Nhóm 5: Thị trường độc quyền nhóm
CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN
1.Đặc điểm:
1.1. Đặc điểm của thị trường độc quyền:
Độc quyền sở hữu hoặc kiểm soát của một công ty để sản xuất và bán một hàng hóa
hoặc một dịch vụ
Thị trường cạnh tranh độc quyền có một số đặc điểm sau:
Một là: Có rất nhiều người bán tự do gia nhập hay rút lui khỏi ngành, thị phần của mỗi
DN là rất nhỏ, không đáng kể trên thị trường.
Hai là, sản phẩm của các DN có sự khác biệt với nhau qua nhãn hiệu, kiểu dáng, chất
lượng,....và có khả năng thay thế tốt cho nhau nhưng không thay thế hoàn toàn.
Ví dụ: Thị trường kem đánh răng, xà phòng, dầu gội đầu.....
Chính sự khác nhau của các sản phẩm của các DN đã hình thành hai nhóm khách
hàng:
Khách hàng trung thành với sản phẩm, nghĩa là họ ưa thích sản phẩm này hơn sản
phẩm khác; do đó vẫn mua sản phẩm này dù giá sản phẩm tăng lên.
Khách hàng trung lập (không trung thành) với sản phẩm, có nghĩa là họ coi các sản
phẩm tương tự nhau, do đó sẽ nhanh chóng chuyển sang tiêu dùng sản phẩm khác
nếu chỉ có giá sản phẩm này tăng lên.
Ba là, chính sự khác biệt của các sản phẩm, nên không thể có một mức giá duy nhất
cho tất cả các sản phẩm, mà hình thành một nhóm giá gồm nhiều mức giá nhưng chênh
lệch không nhiều.
Mâu thuẫn với một thị trường cạnh tranh hoàn hảo: bên bán là các nhà hoạch định giá
và không thực thi giá cả, vì chúng là những nhà cung cấp duy nhất, tạo ra mức giá cao hơn
và sản lượng thấp hơn so với cạnh tranh hoàn hảo.
Cái lợi quan trọng mà thị trường cạnh tranh độc quyền cung cấp là sự đa dạng của sản
phẩm, đáp ứng nhu cầu muôn vẻ và thích hợp với thu nhập của từng nhóm khách hàng.
Các rào cản nhập cảnh có thể được luật pháp, công nghệ, kinh tế hoặc tự nhiên. Như
đã nói đúng bởi Milton Friedman rằng độc quyền thường xuyên phát sinh từ sự hỗ trợ từ
chính phủ hay do sự đồng mưu thỏa thuận giữa các cá nhân.
1.2. Đặc điểm thị trường độc quyền nhóm:
Họ cạnh tranh trên vấn đề giá cả, xem ai nấu tô phở rẻ và ngon. Nhưng nhà hàng sang trọng
là độc quyền nhóm, vì có rất ít các nhà hàng sang trọng trong một thành phố. Giá thức ăn
GVHD: TS. Hạ Thị Thiều Dao 2
Nhóm 5: Thị trường độc quyền nhóm
rất là mắc, nhưng họ không cạnh trạnh với nhau trên vấn đề giá cả, mà họ cạnh tranh với
nhau trên vấn đề phong cách phục vụ -- phi giá cả.)
2/ Các rào cản và thách thức:
2.1/ Các rào cản:
2.1.1. Rào cản cạnh tranh chiến lược:
Việc tìm cân bằng trong một thị trường độc quyền nhóm phức tạp hơn trong mô hình
thị trường khác, bởi vì ta cần xét hành vi của đối thủ cạnh tranh. Ta giả sử rằng từng công
ty muốn làm điều tốt nhất mà nó có thể làm, trong điều kiện đã biết trước hành động của
đối thủ cạnh tranh: ví dụ: sản phẩm tràn ngập thị trường, hoặc kiểm soát một yếu tố đầu
vào.
2.1.2. Rào cản tự nhiên:
Như tính kinh tế theo quy mô, bằng phát minh sáng chế, bí quyết thương hiệu, công
nghệ, lòng trung thành của khách hàng cao.
2.2. Thách thức:
Thách thức trong quản lý đối với các doanh nghiệp khi đối thủ của họ giảm giá bán.
3/ Điều kiện cân bằng thị trường:
Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền hay cạnh tranh độc quyền thì nhà
sản xuất không cần tính đến phản ứng của các đối thủ khi lựa chọn các mức sản lượng và
giá bán.
Đối với thị trường độc quyền nhóm: thì nhà sản xuất phải tính đến phản ứng của các
đối thủ cạnh tranh khi đưa ra lựa chọn các mức sản lượng và giá bán.
