viên đang trong độ tuổi sinh con và nuôi con nhỏ. Chưa có ý thức tổ chức
các hoạt động vệ sinh thường xuyên và còn ngại khi tổ chức các hoạt động vệ sinh
cho trẻ.
3. Thực trạng
Tôi tiến hành thực hiện sáng kiến kinh nghiệm trên lớp mẫu giáo lớn trung tâm
với tổng số học sinh: 29 cháu trong đó:
5
Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
+ Trẻ 5 tuổi: 11 cháu
+ Trẻ 4 tuổi: 8
+ Trẻ 3 tuổi: 10
+ Trẻ là người dân tộc: 25 cháu.
Tiến hành khảo sát:
* Đối với giáo viên: ( 02 giáo viên)
Tôi tiến hành phát phiếu khảo sát cho giáo viên.
Bảng 1: Kết quả khảo sát đầu năm
Stt Nội dung khảo sát
Đánh giá

Đánh giá
Tốt Khá TB Yếu
1 Thời gian vệ sinh trong ngày 4 12 13
2 Đồ dùng vệ sinh 4 15 10
3 Đồ dùng vệ sinh sử dụng chung hay riêng 8 13 8
4 Quy trình vệ sinh 2 12 15
5 Công tác phối hợp cùng giáo viên 4 13 12
Đánh giá:
Về nội dung khảo sát với phụ huynh đa số phụ huynh đã biết các thời điểm cần
vệ sinh cho con, đồ dùng vệ sinh cho con là những gì, biết được tầm quan trọng của
đồ dùng và để đảm bảo vệ sinh khi sử dụng đồ dùng, biết được các thao tác vệ sinh
song chưa đầy đủ theo quy trình, biết được cần phải trao đổi với cô giáo những gì khi
con đến lớp.
Song bên cạnh đấy vẫn còn một số lượng lớn phụ huynh chưa biết rõ các thời
điểm cần vệ sinh cho con, chưa biết con cần đồ dùng gì để thực hiện thao tác vệ sinh,
chưa nắm được quy trình rửa tay sao cho sạch và đặc biệt trong công tác phối hợp với
giáo viên.
7
Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
Do đa số phụ huynh làm nghề nông họ đi làm nương dẫy từ sáng nên việc thực
hiện các thao tác vệ sinh của trẻ chủ yếu do trẻ tự làm mà không có người giám sát.
Người dân quen sống trong môi trường tạm bợ, dùng chung trong một gia đình
* Đối với học sinh: Tôi chỉ đạo cho giáo viên chủ nhiệm lớp tổ chức các hoạt
động vệ sinh (Theo nội dung tôi xây dựng) cho trẻ. Các cháu hoạt động theo trình tự
thời gian và chia theo nhóm tuổi riêng biệt, sau đó tôi quan sát và ghi chép lại kết quả
khảo sát.
Bảng 3: Kết quả khảo sát đầu năm
( Có bảng phụ lục kèm theo)
Qua quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, tôi đánh giá thực trạng về mức độ hoàn
thành thói quen văn hoá vệ sinh của trẻ lớp mẫu giáo lớn trung tâm như sau:

