MỤC LỤC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
V. NỘI DUNG ĐỀ TÀI 2
Chương 1. TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ TRI THỨC 3
1.1. Khái niệm và đặc điểm kinh tế tri thức 3
Bảng. So sánh khái quát các thời đại kinh tế 7
(nguồn: viện nghiên cứu phát triển thành phố HCM) 7
1.2. Bốn trụ cột của nền kinh tế tri thức 8
1.3. Mối quan hệ giữa giáo dục và kinh tế tri thức 9
Chương 2. THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 10
2.1. Những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển kinh tế tri thức 10
2.2. Những mặt hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế tri thức 14
2.3. Thực trạng phát triển kinh tế tri thức Việt Nam xét theo bốn trụ cột 18
Chương 3. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC 22
3.1. Đổi mới mô hình giáo dục đào tạo theo hướng hiện đại 22
3.2. Điều chỉnh cơ cấu giáo dục, đào tạo phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội 24
3.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên 24
3.4. Xây dựng cơ chế chính sách đãi ngộ tốt đối với đội ngũ giáo viên 25
3.5. Nâng cao sự quản lý của Đảng và chủ động hội nhập 26
VI. KẾT LUẬN 28
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
KINH TẾ GIÁO DỤC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Kinh tế tri thức là một khái niệm mới, về nội hàm, kinh tế tri thức phản ánh một
trình độ rất cao trong các nấc thang phát triển kinh tế của loài người. Hiện nay xu hướng
phát triển kinh tế tri thức đang tác động ngày càng sâu rộng trên mọi khía cạnh, lĩnh vực
của đời sống nhân loại; có thể nói kinh tế tri thức vừa là mục tiêu vừa là xu thế phát triển
tất yếu của xã hội loài người trong tương lai gần. Kinh tế tri thức được xác định chính là
ở Việt Nam.
Phương pháp định lượng:
Đề tài sử dụng nguồn số liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê cùng một số trang Web
đề cập đến giáo dục và nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
V. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Nội dung đề tài gồm 3 chương có kết cấu như sau:
Chương 1: Tổng quan nền kinh tế tri thức
Chương 2: Thực trạng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Nâng cao chất lượng giáo dục trong nền kinh tế tri thức
NHÓM 7 – K11403 2
KINH TẾ GIÁO DỤC
Chương 1. TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ TRI THỨC
1.1. Khái niệm và đặc điểm kinh tế tri thức
1.1.1. Khái niệm
Từ khi xã hội loài người tiếp nhận hai phát minh vĩ đại là Thuyết Tương đối (Albert
Einstein) và Thuyết Lượng tử (Max Planck) thì khoa học công nghệ phát triển như vũ
bão. Thế kỷ XX bùng nổ cách mạng tri thức và cách mạng thông tin, hệ thống công nghệ
cao ra đời, lực lượng sản xuất phát triển nhảy vọt lên nấc thang mới, xã hội loài người
biến đổi sâu sắc về mọi mặt. Nền văn minh công nghiệp chuyển sang nền văn minh trí
tuệ, nền kinh tế công nghiệp chuyển sang dựa vào nền kinh tế tri thức, xã hội công nghiệp
chuyển lên xã hội tri thức, xã hội thông tin.
Khái niệm kinh tế tri thức manh nha xuất hiện từ đầu những năm 1960.Trong nhiều
năm qua, kinh tế tri thức được chọn làm chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, cả
những quốc gia phát triển và đang phát triển.
