Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lời mở đầu
Đất nớc ta đang trên đờng đổi mới, với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao chất lợng cuộc sống
của ngời dân, từng bớc hoà nhập vào các nớc trong khu vực, cũng nh trên thế
giới. Để thực hiện đợc mục tiêu này, cần thực hiện tốt công cuộc đổi mới nền
kinh tế từ trung bao cấp sang nền kinh tế thị trờng, trong đó nâng cao hiệu
quả kinh tế của toàn xã hội nói chung và hiệu quả sản xuất kinh doanh của
tựng doanh nghiệp nói riêng là rất quan trọng.
Trớc đây, trong nền kinh tế tập trung bao cấp hiệu quả sản xuất kinh
doanh không đợc chú trọng do doanh nghiệp chỉ thực hiện theo chỉ tiêu kế
hoặch của Nhà nớc, không phải cạnh tranh, lãi hay lỗ do Nhà nớc chịu.
Đây là một trong những nguyên nhân làm cho nớc ta tụt hậu so với thế giới
còn trong cơ chế thị trờng sản xuất kinh doanh nh thế nào phụ thuộc vào là
do cung cầu thị trờng quyết định nên tính cạnh tranh rất cao, đòi hỏi mỗi
doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới công tác quản lý và sản xuất cho
khoa học, hợp lý nâng cao tính linh hoạt trong kinh doanh và đặc biệt là
nâng cao đợc hiệu quả sản xuất kinh doanh, có nh vậy mới đảm bảo đợc sự
tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp.
Hiện nay, nớc ta cha có một nền công nghiệp hoàn chỉnh có trình độ
công nghệ cao, nên việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cần thiệt
và cũng rất khó khăn, đặc biệt là dới ngành dệt may. Do vốn đầu t thấp, số
lợng lao động lớn, chất lợng sản phẩm mới chỉ đáp ứng nhu cầu, trong nớc,
cha đủ sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế nên các doanh nghiệp Việt
Nam mới chỉ gia công thuê cho nớc ngoài là chủ yếu, điều này hạn chế rất
nhiều khả năng chủ động và linh hoạt của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ngành
dệt may Việt Nam có u điểm yêu cầu kỹ thuật của khách hàng. Nh vậy, việc
nâng cao hiệu quủa sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp dệt may
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
không phải khó khăn, điều cần quan tâm là cách thức tổ chức ở mỗi doanh
so sánh thời gian của hai ngời làm ra một sản phẩm hoặc ngời lại trong một thời
gian nhất định thì mỗi ngời tạo ra bao nhiêu sản phẩm (năng suất phản ánh hiệu
quả). Con ngời lao động để tạo ra sản phẩm tiêu dụng cho xã hội và lao động đợc
tính bằng thời gian. Vậy với một mục tiêu nhất định con ngời phải thực hiện trong
thời gian ít nhất có thể hay nói cách khác, trong một khoản thời gian nhất định kết
quả đạt đợc phải cao nhất.
Tới đây ta có thể định nghĩa: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một hệ thông
chỉ tiêu so sánh, biểu hiện mức độ tiết kiện chi phí trong một đơn vị kết quả hữu
ích của doanh nghiệp sản xuất trong một thời kỳ. Hoặc có thể hiểu: hiệu quả kinh
doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp thông qua các
chỉ tiêu đặc trng kế toán đợc xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào.
Trong đó đầu vào gồm các nguồn lực động vật hoá và chi phí lao động sống. Đầu
ra là doanh thu hoặc các chi tiêu phản ánh kết quả đạt đợc.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Qua những quan niệm đã trình bày ở trên đã làm rõ phần nào về hiệu quả sản
xuất kinh doanh để từ đó có thể rút ra vai trò của nó trong nền kinh tế vĩ mô cung
nh tại các doanh nghiệp.