chỉ làm việc vừa đủ. Có nghĩa là chỉ cần trông cho trẻ an toàn, hoàn thành nhiệm vụ,
không có nhu cầu cầu tiến. Tinh thần đó rất đáng sợ trong một ngôi trường và còn
đáng sợ hơn với các nhà quản lí có tâm với nghề, với ngôi trường họ quản lí. Xác định
được tầm quan trọng của tâm lí giáo viên hiện nay đặc biệt là toàn ngành đang tiếp tục
thực hiện chủ đề năm học “Đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất lượng dạy
học” tôi đã mạnh dạn đưa nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức cho giáo viên làm một
nội dung đổi mới trong công tác quản lí và áp dụng vào trong sáng kiến. Để thay đổi
được nhận thức của giáo viên tôi đã áp dụng các giải pháp sau:
+ Bồi dưỡng lòng nhân ái sư phạm cho giáo viên. Bởi vì lòng nhân ái là cái gốc
đạo lý làm người. Cô giáo Mầm non không chỉ giỏi về nghiệp vụ, mà phải có tình yêu
thương trẻ thực sự. Những phẩm chất, đạo đức ấy không chỉ do có sẵn mà phải do quả
trình học tập, rèn luyện, tự bồi dưỡng để hoàn thiện chính mình.
9
Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
+ Chỉ đạo và hướng dẫn giáo viên tự học, tự nghiên cứu để nắm bắt các quy định về đạo
đức nhà giáo.
+ Phối hợp với các tổ chức chính trị trong trường tăng cường công tác tuyên
truyền, vận động đội ngũ giáo viên nhận thức rõ về tầm quan trọng của đạo đức sư
phạm ảnh hưởng như thế nào tới trẻ và xã hội. Đặc biệt là tìm hiểu tâm tư của từng
giáo viên từ đó động viên khuyến khích để giáo viên phấn khởi, yên tâm công tác.
+ Mặt khác tôi chủ động trò chuyện để nắm bắt tâm tư nguyện vọng của giáo
viên. Ví dụ: Để thực hiện tốt công tác chăm sóc học sinh ( Hướng dẫn trẻ thực hiện
các thao tác vệ sinh hàng ngày) thì đồng chí cần những gì?
Khi nắm bắt được nhu cầu thực tế của giáo viên tôi từng bước đáp ứng các yêu
cầu có thể cho giáo viên: Bố trí ở lớp thuận tiện, được trang bị tương đối đầy đủ các
trang thiết bị phục vụ cho công tác giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ, cử cô giáo tham
gia lớp tập huấn công tác vệ sinh tại huyện do dự án AAV tài trợ, được tuyên dương
trước tập thể nhà trường mỗi khi cô thực hiện tốt.
Sau khi áp dụng nhiều giải pháp trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm cho
người giáo viên tôi thấy giải pháp tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của giáo viên là hiệu

- Dùng đầu ngón tay của bàn tay này miết vào kẽ giữa các ngón của bàn tay kia
và ngược lại.
- Chụm 5 đầu ngón tay của tay này cọ vào lòng bàn tay kia bằng cách xoay đi,
xoay lại.
- Xả cho tay sạch hết xà phòng dưới nguồn nước sạch. Lau khô tay bằng khăn
hoặc giấy sạch.
11
Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
Các nội dung về rửa mặt, chải tóc tôi cùng giáo viên trao đổi tương tự và cuối
cùng tôi trốt lại kiến thức.
Ngoài ra tôi chỉ đạo giáo viên phải nắm chắc các thời điểm cần hướng dẫn học
sinh vệ sinh trong ngày. Khi tổ chức cho học sinh vệ sinh cần chú ý tới tất cả các đối
tượng trong lớp. Với lớp ghép cô giáo phải chia lớp thành ba tổ và phải đảm bảo lớn
nhỡ bé xen kẽ. Khi thực hiện cô cho trẻ lớn làm trước cho các trẻ nhỏ hơn quan sát.
Sau đó cho các trẻ thực hiện động tác thuần thục hướng dẫn các trẻ nhỏ hơn và giúp
đỡ các em cùng thực hiện động tác. Trẻ nào thực hiện tốt và giúp đỡ các em nhỏ tận
tình nhất được tuyên dương, được cắm cờ vào bảng bé ngoan. Hình thức tuyên dương
khen thưởng này trẻ rất thích nên hiệu quả đạt được rất khả quan.
Tôi thường xuyên kiểm tra giáo viên về kiến thức sư phạm giáo dục vệ sinh cho
trẻ và học sinh là kĩ năng vệ sinh bằng cách trò chuyện trao đổi ở bất kì nơi nào và vị
trí nào có thể kiểm tra.
Qua các giải pháp thực hiện tôi thấy giải pháp kiểm tra giáo viên và giải pháp
chia đối tượng học sinh là hiệu quả nhất. Vì qua hình thức kiểm tra tôi đã bồi dưỡng
được sâu hơn kiến thức cho giáo viên, giúp cho giáo viên nhớ lâu và tự tin hơn khi
giao tiếp với mọi người sung quanh, không còn cảm giác sợ hãi khi tiếp xúc với lãnh
đạo. Đối với học sinh được thể hiện vai trò của người anh với người em, giúp cho trẻ
biết chia sẻ trong hoạt động và đặc biệt khơi dậy trong trẻ tính nhấn nại, lòng bao
dung, sự độ lượng và tinh thần hợp tác.
3. Thực hiện công tác truyền thông cho phụ huynh:
Để tạo sự tin tưởng và thu hút sự tham gia của phụ huynh vào các hoạt động