Như vậy, nền kinh tế tri thức là hệ quả tất yếu của ba quá trình: phát triển kinh tế thị
trường, phát triển khoa học công nghệ và toàn cầu hóa. Nói cách khác, đang có sự chuyển
biến nền kinh tế toàn cầu dựa vào bắp thịt và tiền vốn sang dựa vào sức mạnh của trí não,
dựa trên công nghệ cao mà tiêu biểu là công nghệ thông tin. Với sự phát triển của lĩnh
vực này, quy trình khoa học – kỹ thuật đến công nghệ sản xuất ngày càng được rút ngắn,
lực lượng lao động ngày càng chuyên nghiệp hơn, ứng dụng máy móc hiện đại để thay
Tài nguyên là tất cả những yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm. Dựa vào nguồn tài
nguyên chủ yếu trong sản xuất, người ta chia ra: nền kinh tế dựa vào tài nguyên thiên
nhiên, nền kinh tế dựa vào vốn, sức lao động,…
NHÓM 7 – K11403 4
KINH TẾ GIÁO DỤC
Nền kinh tế tri thức xuất hiện ba loại tài nguyên mới: thông tin, giáo dục và tri thức.
Trình độ và chất lượng của công cuộc phát triển kinh tế trong nền kinh tế tri thức phụ
thuộc vào mức độ khai thác, phân phối và sử dụng ba loại tài nguyên này. Đây là tiêu chí
quan trọng để so sánh sự khác biêt giữa kinh tế công nghiệp với kinh tế tri thức.
1.1.2.2. Lực lượng sản xuất trong nền kinh tế tri thức
Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của xã hội ở một thời kỳ
nhất định, bao gồm các hệ thống tư liệu sản xuất là tư liệu lao động và đối tượng lao
động.
Trong nền kinh tế tri thức, sự phát triển của kinh tế tri thức tập trung ở hai mặt:
- Sự gia tang hàm lượng khoa học và công nghệ làm xuất hiện sự chuyển hóa
các đặc trưng công cụ sản xuất và đối tượng lao động thành phần mềm.
- Ba tài nguyên mới của nền kinh tế tri thức là giáo dục, thông tin và tri thức sẽ
phát triển rộng khắp và là nhân tố then chốt thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển sang
giai đoạn mới.
1.1.2.3. Giá trị của tri thức trong sản phẩm hàng hóa
Trong nền kinh tế tri thức, cùng với sự phát triển khoa học công nghệ, xét về mặt
chủ thể thì lao động trí óc sẽ chiếm vị trí chủ đạo. Dựa vào hàm lượng khoa học công
nghệ nhiều hay ít, tri thức cao hay thấp có trong hàng hóa mà người ta chia ra: hàng hóa
có tính lao động, hàng hóa có tính kỹ thuật, hàng hóa có tính tri thức. Như vậy, trong nền
kinh tế tri thức, người ta sẽ chú trọng hàm lượng tri thức trong hàng hóa. Điều này sẽ dẫn
đên sự điều chỉnh lớn về quan niệm sản xuất, các hành vi kinh tế, cạnh tranh trên thị
trường.
NHÓM 7 – K11403 5
1.1.2.4. Sự tiêu dùng tri thức
Trong nền kinh tế tri thức, sự tiêu dùng tri thức biểu hiện tập trung ở ba mặt:
thức, thông tin
Các quá trình chủ yếu Trồng trọt, chăn
nuôi
Chế tạo, gia công Thao tác, điều khiển,
kiểm soát
Đầu ra của SX Lương thực Của cải, hàng hoá
tiêu dùng, các xí
nghiệp, nền công
nghiệp
Sản phẩm đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của
cuộc sống, công nghiệp
tri thức, vốn tri thức
Cơ cấu kinh tế Nông nghiệp là
chủ yếu
Công nghiệp và dịch
vụ là chủ yếu
Các ngành kinh tế tri
thức thống trị
Công nghệ chủ yếu
thúc đẩy phát triển
SD súc vật, cơ giới
hoá đơn giản
Cơ giới hoá, hoá học
hoá, điện khí hoá,
chuyên môn hoá
Công nghệ cao, điện tử
hoá, tin học hoá, siêu xa
lộ thông tin, thực ảo….
Cơ cấu xã hội Nông dân Công nhân Công nhân trí thức
của đất nước, sáng tạo ra những tri thức mới, hay nói cụ thể hơn là các phát minh sáng
chế giúp phát triển đất nước, và rộng ra là phát triển toàn nhân loại.