2-/ Vai trò của hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Về mặt lý luận:
Có thể nói rằng nhiệm vụ trung tâm của công tác quản lý, kinh tế là sử dụng
một các lợi nhất phân phối hợp lý nhất các nguồn vốn và lao động tiết kiện thời
gian. Tính chất toàn diện trong sự hoạt động phát triển và trong việc tiêu dùng của
mỗi con ngời cũng nh toàn xã hội đều phụ thuộc vào sự tiết kiệm thời gian. Doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển, đời sống lao động muốn ngày một tốt hơn thì
doanh nghiệp phải biết quản lý, sử dụng, có hiệu quả các nguồn lực và chi phí của
mình. Muốn sử dụng có hiệu quả thì phải xác định mục đích cần thiết đạt đợc để
từ đó dự đoán các kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nh tổng doanh thu, lợi
nhuận, NSLĐ...
Về mặt thực tiễn.
dẫn về t tởng trong hoạt động kinh tế max về kết quả và min về chi phí mà
không chỉ rõ là bao nhiêu mới đợc coi là hiệu quả, lợi nhuận càng nhiều thì hiệu
quả nâng cao, có ý kiến cho rằng tiêu chuẩn hiệu quả là biểu hiện biến đổi phù
hợp của động thái các chỉ tiêu hiệu quả phải so sánh năm trớc các chỉ tiêu hiệu
quả tăng giảm nh thế nào.
Các chỉ tiêu nh NSLĐ, mức chi phí cho một đơn vị sản phẩm của năm nay
tăng hơn năm trớc là có hiệu quả.
Trong thực tiễn, tiêu chuẩn là căn cứ cơ bản, chủ chốt để nhận rõ thực tế
khách quan, qua lý luận và dụng số liệu cụ thể khi đánh giá hiệu quả kinh tế ở một
doanh nghiệp để thấy rõ xu hớng và bản chất của hiện tợng một cách chi tiếu và
chính xác cần phải tuân thủ các yêu cầu sau:
- Tính thiết thực trong nhận thức và quản lý hoạt động sản xuất cũng nh các
bộ phận cấu thành nó.
- Phù hợp với trình độ tính toán thống kê trong các giai đoạn phát triển nhất
định của doanh nghiệp.
- Tính thống nhất trong phơng pháp xác định, tính toán các chỉ tiêu.
- Tính so sánh giữa các chỉ tiêu hình thành vì chỉ tiêu hiệu quả.
b-/ Ph ơng pháp xác định.
Hệ thông chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp gồm các
chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu cá biệt để phản ánh các mặt riêng biệt của nó. Các chỉ
tiêu phải có mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau, đảm bảo mỗi chỉ tiêu tổng
hợp phải bảo chùm lên các chỉ tiêu bộ phận.
Để xác định mức độ hiệu quả kinh doanh thì có thể lấy các chỉ tiêu ở kỳ thực
hiện đem so sánh với kỳ gốc hoặc kỳ trớc.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Về nguyên tắc xây dựng chỉ tiêu phải có quan điểm thực tiễn bảo đảm tính
khả thi thuận lợi cho việc áp dụng thực tế.
Cứ mỗi chi tiêu phản ánh kết quả sản xuất so với một chỉ tiêu phản ánh chi
phí nguồn hoặc yếu tố trung gian sẽ phản ánh hiệu quả tính theo tiêu chuẩn Q/A.
tiêu cực giúp cho doanh nghiệp chủ động làm mọi biện pháp để phát huy những
nhân tố tích cực, tăng nhanh kết quả kinh doanh. Đồng thời hạn chế tối đa những
nhân tố tiêu cực, có tác dụng xấu đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Cũng cần lu ý: Việc phân loại nhân tố phải tuỳ thuộc vào mỗi quan hệ cụ thể
của nhân tố với chỉ tiêu phân tích sự phân biệt giữa chúng chỉ có ý nghĩa tơng đối
và chúng có thể chuyển hoá cho nhau. Ví dụ: Lợng hàng hoá tiêu thụ là chỉ tiêu
phân tích khi đánh giá kết quả tiêu thụ, nhng lại là nhân tố khi phân tích mức lợi
nhuận về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá.
3-/ Hệ thống chỉ tiêu:
3.1-/ Chỉ tiêu tổng hợp.