13
Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
- Kết thúc: Thông qua hoạt động truyền thông tôi nhận thấy kết quả rõ rệt phụ
huynh học sinh rất phấn khởi, nắm được quy trình rửa tay, rửa mặt và cách phòng
tránh một số bệnh lây truyền, biết cách hướng dẫn con thực hiện một số thao tác vệ
sinh và điều đặc biệt qua buổi truyền thông nhận được rất nhiều sự tán dương của phụ
huynh, họ nhiệt tình tham gia.
4. Chuẩn bị môi trường giáo dục:
Toàn ngành giáo dục đang thực hiện phong trào "Xây dựng trường lớp học
thân thiện học sinh tích cực ", thực hiện tốt nội dung “Ba đủ” cho học sinh. Việc
làm đó rất quan trọng và cần thiết trong trường mầm non. Trước thực trạng lớp học
còn thiếu ( Học nhờ và mượn ), diện tích không đảm bảo. Đồ dùng đồ chơi còn nghèo
nàn, thiếu thốn. Vậy làm thế nào để lớp học trở nên thân thiện, gần gũi với trẻ? Trước
tiên tôi chỉ đạo chuyên môn nhà trường cùng giáo viên thực hiện nghiêm túc công tác
vệ sinh nhóm lớp hàng ngày, tạo môi trường xanh - sạch - đẹp. Sau đó hướng dẫn
giáo viên cách trang trí các góc hoạt động theo chủ đề ( Hướng dẫn trong buổi sinh
hoạt chuyên môn, hướng dẫn trong khi thực hiện công tác kiểm tra cùng chuyên
môn ) đảm bảo cô và trẻ cùng được thực hiện. Các đồ dùng trang trí không đòi hỏi
tính thẩm mỹ cao, chất lượng tốt, mà chỉ cần có bàn tay của trẻ tham gia. Nhưng phải
đảm bảo hấp dẫn ( Thay đổi theo từng ngày, từng tuần ). Có nghĩa là mỗi ngày đến
trường của trẻ là một ngày mới.
Trẻ đến lớp ngoài việc chuẩn bị đồ dùng học tập cho trẻ ra giáo viên còn phải
đặc biệt chú ý tới đồ dùng cá nhân của trẻ. Cô phải chuẩn bị đồ dùng phục vụ cho sinh
hoạt của trẻ thật chu đáo, đảm bảo mỗi trẻ có một bộ đồ dùng riêng, đồ dùng đảm bảo
tính thẩm mỹ đối với trẻ mầm non ( mầu sắc, sự ngộ nghĩnh, tính nhân cách hoá ).
Nhưng trong thực tế việc cung cấp đồ dùng cho trẻ gặp rất nhiều khó khăn cho cô
giáo trong lớp: Phụ huynh học sinh là nguồn cung cấp đầu tiên nhưng phụ huynh lại
không hiểu hết vai trò của việc làm công tác vệ sinh cho trẻ hàng ngày. Nắm được
thực trạng đó tôi chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm lớp hàng ngày trao đổi với phụ huynh,
14

Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
5 Công tác phối hợp với phụ huynh học sinh 1 1
6
Nhu cầu của giáo viên với công tác giáo dục vệ
sinh cho trẻ trong trường mầm non.
1 1
Qua bảng tổng hợp trên ta thấy: Giáo viên đã nắm chắc được nội dung giáo dục
vệ sinh, thời gian vệ sinh, đồ dùng vệ sinh, quy trình thực hiện các thao tác vệ sinh,
cho trẻ. Biết được nhu cầu cần phối hợp với phụ huynh và nhu cầu thiết yếu của cô
giáo khi thực hiện công tác giáo dục vệ sinh cho trẻ. Như vậy càng khảng định rằng
kiến thức không rễ dàng có được mà nó phải chải qua thời gian tập luyện, học tập
nghiên cứu và điều đặc biệt là sự động viên kịp thời, sự tán dương của đồng nghiệp và
sự ghi nhận kết quả đạt được của tập thể.
* Đối với phụ huynh: ( 29 phụ huynh)
Tôi tiến hành phát phiếu khảo sát phụ huynh cuối năm.
Bảng 5: Kết quả cuối năm
Stt Nội dung khảo sát
Đánh giá
Tốt Khá TB Yếu
1 Thời gian vệ sinh trong ngày 9 11 9 0
2 Đồ dùng vệ sinh 8 11 9 1
3 Đồ dùng vệ sinh sử dụng chung hay riêng 15 10 4 0
4 Quy trình vệ sinh 6 8 9 6
5 Công tác phối hợp cùng giáo viên 3 7 14 5
Đánh giá:
Qua thời gian tiếp xúc, trao đổi, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của phụ huynh từ
đó đưa các giải pháp cụ thể đối với các bậc phụ huynh ta thấy: ý thức của phụ huynh
đã thay đổi rõ rệt từ chỗ có nhiều phụ huynh chưa nắm được thời điểm vệ sinh trong
ngày, chưa xác định được các dụng cụ vệ sinh, đồ dùng nên dùng chung hay riêng,
16