- Cơ sở hạ tầng thông tin: Giúp kết nối mọi người lại với nhau, giúp tiếp cận tri
thức toàn cầu dễ dàng hơn mà ngày nay nhờ công nghệ thông tin, người ta biết rằng “thế
giới phẳng”. Một cơ sở hạ tầng thông tin hoàn thiện là nhân tố không thể thiếu trong quá
trình phát triển đất nước, vươn lên tầm tri thức mới.
- Hệ thống thể chế: Một quốc gia muốn phát triển thì các thể chế chính sách
phải phù hợp. Có thể nói, đây chính là cái khung pháp lý mà dựa vào đó, quốc gia có thể
phát triển hay thụt lùi phụ thuộc vào hệ thống thể chế có đáp ứng được trong từng thời
đại.
1.3. Mối quan hệ giữa giáo dục và kinh tế tri thức
Giáo dục luôn là một vấn đề quan trọng, đáng quan tâm hàng đầu của mỗi quốc
gia.Và trong nền kinh tế tri thức, giáo dục càng có vai trò to lớn hơn nữa, như trên đã nói,
đó là một trong bốn trụ cột của nền kinh tế tri thức.
Sự phát triển của khoa học công nghệ đưa thế giới bước vào kỷ nguyên thông tin,
kỷ nguyên tri thức. Khoảng cách giữa việc phát minh khoa học công nghệ và việc ứng
dụng chúng vào thực tiễn ngày càng thu hẹp lại. Nền kinh tế tri thức, đòi hỏi mỗi người
lao động luôn không ngừng học tập, trau dồi khả năng để có thể tạo ra nhiều sản phẩm tri
thức cao và bắt kịp thời đại. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi giáo dục phát huy tối đa vai trò
của mình trong việc giảng dạy và đào tạo. Nguồn nhân lực của mỗi quốc gia vừa phải
trang bị những tri thức và kỹ năng mới, vừa phải thay đổi công nghệ và cách làm, giúp
con người hoạt động sáng tạo, phát huy trình độ chuyên môn, thái độ lao động và lương
tâm nghề nghiệp, giáo dục phải làm được những điều như thế.
Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, phát
triển nhân tài, nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm đối với bản thân và cộng
đồng, đặt nền tảng cho sự đổi mới và phát triển khoa học công nghệ cho đất nước.
Như vậy, có thể nói, giữa giáo dục và nền kinh tế tri thức có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Trước những đòi hỏi của nền kinh tế tri thức, buộc giáo dục luôn phải đổi mới
và phù hợp, giáo dục phải tạo ra được những nhân lực chất lượng cao. Ngược lại, nếu nền
kinh tế phát triển không dựa vào tri thức, thì việc giáo dục cũng chẳng phát huy được vai
Dịch vụ 38,59 44,06 39,09 38,20 43,31
Nguồn: Tổng cục thống kê
Thứ hai, xây dựng thể chế kinh tế thị trường, tạo điểu kiện thuận lợi cho sự phát
triển của khu vực kinh tế tư nhân:
Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc xây dựng hệ thống pháp
luật kinh tế thị trường, cải cách tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước, tăng cường năng
lực, tính năng động và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức chú trọng hỗ
trợ doanh nghiệp mới và tạo cuộc sống tốt hơn cho người dân, cơ cấu lao động thay đổi
với sự từng bước gia tăng của lực lượng lao động xử lý thông tin, làm dịch vụ, di chuyển
sản phẩm, làm văn phòng,… (còn gọi là lao động tri thức)
Đặc biệt, trong những năm gần đây, với sự ra đời của Luật doanh nghiệp, khu vực
kinh tế tư nhân đã có những bước phát triển mạnh. Trong giai đoạn 2010- 2013, trung
bình hằng năm có khoảng 20.000 doanh nghiệp dân doanh thành lập mới, với số vốn
đăng ký đầu tư hơn 40.000 tỷ đồng và giải quyết việc làm cho hơn 1 triệu lao động. Các
doanh nghiệp dân doanh đã tham gia vào hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế,
với tổ chức sản xuất- kinh doanh linh hoạt, nỗ lực cải tiến công nghệ, tăng năng suất,
thâm nhập thị trường. Tình hình đó càng đòi hỏi phát triển thị trường hàng hoá và thị
trường vốn, thị trường sức lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công
nghệ, góp phần làm tăng phạm vi, quy mô và mức độ thị trường hoá nền kinh tế nước ta.