Là chỉ tiêu bao chùm lên các chỉ tiêu cá biệt tức là sự biến động của chỉ tiêu
tổng hợp xảy ra khi có sự biến động của các chỉ tiêu cá biệt.
a. Tỷ suất lợi nhuận của vốn sản xuất.
P
1
=
Công thức này cho thấy một đồng vốn đầu t vào sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận, nếu tỷ suất lợi nhuận của vốn sản xuất càng cao thì hiệu
quả kinh tế của doanh nghiệp càng cao và ngợc lại. Để đạt đợc điều này doanh
nghiệp phải làm sao để tăng đợc lợi nhuận và giảm đợc vốn sản xuất kinh doanh.
Nhng không có nghĩa là giảm vốn sản xuất kinh doanh thì có hiệu quả mà phải
chọn một mức vốn phù hợp để có thể có lợi nhuận cao nhất.
b. Tỷ trọng lợi nhuận trong tổng giá trị kinh doanh.
P
2
=
Trong đó tổng giá trị kinh doanh chính là tổng doanh thu của doanh nghiệp
trong từng thời kỳ. Tuỳ từng mặt hàng kinh doanh mà tỷ trọng lợi nhuận khác
nhau. Trong công thức này nền tỷ trọng lợi nhuận càng cao thì doanh nghiệp kinh
+ Khấu hao TSCĐ
+ Lợi nhuận sau thuế
ở công thức tính (H
1
) để không ngừng tăng hiệu quả tức là phải tăng giá trị
gia tăng tức là phải tăng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này cho ta biết hiệu quả một cách tổng hợp hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
e. Tỷ suất giá trị gia tăng trên tổng doanh thu
H
2
=
Công thức này cho biết cứ một đồng giá trị kinh doanh của doanh nghiệp sẽ
đóng góp cho xã hội bao nhiêu đồng giá trị gia tăng. Nó là cơ sở để tổng hợp lại
thành tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của quốc gia.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khi giá trị gia tăng càng cao thì hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp
trong hoạt động kinh doanh càng cao. Hiệu quả kinh doanh này đợc xem trên góc
độ tổng thể của doanh nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
f. Tỷ suất giá trị gia tăng tổng chi phí sản xuất .
H
3
=
Công thức này cho biết doanh nghiệp bỏ ra một đồng chi phí trong hoạt động
kinh doanh thì sẽ thu về (hay đóng góp cho xã hội) bao nhiêu đồng giá trị gia tăng.
Hệ số này càng cao cho phép ta đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp ngày càng có hiệu quả.
3.2-/ Hệ thống chỉ tiêu cá biệt
Các chỉ tiêu cá biệt (bộ phận) trong hệ thống chỉ tiêu hiệu quả phản ánh từng
- Hoặc :
H=
(H) cho biết một đồng tiền lơng ứng với bao nhiêu đồng lợi nhuận hay tổng
giá trị sản lợng . Tiền lơng càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng lao động càng tốt .
Lơng là một trong những động cơ thúc đẩy năng suất lao động. Ngời lao
động phải đợc trả lơng một cách xứng đáng, đảm bảo cho họ một cuộc sống ổn
định có nh vậy thì năng suất lao động mới tăng lên đợc.
3.2.2-/ Hiệu quả sử dụng vốn cố định (tài sản cố đinh)
Vốn cố định của một doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu t ứng trớc về
tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần trong nhiều chu kỳ sản
xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ đã hết thời gian sử dụng.
Hiệu quả sử dụng TSCĐ là mục đích của việc trang bị TSCĐ trong các doanh
nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ chính là kết quả của việc cải tiến công
tác tổ chức lao động và tổ chức sản xuất, hoàn chỉnh kết cấu tài sản cố định, hoàn
thiện những khâu yếu hoặc lạc hậu của quy trình công nghệ. Đồng thời, sử dụng
có hiệu quả TSCĐ hiện có là biện pháp tốt nhất để sử dụng vốn một cách hiệu quả
và tiết kiệm.