Điều kiện cân bằng thị trường:
Các DN được tự do hành động sao cho có lợi cho DN nhất và do đó không có động
lực để DN thay đổi các quyết định về sản lượng và giá cả. Các DN khi đưa ra quyết định
phải lường trước được sự phản ứng của các đối thủ cạnh tranh.
Cân bằng Nash: từng công ty làm điều tốt nhất trong điều kiện đã biết hành động của
Tương tự, với DN2 để tối đa hóa lợi nhuận thì DN2 quyết định sản xuất ở mức sản
lượng Q2 (tại Q2: MC2 = MR), tương ứng mức giá P2.
Nhìn vào đồ thị ta thấy, giá của DN1 (P1) thấp hơn giá bán của DN2 (P2). Do đó, để
bảo vệ thị phần của mình, buộc lòng DN2 phải giảm giá và bán theo giá của DN1 là P1.
Như vậy, DN1 có chi phí thấp trở thành người lãnh đạo giá.
Lãnh đạo giá do có ưu thế về quy mô sản xuất:
Trong ngành, DN có ưu thế về quy mô sản xuất lớn sẽ là người định giá sản phẩm, các
DN còn lại sẽ là người chấp nhận giá, theo mức giá mà DN thống trị đã ấn định.
Nhìn vào mô hình: Giả sử:
Đường cầu thị trường về sản phẩm là D
Đường cung của các DN chấp nhận giá là SF
GVHD: TS. Hạ Thị Thiều Dao 5
Nhóm 5: Thị trường độc quyền nhóm
Đường cầu của DN lãnh đạo giá là DL: là chênh lệch giữa đường cầu thị trường D và
đường cung DN chấp nhận giá SF
Đường doanh thu biên tương ứng của DN lãnh đạo giá là MR và đường chi phí biên là
MC.
Để tối đa hóa lợi nhuận của mình, DN lãnh đạo giá sẽ sản xuất sản lượng ở mức QL,
tại đó MC = MR, và tương ứng với mức giá P1 tại đường cầu của DN lãnh đạo giá (DL)
Tại mức giá P1, các DN đi theo, hay các DN chấp nhận giá sẽ bán với mức sản lượng
QF, do đó tại mức giá P1 thì sản lượng được bán ra trên thị trường là: Q1=Ql+QF
b/ Độc quyền nhóm hợp tác công khai: hình thành mô hình cartel: ấn định mức giá
và sản lượng cần sản xuất theo nguyên tắc MC = MR.
Khi các DN công khai thỏa thuận hợp tác thỏa thuận với nhau thành một liên minh sản
xuất được gọi là Cartel.
Nếu tất cả các DN kết hợp thành một Cartel thì thị trường trở thành thị trường độc
quyền hoàn toàn. Để tối đa hóa lợi nhuận chung, cartel sẽ ấn định mức giá và sản lượng cần
sản xuất theo nguyên tác MC = MR, sau đó sẽ phân phối sản lượng cho các DN thành viên
dựa vào vị thế của mỗi DN, hay phân chia thị trường, mỗi DN thành viên sẽ trở thành DN
độc quyền trong khu vực của mình.
co các thành viên.
GVHD: TS. Hạ Thị Thiều Dao 7
Nhóm 5: Thị trường độc quyền nhóm
D
W
là đường cầu thế giới về dầu thô,
S
C
là đường cung về dầu của các nước ngoài OPEC,
D
OPEC
là đường cầu về dầu của OPEC: là mức chênh lệch giữa đường cầu thế giới D
W
và đường cung cạnh tranh S
C
(D
OPEC
= D
W
– S
C
).
Đường doanh thu biên và đường chi phí biên của OPEC là MR
OPEC
và MC
OPEC
Chi phí sản xuất của OPEC thấp hơn nhiều so với các nước ngoài OPEC.
Để tối đa hóa lợi nhuận, OPEC sẽ sản xuất ở sản lượng Q
OPEC
(tại đó MC = MR),
4.2.1. Mô hình Cournot:
Đây là mô hình đơn giản do nhà kinh tế học người Pháp Augustin Cournot đưa ra vào
năm 1938. Với giả định:
- Thị trường chỉ có hai DN sản xuất sản phẩm giống nhau nên chỉ có một mức giá trên
thị trường sản phẩm.
- Cả hai DN này đều am hiểu nhu cầu thị trường và chi phí của nhau.
- Giá sản phẩm trên thị trường sẽ phụ thuộc vào tổng sản phẩm của cả 2 DN.