Thứ ba, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế:
Các quan hệ kinh tế song phương và đa phương của Việt Nam không ngừng được
mở rộng thông qua việc ký kết và tham gia vào các hiệp định và diễn đàn như: ký Hiệp
định khung với Liên minh Châu Âu (EU) (1992); tham gia Khu vực Thương mại Tự do
ASEAN (AFTA) (1996); tham gia Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (
APEC) (1998); ký Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ ( 2000). Hiện nay Việt
Nam đã bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện hơn bao giờ hết.
Tính đến năm 2011, chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với 179 quốc gia, có quan hệ kinh
tế, thương mại, đầu tư với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc Việt Nam gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đã đưa quá trình hội nhập của đất nước
doanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ sản phẩm công nghệ cao như tin học, điện tử viễn
thông, tư vấn, thị trường, giá cả… Nhiều cơ quan nhà nước cũng từng bước nghiên cứu
áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý trong một số lĩnh vực, điển hình là
đăng kí kinh doanh.
Kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận qua gần 30 năm đổi
mới, bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng. Đổi mới được ghi nhận như là một đột phá tư duy
ngoạn mục chuyển sang kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, mở ra hướng đi mới cho nền
kinh tế Việt Nam theo kịp thời đại, tạo đà cho nền kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng, các
năng lực sản xuất được giải phóng, khu vực tư nhân phát triển, kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài (FDI) được đưa vào nhiều… nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong những năm
đầu thập kỷ 90, tiếp đó vượt qua tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính khu
vực, tiếp tục tăng trưởng khá trong thập niên đầu thế kỷ XXI… Giữa thập kỷ 90, báo chí
nước ngoài ca ngợi sự phát triển mới của Việt Nam và có nhiều dự báo Việt Nam sẽ cất
cánh trước khi bước vào thiên niên kỷ mới. Thế nhưng đà phát triển của Việt Nam sau đó
bắt đầu chững lại, nhiều vấn đề mới nảy sinh khi chuyển hẳn sang kinh tế thị trường
và hội nhập quốc tế sâu rộng mà tư duy và thể chế quản lý chưa theo kịp, Đổi mới mất
dần động lực, không còn những phát triển đột phá nữa và từ năm 2007 đến nay, nền kinh
tế suy giảm tăng trưởng, đứng trước những khó khăn gay gắt chưa từng có sau đổi mới.
2.2. Những mặt hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế tri thức
Đánh giá theo những đặc trưng chủ yếu của kinh tế tri thức, trong những năm qua,
có những việc chúng ta có thể làm, hoặc có thể làm tốt hơn, nhưng chưa làm được thể
hiện chủ yếu như:
Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp và chưa được cải thiện nhiều:
Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao thể hiện ở chỗ hiệu quả nền kinh tế còn
thấp, năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế còn yếu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn
chậm và chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư có xu hướng gia tăng. Môi
trường đầu tư không ổn định và năng lực yếu kém của bộ máy hành chính đã làm tăng
đáng kể chi phí giao dịch và chi phí đầu vào sản xuất- kinh doanh. Việc phân biệt đối xử
trong thực tế giữa các thành phần kinh tế, chậm cải cách và tiếp tục bao cấp cho doanh
nghiệp Nhà nước, duy trì nhiều độc quyền và bảo hộ không có thời hạn và mục tiêu cụ
tăng thêm sức ì và gánh nặng đối với nền kinh tế, đồng thời tác động bất lơi đến quá trình
hoạch định chính sách.