Hiệu quả sử dụng TSCĐ đợc tính bằng công thức
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng nguyên giá bình quân của TSCĐ tham gia
vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản lợng sản phẩm.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ việc quản lý và sử dụng TSCĐ càng tốt
Giá trị SLSP =
Từ công thức trên, chỉ tiêu sản lợng sản phẩm biến động do ảnh hởng của hai
nhân tố. Đó là nguyên giá bình quân của TSCĐ và hiệu suất sử dụng TSCĐ, có thể
vận dụng phơng pháp thay thế liên hoàn để phân tích sự ảnh hởng của từng nhân tố
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đến chỉ tiêu giá trị sản lợng sản phẩm. Trong đó, hiệu suất sử dụng TSCĐ là nhân
tố phát triển sản xuất theo chiều sâu, có thể tăng lên vô hạn.
3.3.2-/Hiệu quả sử dụng vốn lu động
Tất cả các cách tính trên giúp cho doanh nghiệp thấy đợc vốn lu động của
doanh nghiệp đợc sử dụng có hiệu quả đến đâu, để từ đó có những điều chỉnh
thích hợp. Doanh nghiệp phải dựa vào những cách tính trên cùng với đặc điểm, cơ
cấu của doanh nghiệp để dự trữ một số vốn lu động luôn mang lại hiệu quả cao
nhất, sao cho không d thừa vốn làm cho đồng vốn không sinh lời và cũng không bị
thiếu hụt làm ảnh hởng tới kế hoạch sản xuất, doanh thu, kế hoạch bán hàng, giao
hàng... của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó vốn lu động cũng cần đảm bảo hai yêu cầu sau:
- Tỷ lệ cân đối bằng cả tiền và hiện vật của TSCĐ và TSLĐ trong sản xuất.
Quá trình sản xuất là sự hoạt động thống nhất của tất cả các yếu tố vật chất. Tuỳ
vào từng ngành, đặc điểm của từng doanh nghiệp mà tỷ lệ cân đối này khác nhau.
Ví dụ xí nghiệp may gia công xuất khẩu (Thanh Trì) thì số vốn lu động không lớn,
tỷ lệ giữa TSLĐ và TSCĐ chênh lệch rất lớn do nguồn nguyên vật liệu là do bạn
hàng cung cấp.
- Vốn lu động có số vòng quay trong một kỳ càng nhiều càng tốt và thời gian
của một vòng quay càng nhỏ thì càng có hiệu quả.
Tóm lại, đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào thì vốn lu động cũng rất quan
trọng dù nó chiếm một tỷ lệ lớn hay nhỏ trong tổng vốn. Nhìn vào sự hoạt động
của vốn lu động ta có thể thấy đợc doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi, sản phẩm
tiêu thụ chậm. Điều này đợc thể hiện rõ qua số vòng quay cũng nh thời gian cho
một vòng luân chuyển của VLĐ.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần II
Hiệu quả sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp may
xuất khẩu Thanh Trì.
I-/ Quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp
1-/ Quá trình hình thành
Trụ sở chính: Km số 11 - Quốc lộ 1A - Thị trấn Văn Điển.
Ngành nghề chính: chuyên may gia công hàng xuất khẩu.
từ khi thành lập xí nghiệp đã có kế hoạch bố trí lực lợng lao động để đem lại hiệu
quả cao nhất.
Sau khi đã nghiên cứu các kiểu cơ cấu tổ chức, cũng nh tham khảo ý kiến của
các đơn vị cùng ngành. Xí nghiệp xét thấy đơn vị mình có quy mô không lớn, lại
mới thành lập nên ban lãnh đạo đã chọn cơ cấu tổ chức của xí nghiệp là kiểu cơ
cấu trực tuyến chức năng theo chế độ một thủ trởng. Trong đó giám đốc là ngời có
quyền cao nhất và là ngời chịu trách nhiệm cuối cùng trớc Công ty sản xuất dịch
vụ xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội.
* Chức năng, nhiệm vụ của Ban lãnh đạo và các phòng ban.
- Giám đốc là ngời đứng đầu xí nghiệp, trực tiếp chỉ huy toàn bộ hoạt động
sản xuất kinh doanh của xí nghiệp, xây dựng các kế hoạch ngắn và dài hạn, điều
hành hoạt động của các phòng ban.
- Phó giám đốc: giúp việc cho giám đốc về các kế hoạch sản xuất kinh
doanh, xây dựng chiến lợc kinh doanh dài hạn và ngắn hạn, chiến lợc Marketing,
chiến lợc giá cả...
- Phòng tổ chức hành chính: Thực hiện chế độ về tổ chức hành chính, văn
th bảo mật, đảm bảo an ninh trật tự, quản lý trang thiết bị làm việc, tiếp khách
trong phạm vi xí nghiệp...
- Phòng kế hoạch: là bộ phận tham mu, giúp giám đốc xác định phơng h-
ớng, mục tiêu, kế hoạch sản xuất, cung ứng vật t một cách cụ thể từng quý, từng
năm và trực tiếp quản lý các phân xởng.
- Phòng tài vụ: Là bộ phận tham mu giúp giám đốc về công tác tài chính, kế
toán đảm bảo phản ánh tức thời và chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, đồng
thời giám sát kiểm tra các nghiệp vụ đó.
- Phòng lao động - Tiền lơng: phụ trách về lao động, tính toán phân phối l-
ơng, thởng cho công nhân viên theo quy định của xí nghiệp và thực hiện thu nộp
các khoản trích từ lơng.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Phòng kỹ thuật may: Nghiên cứu thiết kế các mẫu mã cho từng loại sản
tiền lư
ơng
p. kỹ
thuật
máy
p. cơ
điện
Phân xưởng I phân xưởng II phân xưởng III phân xưởng thêu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Các phòng ban bộ phận đợc phân công nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng theo
đúng chuyên môn nghiệp vụ, cũng nh mọi ngời không quá thụ động trong sản xuất
vẫn có thể phát huy đợc khả năng và tính chủ động sáng tạo của mình.
+ Với quy mô sản xuất nh xí nghiệp thì cơ cấu tổ chức bộ máy nh vậy là phù
hợp: gọn nhẹ, linh hoạt, có sự phân công chuyên môn hoá cao và không có sự
chồng chéo lên nhau về trách nhiệm, lợi ích của các bộ phận.
3-/ Đặc điểm về lao động của xí nghiệp.
Lao động của xí nghiệp đợc chia làm hai loại là: lao động trực tiếp và lao
động gián tiếp.
- Lao động trực tiếp.
May là một công việc đòi hỏi sự chăm chỉ và tỷ mỷ, do đó mà lực lợng lao
động của xí nghiệp có tỷ lệ lao động nữ chiếm 90% tổng số lao động. Lực lợng lao
động này còn rất trẻ (trung bình là 23 tuổi). ở độ tuổi này ngời lao động dễ tiếp
thu trình độ công nghệ và có khả năng và nâng cao tay nghề. Tuy nhiên do lực l-
ợng lao động nữ, chiếm một tỷ trọng lớn, lại đang trong độ tuổi sinh đẻ, thờng
phải nghỉ làm việc trong thời gian dài gây khó khăn cho xí nghiệp trong công tác
sắp xếp và tổ chức lao động cho sản xuất.
Bảng 1 - Báo cáo sử dụng thời gian lao động năm 1998.
STT Nội dung ĐV tính Kế hoạch Thực hiện
1 Thời gian làm việc trong năm ngày 365 365
2 Thời gian nghỉ lễ ngày 7 7
xuất kinh doanh của xí nghiệp...
Để sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, không chỉ lực lợng lao động trực tiếp
có tay nghề cao mà đòi hỏi lao động gián tiếp cũng phải có trình độ học vấn cao. Số
liệu của Bảng 2 cho thấy, mỗi phòng ban của xí nghiệp trung bình có hai ngời tốt
nghiệp đại học, giám đốc và phó giám đốc đều tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh
tế. Số còn lại đều tốt nghiệp trung cấp hoặc kỹ thuật phổ thông.
17