Vấn đề đặt ra là cả hai DN chỉ có một lần và cùng một lúc đưa ra quyết định sản xuất
bao nhiêu sản phẩm để tối đa hóa lợi nhuận.
Thực chất của vấn đề này là mỗi DN xem như lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
là cố định, rối quyết định lượng sản phẩm của mình để đạt lợi nhuận tối đa.
GVHD: TS. Hạ Thị Thiều Dao 8
Nhóm 5: Thị trường độc quyền nhóm
Ví dụ: Hàm số cầu thị trường của sản phẩm X là: P = 50 - Q. Có 2 DN sản xuất sản
phẩm X. DN1 và DN2 đều sản xuất có chi phí trung bình và chi phí biên không đổi là
AC=MC = 4. Với Q = Q
1
+ Q
2
, Q
1
là sản lượng của DN1 và Q
2
là sản lượng của DN2.
Để tối đa hóa lợi nhuận, DN1 sẽ quyết định sản xuất bao nhiêu sản phẩm là tùy thuộc
vào sản lượng mà nó dự đoán DN2 sẽ sản xuất:
+ Nếu DN1 cho rằng DN2 không sản xuất (nghĩa là Q
2
= 0) thì đường cầu của
DN1 chính là đường cầu thị trường: P = 50 - Q
= 34, thì đường cầu mới của DN1 có dạng:
P = 16 – Q
1
. Để tối đa hóa lợi nhuận, MR
1(34)
= MC = 5 hay 16 – 2Q
1
= 5, ta được Q
1
= 5.5
+ Nếu DN1 dự đoán Q
2
= 45 thì D
1(45)
là: P = 5 – Q
1
. Để tối đa hóa lợi nhuận,
MR
1(45)
= MC hay 5 – 2Q
1
= 5, ta tính được Q
1
= 0.
Như vậy, quyết định sản lượng để tối đa hóa lợi nhuận của DN1 phụ thuộc vào sản
lượng của DN2, thể hiện qua bảng sau:
GVHD: TS. Hạ Thị Thiều Dao 9
Nhóm 5: Thị trường độc quyền nhóm
Q
2
1
= 22.5 – ½ Q
2
(1)
Phương trình (1) được gọi là phương trình phản ứng của DN1.
Phương trình phản ứng của một DN thể hiện số lượng sản phẩm mà DN sẽ sản xuất để tối
đa hóa lợi nhuận, khi số lượng sản phẩm của DN đối thủ coi như đã biết.
Tương tự, phương trình phản ứng của DN2 là:
Q
2
= 22.5 – ½ Q
1
(2)
* Lưu ý: khi MC1 ≠ MC2
=> đường phản ứng của DN1≠ DN2
GVHD: TS. Hạ Thị Thiều Dao 10
Nhóm 5: Thị trường độc quyền nhóm
Trạng thái cân bằng (Cân bằng Cournot) được xác định ở giao điểm của 2 đường
phản ứng, ở đó mỗi DN dự đoán chính xác số lượng sản phẩm mà đối thủ cạnh tranh sản
xuất và quyết định sản lượng thích hợp để tối đa hóa lợi nhuận của mình và khi đó cả 2 đểu
không có ý muốn thay đổi quyết định của mình.
Nếu hai DN không cấu kết với nhau:
Để xác định thế cân bằng Cournot thay phương trình (2) vào phương trình (1) ta có,
Q
1
= Q
2
= 15 suy ra P = 20.
Lợi nhuận của mỗi DN là: r
1
1
và Q
2
của cả 2 DN luôn bằng 22.5 đều đạt lợi nhuận tối đa. Đường Q
1
+ Q
2
= 22.5 được gọi
là đường hợp đồng.
Đường hợp đồng là tập hợp các tổ hợp sản lượng của 2 DN để tối đa hóa lợi nhuận
chung.
Nhược điểm: trong thực tế, những giả định của mô hình Cournot thường khó mà thực
hiện được, chỉ một lần DN không thể chọn đúng sản lượng ở thế cân bằng mà phải trải qua
quá trình thăm dò, điều chỉnh mới có thể đạt được.