Thứ tư, các lĩnh vực biểu hiện đặc trưng của kinh tế tri thức chưa phát triển
Các ngành mới, đại điện cho kinh tế tri thức ( hay còn gọi là các ngành công nghệ
cao) hoặc chưa hình thành hoặc mới ở trình độ phát triển rất sơ khai. Số doanh nghiệp
đầu tư mạo hiểm, đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D) nhằm tạo ra công nghệ mới
là không đáng kể. Đây chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn Việt
Nam chỉ có một số doanh nghiệp nhà nước lớn có sơ sở hoạt động và nghiên cứu phát
triển công nghệ, nhưng lượng vốn đầu tư cho R&D của các doanh nghiệp này chỉ đạt
khoảng 0,2% doanh thu, quá thấp so với tỹ trọng 5-10% của doanh nghiệp tại các nước
phát triển. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước hầu như chưa tham
gia hoạt động R&D. Tri thức chưa thực sự trở thành nguồn vốn quý, ý thức xã hội và thể
chế pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ còn quá kém, những người có khả năng tạo ra tri thức
chưa hình thành được thói quen đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho sản phẩm khoa
học và công nghệ của mình.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong đời sống kinh tế- xã hội còn rất hạn chế. Mạng
thông tin đa phương tiện tuy đã và đang được mở rộng khá nhanh, nhưng chưa bao phủ
được khắp toàn quốc, chưa kết nối được đến hầu hết các tổ chức và các hộ gia đình. Bên
cạnh đó, sự tiếp cận với mạng thông tin còn gặp phải nhiều ràng buộc liên quan đến các
khía cạnh về cơ sở vật chật kĩ thuật, các thủ tục hành chính, pháp lý, giá cược… Điều này
ảnh hưởng lớn đến sự tiếp cận của các thành viên trong xã hội với những thông tin cần
thiết. Các phương thức kinh doanh mới như thương mại điện tử, thị trưởng ảo, tổ chức
ảo, doanh nghiệp ảo, làm việc từ xa… còn ở trình độ manh nha, thậm chí mới có trong
mong muốn, trong lời nói, trong bài viết, chưa có trong thực tế.
Nền kinh tế cho đến nay vẫn đi theo lối mòn với nhiều dấu ấn của mô hình công
nghiệp hóa kiểu cũ. Tuy đã chuyển sang kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, thu hút
nhiều FDI, gia nhập WTO, tự do hóa thương mại, nhưng không có tiến bộ nhiều về
năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Hiệu quả đầu tư có thể lấy hệ số ICOR
để đánh giá, ICOR chung của nền kinh tế từ khoảng 4,5 thời kỳ 2000-2006 tăng lên đến
trên 8 (giai đoạn 2007-2012), trong khi các nước trong khu vực chỉ ở mức 3-4. Năng suất
và kinh doanh tinh vi thì Việt Nam vẫn là nước đang giẫm chân tại chỗ trong giai đoạn 1;
trong khi đó Philippin đang chuyển tiếp từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2; Indonesia, Thái
Lan, Malaysia, Trung Quốc đang ở giai đoạn 2. Năm 2012, xếp hạng theo chỉ số cạnh
tranh (Global Competitiveness Index - GCI), Việt Nam đứng thứ 75/144; năm 2013
vươn lên vị trí thứ 70. Tuy thăng 5 hạng, nhưng Việt Nam vẫn bị đánh giá là có năng lực
cạnh tranh kém hơn so với nhiều quốc gia trong cùng khu vực Đông Nam Á được
xếp hạng, như Singapore (xếp thứ 2), Malaysia (24), Brunei (26), Thái Lan (37),
Indonesia (38) và Philippines (59).