Mức độ thói quen cất đồ dùng: Đồ dùng là nhu cầu thiết yếu khi trẻ đến lớp
do vậy trẻ thích ứng nhanh với việc sắp xếp đồ dùng, cất đồ dùng gọn gàng. Nếu trẻ
không tự vận động thì hôm sau khi tham gia chơi trẻ sẽ không có đồ chơi để hoạt
động
Mức độ thói quen ăn uống vệ sinh: Đa số trẻ đã biết ăn như thế nào là vệ sinh,
biết mời khi ăn
Như vậy qua một vài biện pháp tác động tới giáo viên và phụ huynh đặc biệt là
các cháu học sinh ta nhận thấy kết quả có sự thay đổi rõ ràng. Giáo viên thì nắm chắc
phương pháp, được trang bị đầy đủ kiến thức, phụ huynh hiểu rõ hơn về nhiệm vụ dạy
học của các cô giáo mầm non. Học sinh được trải nghiệm, được cung cấp kiến thức.
PHẦN KẾT LUẬN
I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Giáo dục thói quen văn hoá vệ sinh cho trẻ là một việc làm rất quan trọng vì đây
là yếu tố cần thiết nhất để giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.
1. Đối với giáo viên:
Cô giáo phải xây dựng kế hoạch cho mình ngay từ đầu năm học.
Cô giáo cần giáo dục đầy đủ tất cả các nội dung giáo dục thói quen vệ sinh cho
trẻ thường xuyên liên tục ở mọi lúc, mọi nơi.
Phải thực hiện đúng quy trình, trình tự các thao tác từ chăm sóc giáo dục vệ
sinh cho trẻ.
Cô giáo phải gần gũi, qua tâm động viên trẻ thích làm.
18
Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
Phải luôn phấn đấu học tập không ngừng ở đồng nghiệp, trên tài liệu, trên thông
tin đại chúng.
Phải sáng tạo linh hoạt trong các thao tác, hướng dẫn trẻ thật tỉ mỉ, kiên trì.
Phải thường xuyên có ý kiến tham mưu, đề xuất với lãnh đạo nhà trường kịp
thời.
2. Đối với ban giám hiệu:
Phải chỉ đạo thường xuyên công tác vệ sinh cho trẻ tới toàn thể cán bộ giáo viên

Phải thường xuyên vệ sinh đồ dùng của nhóm lớp, đặc biệt là đồ dùng vệ sinh
cá nhân trẻ.
Phải thường xuyên phối kết hợp với gia đình học sinh để thống nhất nội dung
phương pháp, biện pháp giáo dục vệ sinh cho trẻ.
Phải thường xuyên trao đổi với phụ huynh về nội dung giáo dục vệ sinh cho trẻ.
2. Đối với chính quyền địa phương:
Bố trí quỹ đất cho nhà trường ở nơi thoáng mát, sạch sẽ, khuôn viên rộng, có
nguồn nước.
Khen thưởng kịp thời cho các hộ gia đình có nuôi con khoẻ, dạy con ngoan, có
nếp sống văn minh.
3. Đối với Phòng giáo dục và Đào tạo:
Xây dựng các điểm trường ở nơi có nguồn nước, thuận tiện đi lại, có đủ công
trình vệ sinh, các công trình vệ sinh được xây dựng khép kín, đúng quy cách của
trường mầm non.
Cung cấp đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho việc sinh hoạt cho các cháu.
20
Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
Thường xuyên mở các lớp tập huấn cho giáo viên học hỏi kinh nghiệm về
chuyên đề vệ sinh.
Ngày 30 tháng 03 năm 2012
Người viết
Nguyễn Thị Đào
21
Nguyễn Thị Đào Trường Mầm non Nà Tăm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tạp chí giáo dục Mầm non.
Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.
Tài liệu bồi dưỡng chuyên môn của Phòng giáo dục và Đào tạo huyện.
Sách tâm lí học.
Mục lục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status