4.2.2. Mô hình Stackelberg (lợi thế của người hành động trước):
Với giả định:
- Thị trường có hai doanh nghiệp DN1 và DN2
- Sản phẩm đồng nhất
GVHD: TS. Hạ Thị Thiều Dao 11
Nhóm 5: Thị trường độc quyền nhóm
- DN1 quyết định công bố trước sản lượng sản xuất của DN mình
DN1 sẽ có một lợi thế chiến lược và sẽ thu được lợi nhuận cao hơn. Bởi vì khi DN1
chọn mức sản lượng lớn thì đối thủ cạnh tranh là DN2 phải chọn mức sản lượng nhỏ hơn
nếu muốn tối đa hóa lợi nhuận vì nếu DN2 đặt Q lớn hơn =>đẩy P↓=>cả 2 bị thiệt
Xét lại ví dụ trên, giả sử DN1 quyết định trước sản lượng là Q
1
thì DN2 sẽ sản xuất
sản lượng là Q
2
= 22.5 – ½ Q
r
2
= (P – AC) x Q
2
= 126.5625
Qua ví dụ trên ta thấy rằng:
Lợi nhuận của DN1 cao hơn so với mô hình Cournot
Lợi nhuận của DN2 thấp hơn so với mô hình Cournot
Tại sao? Vì DN1 có thể đề ra một mức sản lượng trước DN2 và sử dụng mục tiêu này
để chiếm lấy phần lớn thị trường. DN2 không xông xáo phản ứng lại điều này bởi vì không
có tác động ăn cắp-thương mại trong mô hình này. DN1 sẽ sản xuất sản lượng cao hơn và
thu được lợi nhuận cao hơn so với DN2.
Như vậy, thông thường người hành động trước là người có thế lực thị trường lớn hơn.
Các mô hình Cournot và Stackelberg là những biểu hiện của thái độ độc quyền
nhóm. Để lựa chọn việc mô hình nào là thích hợp hơn tùy thuộc vào lĩnh vực kinh hoạt
động. Đối với một ngành công nghiệp gồm có những hãng đại thể giống nhau, không một
hãng nào có được lợi thế hành động hay vị thế lãnh đạo mạnh mẽ, mô hình Cournot chắc
chắn thích hợp hơn. Mặt khác, một số ngành công nghiệp bị khống chế bởi một hãng lớn,
hãng này thường lãnh đạo trong việc đưa ra những sản phẩm mới hay việc định giá thì mô
hình Stackelberg thích hợp hơn.
GVHD: TS. Hạ Thị Thiều Dao 12
Nhóm 5: Thị trường độc quyền nhóm
4.2.3. Mô hình Bertrand – Cạnh tranh giá cả:
Với giả định:
+ các DN định giá cùng lúc
+ sản phẩm đồng nhất
+ không hợp tác
Mô hình Bertrand về độc quyền nhóm cho rằng các DN sản xuất một sản vật giống
nhau nhưng cạnh tranh với nhau bằng cách ấn định giá cả, mỗi doanh nghiệp coi các giá
của các đối thủ cạnh tranh với mình là cho trước và DN nào có giá cả thấp nhất sẽ chiếm
lòng thay đổi giá cả. Nếu các chi phí giảm xuống hay nhu cầu của thị trường suy thoái, các
DN đều không sẵn lòng hạ thấp giá cả vì việc đó có thể gửi một thông điệp sai lạc tới các
đối thủ cạnh tranh của họ và do đó dẫn tới chiến tranh giá cả. Và nếu như các chi phí hay
nhu cầu gia tăng, các DN cũng không sẵn lòng nâng cao giá vì họ sợ rằng các đối thủ cạnh
tranh của họ không thể cùng nâng cao giá.
Tính cứng nhắc này của giá cả là nền tảng của mô hình “đường cầu gãy“ (hình vẽ).
Theo mô hình này, mỗi DN đứng trước đường cầu gãy với mức giá phổ biến là P
1
. Ở những
mức giá cao hơn P
1
, đường cầu rất co giãn, bởi vì mỗi DN cho rằng nếu tăng giá sản phẩm
cao hơn mức giá P
1
thì sẽ không một đối thủ nào tăng giá theo, do đó thị phần và doanh thu
của DN sẽ bị giảm.
Ngược lại, ở những mức giá thấp hơn P
1
, đường cầu rất ít co dãn, vì khi một DN hạ
giá bán sản phẩm của mình thấp hơn mức giá hiện hàng P
1
thì các đối thủ cũng sẽ hạ giá
theo vì họ không muốn bị giảm thị phần, do vậy lượng sản phẩm bán ra của DN chỉ tăng
đến phạm vi lượng cầu của thị trường tăng do giá giảm.
GVHD: TS. Hạ Thị Thiều Dao 14
Nhóm 5: Thị trường độc quyền nhóm
Vì thế, đường cầu của DN độc quyền nhóm là đường cầu gãy tại mức giá hiện hành là
P
1
, đường doanh thu biên tương ứng không liên tục tại sản lượng Q