Theo báo cáo về Chỉ số đổi mới toàn cầu (The Global Innovation Index - GII), do
WIPO, Đại học Cornell (Mỹ) và Viện INSEAD hợp tác thực hiện hàng năm từ năm
2009, năm 2011 Việt Nam đứng thứ 51/125 nước; đến năm 2012 tụt sâu xuống thứ
76/141 nước. Năm 2013, Việt Nam vẫn chỉ giữ nguyên vị trí thứ 76 và xếp thứ 5 trong
khối các nước ASEAN. Đó chỉ là nói về năng lực KH&CN, chưa xem xét tác động của
nó đến kinh tế.
So với các nước và vùng lãnh thổ như: Hàn Quốc, Đài Loan qua 25 năm (1970-
1995) đã trở thành nước công nghiệp hóa mới; còn ta cũng 25 năm tính từ 1987 đến
2012, giai đoạn này lại có điều kiện thuận lợi hơn, thì công nghiệp hóa chưa đi được nửa
đường; tình hình diễn biến ngược lại với định hướng phát triển kinh tế tri thức đề ra gần
15 năm nay. Trung Quốc đổi mới từ năm 1978, nhờ chính sách của Đặng Tiểu Bình
chấm dứt tranh luận “họ tư hay họ xã”, mạnh dạn phát triển kinh tế thị trường, hội nhập
quốc tế sâu rộng, chấn hưng đất nước bằng KH&CN, giáo dục và đào tạo, theo bước đi
của các nước phát triển nhất, sau 30 năm đã trở thành nước công nghiệp, nền kinh tế lớn
thứ hai thế giới. Với sức mạnh kinh tế hùng hậu ấy họ càng hung hăng thực hiện mưu đồ
bành trướng, bá chủ toàn cầu. Đó là thách thức lớn đối với nước ta, nếu ta không quyết
tâm đổi mới và hoàn thiện thể chế, thực hiện đại đoàn kết toàn dân, để nền kinh tế tiếp
tục tụt hậu thì nguy cơ lệ thuộc là khó tránh khỏi.
2.3. Thực trạng phát triển kinh tế tri thức Việt Nam xét theo bốn trụ cột
Như đã biết, bốn trụ cột chính cần hình thành để một quốc gia chuyển sang nền kinh
tế tri thức là: giáo dục, mạng lưới các trung tâm nghiên cứu, cơ sở hạ tầng thông tin và hệ
thống thể chế chính sách.
các nhà khoa học ít hơn. Nếu để ý rằng Việt Nam có một đội ngũ hùng hậu với gần 2
triệu người làm khoa học công nghệ, hàng vạn thạc sĩ, tiến sĩ, gần 2000 giáo sư, gần 6000
phó giáo sư và hàng triệu cử nhân, kỹ sư thì mới thấy lĩnh vực phát minh sáng chế của
Việt Nam còn thua xa ngay cả so với các nước trong khu vực ASEAN.
Về công nghệ thông tin: một trong những chỉ số tăng mạnh nhất của Việt Nam trong
4 trụ cột của nền kinh tế tri thức là công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông, đạt 3,49
điểm (so sánh với điểm bình quân của thế giới là 6,0 điểm, Malaysia 7,3 điểm, Singapore
là 9,19 điểm). Tuy nhiên, vấn đề là lực lượng lao động CNTT của Việt Nam còn ít, chưa
có kinh nghiệm. Trong 40 triệu công nhân Việ Nam, chỉ có 20.000 lao động trong lĩnh
vực CNTT, trong khi chỉ có 3.500-4000 sinh viên tốt nghiệp với các bằng cấp CNTT
hàng năm. Ngoài ra, khu vực CNTT và truyền thông Việt Nam (ICT) tiếp tục phát triển
chậm nhất khu vực, chỉ số ICT của Việt Nam chỉ đạt 3,49 điểm so với 7,04 điểm của
Châu Á- Thái Bình Dương. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, mặc dù tốc độ phát
triển của CNTT và truyền thông của Việt Nam từ năm 2000 đến nay đều tăng ở mức 2
con số nhưng do điểm xuất phát thấp nên vị trí của Việt Nam trên bản đồ kinh tế tri thức
thế giới vẫn còn ở mức trung bình thấp, thậm chí có chỉ tiêu như sự sẵn sàng cho nền
kinh tế điện tử còn xếp gần cuối bảng trong số nhiều nước xếp hạng.
Về thể chế: Đại hội VI đề ra yêu cầu phải đổi mới đồng bộ, toàn diện, đổi mới kinh
tế trước, chính trị sau. Thế nhưng hệ thống chính trị rất chậm đổi mới (lẽ ra phải từ giữa
thập kỷ 90), quyền làm chủ của nhân dân còn bị hạn chế, khối đại đoàn kết toàn dân
chưa được phát huy, còn nhiều rào cản đối với các năng lực sản xuất và các quá trình đổi
mới sáng tạo. Đội ngũ trí thức nước ta đầy tâm huyết muốn được cống hiến góp phần đổi
mới đất nước theo kịp thời đại thì chưa được phát huy mạnh mẽ, tiềm năng trí tuệ dân tộc
bị lãng phí đáng kể.
Trong 4 trụ cột thì ở Việt Nam, thể chế và môi trường kinh doanh là kém nhất, đạt
2,8 điểm, đứng thứ 108/146 năm 2012; công nghệ thông tin khá nhất, từ 3,82 điểm, xếp
thứ 113/146 năm 2000 tăng lên 5,05 điểm, thứ 75/146 năm 2012. Như vậy, chỉ số KEI
của Việt Nam tăng là nhờ vào chỉ số về công nghệ thông tin.
Như vậy có thể thấy, trong những năm qua, Việt Nam đã rất cố gắng trong quá trình
phát triển kinh tế tri thức, tuy nhiên vẫn chưa thể ngang hàng với bạn bè quốc tế, trước
xã hội, tiếp cận thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến trên thế giới. Dạy học ngoại ngữ
và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng thực tế của người
học. Phát triển đa dạng nội dung, tài liệu học tập đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của
mọi người.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng khắc phục
lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo, vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, tập trung dạy cách học, cách nghĩ và tự
học, theo phương châm “giảng ít, học nhiều”. Chuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự
đào tạo. Bồi dưỡng khát vọng học tập suốt đời.
Thứ ba, chuyển từ chủ yếu thực hiện chương trình giáo dục trên lớp học sang tổ
chức đa dạng các hình thức thực hiện chương trình giáo dục, tăng cường các hoạt động
xã hội, nghiên cứu khoa học của người học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và
truyền thông trong dạy và học, tăng cường áp dụng hình thức giáo dục từ xa có chất
lượng cao.
3.1.2. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả
Bên cạnh việc chuyển hướng mục tiêu giáo dục, cần phải đổi mới hình thức và
phương pháp kiểm tra, thi và đánh giá chất lượng giáo dục, bảo đảm trung thực, khách
quan, chính xác, theo yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất người học.
Nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục cần phải chú trọng
đánh giá việc hiểu, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các vấn đề trong học
tập và thực tiễn. Hạn chế yêu cầu ghi nhớ máy móc, “học tủ”. Đánh giá đồng thời được
sự tiến bộ về phẩm chất và cả năng lực của người học.
Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng
kiểm tra năng lực học sinh, thiết thực, hiệu quả, tin cậy, sử dụng được kết quả công nhận
tốt nghiệp trung học phổ thông làm căn cứ cho tuyển sinh của nhiều cơ sở giáo dục nghề
nghiệp và giáo dục đại học.
Ngoài việc đánh giá kết quả học tập của người học, cần tiến hành các hình thức
đánh giá chất lượng giáo dục cả nước, từng địa phương, từng cơ sở giáo dục. Thực hiện
các kỳ đánh giá quốc gia chất lượng giáo dục phổ thông và tham gia đánh giá quốc tế để
làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục.