Tiểu luận môn Văn hóa kinh doanh PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CỦA ÔNG HUỲNH NGỌC SĨ TRONG VỤ ÁN THAM NHŨNG TẠI ĐẠI LỘ ĐÔNGTÂY - Pdf 25

VĂN HOÁ KINH DOANH GVHD: TS. NGUYỄN HỮU QUYỀN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Lý do chọn đề tài 3
Phạm vi nghiên cứu: 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH 4
1.1 Khái niệm đạo đức 4
1.2 Khái niệm đạo đức kinh doanh 4
1.2.1. Lịch sử đạo đức kinh doanh: 4
1.2.2. Khái niệm đạo đức kinh doanh 6
1.3 Phương pháp phân *ch và xây dựng đạo đức trong kinh doanh 7
1.3.1 Phân *ch các hành vi đạo đức trong kinh doanh 7
1.3.1.1 Nhận diện các vấn đề đạo đức 7
1.3.1.2. Phân *ch quá trình ra quyết định đạo đức bằng algorithm 8
1.3.2. Xây dựng đạo đức trong kinh doanh 9
1. 3.2.1. Một chương trình tuân thủ đạo đức hiệu quả 9
1.3.2.2. Xây dựng và truyền đạt, phổ biến hiệu quả các Bêu chuẩn đạo đức. Hành vi đạo đức có thể được
khuyến khích thông qua việc hình thành các Bêu chuẩn đạo đức của công ty 9
1.3.2.3. Thiết lập hệ thống điều hành thực hiện, kiểm tra, tăng cường Bêu chuẩn và việc tuân thủ đạo đức
9
1.3.2.4. Cải thiện liên tục chương trình tuân thủ đạo đức 10
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CỦA ÔNG
HUỲNH NGỌC SĨ TRONG VỤ ÁN THAM NHŨNG TẠI ĐẠI LỘ ĐÔNG-TÂY 11
2.1 Thực trạng về đạo đức kinh doanh của ông Huỳnh Ngọc Sĩ trong vụ án tham nhũng tại đại lộ Đông –Tây
11
2.1.1 Thực trạng Wnh hình xuống cấp ở đại lộ Đông-Tây 11
2.3 Hậu quả của hành vi tham nhũng của ông Huỳnh Ngọc Sỹ và việc hối lộ của công ty PCI đã làm ảnh
hưởng trên nhiều lĩnh vực, cụ thể: 17
Nhóm 2 1
VĂN HOÁ KINH DOANH GVHD: TS. NGUYỄN HỮU QUYỀN
Chương 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG THAM NHŨNG, HỐI LỘ 19

cuộc phát triển kinh tế.
1
Tình hình tham nhũng, hối lộ tại Việt Nam hiện nay đang là vấn đề nổi cộm gây nên nhiều bức
xúc và được nhiều người quan tâm, đặc biệt vấn nạn này lại xảy ra ở nhiều cán bộ quản lý các
ngành. Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực nhưng cuộc đấu tranh phòng, chống tham
nhũng hiệu quả vẫn thấp, vẫn diễn ra tràn lan, phổ biến, thậm chí có địa phương, có lĩnh vực
còn nghiêm trọng hơn trước, làm tha hoá đội ngũ cán bộ, đảng viên, uy hiếp sự tồn vong của
đất nước. Một trong số phải nói đến vụ bê bối tại Dự án Đại lộ Đông Tây và Môi trường nước
TP. Hồ Chí Minh. Đây sẽ là con đường huyết mạch liên kết chặt chẽ các địa phương
trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tuy nhiên sau một thời gian ngắn đi vào hoạt động
thì đại lộ Đông Tây đã bị xuống cấp trầm trọng. Cụ thể, đoạn đường bị lún nặng nhất là đoạn
từ giao lộ Đại lộ Đông Tây, ô tô chạy bị dằn xóc mạnh, có đoạn bị lún sâu hơn 10 cm. – Liên
tỉnh lộ 25B đến giao lộ Đại lộ Đông Tây - Lương Định Của, dài khoảng 800 m. Đường bị lún
hẳn xuống theo lằn bánh xe, bê tông nhựa bị trồi lên, gợn sóng. Nguyên nhân do trong quá
trình thực hiện Dự án Đại lộ Đông - Tây và Môi trường nước thành phố Hồ Chí Minh, Công ty
Tư vấn Quốc tế Thái Bình Dương (PCI) đã thỏa thuận và bảy lần đưa hối lộ cho Huỳnh Ngọc
Sĩ - Giám đốc Ban Quản lý dự án, với điều kiện ông Huỳnh Ngọc Sỹ phải tạo điều kiện thuận
lợi cho PCI hoạt động kinh doanh. Do đó, để đi sâu phân tích và hiểu rõ hơn về sự tha hoá và
sai phạm trong đạo đức kinh doanh của một số cán bộ trong ban quản lý dự án Đại lộ Đông –
Tây, nên chúng tôi chọn đề tài “ Phân tích đạo đức kinh doanh của ông Huỳnh Ngọc Sĩ trong
vụ án tham nhũng tại dự án đại lộ Đông-Tây”
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ tập trung phân tích đạo đức kinh doanh của ông Huỳnh Ngọc Sĩ trong vụ án tham
nhũng tại đại lộ Đông – Tây.
1
Đọc từ: http://www.365ngay.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=1004&Itemid=14
Nhóm 2 3
VĂN HOÁ KINH DOANH GVHD: TS. NGUYỄN HỮU QUYỀN
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
1.1 Khái niệm đạo đức

Đạo đức kinh doanh xuất phát từ thực tiễn kinh doanh trong các thời kỳ lịch sử:
Khoảng 4.000 năm trước công nguyên, sự phát triển kinh tế có phân công lao động đã tạo
ra ba nghề: Chăn nuôi, thủ công, buôn bán thương mại. Sản phẩm sản xuất ra trở thành hàng
Nhóm 2 4
VĂN HOÁ KINH DOANH GVHD: TS. NGUYỄN HỮU QUYỀN
hóa, kinh doanh xuất hiện và đạo đức kinh doanh cũng ra đời. Đây cũng là thời kỳ mới của
nhân loại, có mâu thuẫn đối kháng giai cấp, có bộ máy nhà nước, con người không sống "ngây
thơ thuần phác" nữa, quan hệ giữa con người trở nên đa dạng, phức tạp. Kinh doanh thương
mại cũng tạo thêm nhiều yêu cầu đạo đức; không được trộm cắp, phải sòng phẳng trong giao
thiệp "tiền trao cháo múc", phải có chữ tín, biết tôn trọng các cam kết, thoả thuận,…
Ở phương Tây, đạo đức kinh doanh xuất phát từ những tín điều của tôn giáo: Luật Tiên
tri (Law of Moses) lâu đời của phương Tây có những lời khuyên như tới mùa thu hoạch ngoài
đồng ruộng, không nên gặt hái hết mà cần chừa một ít hoa màu ở bên đường cho người nghèo
khó. Ngày nghỉ lễ Sabbath hàng tuần thì cả chủ và thợ cũng được nghỉ (truyền thống này trở
thành ngày chủ nhật hiện nay). Sau 50 năm, mọi món nợ sẽ được huỷ bỏ. Năm xoá nợ (Year of
the Jubiliees) sau này được pháp chế hoá thành thời hiệu 30 năm của các món nợ trong Dân
luật. Đến thời Trung cổ, Giáo hội La Mã đã có Luật (canon law) đề ra tiêu chuẩn đạo đức
trong một số hoạt động kinh doanh như nguyên tắc "tiền nào của ấy" (just wages and just
prices), không nên trả lương cho thợ thấp dưới mức có thể sống được. Luật Hồi giáo cũng
ngăn cản việc cho vay lãi, trừ trường hợp bỏ vốn đầu tư phải chịu rủi ro kinh doanh nên được
hưởng lời.
Về sau, nhiều tiêu chuẩn đạo đức kinh doanh đã được thể hiện trong pháp luật để có thể
áp dụng hiệu quả trong thực tế như luật Chống độc quyền kinh doanh (Sherman Act of
America 1896), các Luật về tiêu chuẩn chất lượng, bảo vệ người tiêu dùng, Luật bảo vệ môi
trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên như hiện nay.
Sang thế kỷ XX:
− Trước thập kỷ 1960, khởi đầu bằng các vấn đề do các giáo phái đưa ra: Mức lương
công bằng, lao động, đạo đức chủ nghĩa tư bản. Đạo Thiên chúa giáo quan tâm đến quyền của
người công nhân, đến mức sinh sống của họ và các giá trị khác của con người.
− Những năm 1960, sự gia tăng những vấn đề liên quan đến môi trường sinh thái: Ô

những biện pháp nhằm tránh những hành vi vô đạo đức.
− Từ năm 2000 đến nay, đạo đức kinh doanh trở thành lĩnh vực nghiên cứu đang được
phát triển. Các vấn đề của đạo đức kinh doanh đang được tiếp cận, được xem xét từ nhiều góc
độ khác nhau: Từ luật pháp, triết học và các khoa học xã hội khác. Đạo đức kinh doanh đã gắn
chặt với khái niệm trách nhiệm đạo đức và với việc ra quyết định trong phạm vi công ty. Các
hội nghị về đạo đức kinh doanh thường xuyên được tổ chức.
1.2.2. Khái niệm đạo đức kinh doanh
Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh,
đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh chính là phạm trù đạo đức được vận dụng vào trong hoạt động kinh
doanh.
Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp
Đạo đức kinh doanh có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh - do kinh doanh là hoạt
động gắn liền với các lợi ích kinh tế, do vậy khía cạnh thể hiện trong ứng xử về đạo đức không
hoàn toàn giống các hoạt động khác: Tính thực dụng, sự coi trọng hiệu quả kinh tế là những
đức tính tốt của giới kinh doanh nhưng nếu áp dụng sang các lĩnh vực khác như giáo dục, y
tế hoặc sang các quan hệ xã hội khác như vợ chồng, cha mẹ con cái thì đó lại là những thói
xấu bị xã hội phê phán. Song cần lưu ý rằng đạo đức kinh doanh vẫn luôn phải chịu sự chi
phối bởi một hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội chung.
Các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh:
− Tính trung thực: Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời. Giữ lời hứa,
giữ chữ tín trong kinh doanh. Nhất quán trong nói và làm. Trung thực trong chấp hành luật
pháp của nhà nước, không làm ăn phi pháp như trốn thuế, lậu thuế, không sản xuất và buôn
bán những mặt hàng quốc cấm, thực hiện những dịch vụ có hại cho thuần phong mỹ tục.
Trung thực trong giao tiếp với bạn hàng (giao dịch, đàm phán, ký kết) và người tiêu dùng:
Không làm hàng giả, khuyến mại giả, quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn
hiệu nổi tiếng, vi phạm bản quyền, phá giá theo lối ăn cướp. Trung thực ngay với bản thân,
không hối lộ, tham ô, thụt két, "chiếm công vi tư"
− Tôn trọng con người: Đối với những người cộng sự và dưới quyền, tôn trọng phẩm
giá, quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềm năng phát triển của nhân viên,

Vấn đề đạo đức là một tình huống, một vấn đề hoặc một cơ hội yêu cầu cá nhân hoặc tổ chức
phải chọn trong số những hành động được đánh giá là đúng hay sai, có đạo đức hay vô đạo
đức.
Các vấn đề đạo đức có thể được chia ra làm bốn loại. Đó là:
(1) Các vấn đề do mâu thuẫn về lợi ích.
(2) Các vấn đề về sự công bằng và tính trung thực.
(3) Các vấn đề về giao tiếp.
(4) Các vấn đề về các mối quan hệ của tổ chức.
Làm thế nào nhận diện vấn đề đạo đức?
Nhóm 2 7
VĂN HOÁ KINH DOANH GVHD: TS. NGUYỄN HỮU QUYỀN
Nhận diện vấn đề đạo đức nên theo các bước sau:
(1) Thứ nhất: Xác định những người hữu quan bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp
tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào tình huống đạo đức. Các đối tượng này có mức độ tham
gia, ảnh hưởng khác nhau trong đó, nên chỉ xem xét các đối tượng có ảnh hưởng quan trọng.
Tiếp đó, khảo sát quan điểm, triết lý của các đối tượng hữu quan này, qua đó có thể biết được
đánh giá của họ về một hành động tiềm ẩn mâu thuẫn hay chứa đựng những nhân tố phi đạo
đức.
(2) Thứ hai: Xác định mối quan tâm, mong muốn của những người hữu quan. Mỗi đối
tượng có thể có những mối quan tâm, mong muốn hay kỳ vọng nhất định ở các bên liên đới
khác. Khi mối quan tâm và mong muốn của các đối tượng đối với nhau là không mâu thuẫn,
cơ hội nảy sinh vấn đề đạo đức hầu như không có. Nếu mong muốn này không thể hài hoà,
vấn đề đạo đức sẽ nảy sinh.
(3) Thứ ba: Xác định bản chất vấn đề đạo đức bằng cách trả lời cho câu hỏi vấn đề đạo
đức bắt nguồn từ những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu nào? Sự khác nhau như thế nào về quan
điểm, triết lý, mục tiêu, lợi ích của từng đối tượng hữu quan.
Xác định mức độ của vấn đề về đạo đức
Mức độ của vấn đề về đạo đức liên quan tới tầm quan trọng của vấn đề đó đối với người
đưa ra quyết định. Bởi thế, mức độ của vấn đề về đạo đức có thể được định nghĩa là sự liên
quan hay tầm quan trọng của một vấn đề đạo đức đối với một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ

đạo đức có thể được khuyến khích thông qua việc hình thành các tiêu chuẩn đạo đức của
công ty.
Công tác đào tạo và truyền đạt cần phải phản ánh những đặc điểm thống nhất của một
tổ chức: kích thước, văn hóa, các tiêu chuẩn đạo đức, phong cách quản lý, và nền tảng nhân
viên. Điều quan trọng là chương trình đạo đức phải phân biệt được giữa đạo đức cá nhân và
đạo đức tổ chức.
1.3.2.3. Thiết lập hệ thống điều hành thực hiện, kiểm tra, tăng cường tiêu chuẩn và
việc tuân thủ đạo đức
Để xác định xem một người có thực hiện công việc của mình một cách đầy đủ và có
đạo đức hay không, nên tập trung quan sát cách nhân viên đó giải quyết các tình huống về đạo
đức.
Ngoài ra, các công ty cần phải có các chương trình thưởng cho những nhân viên luôn
tuân thủ đúng các chính sách và tiêu chuẩn của công ty (khen thưởng, thưởng tiền, tăng
lương…), và có những biện pháp xử l?ý những ai không tuân thủ đúng (thuyên chuyển, đình
chỉ công tác, sa thải…).
Sự quản lý nhất quán và những mức kỷ luật cần thiết là vô cùng quan trọng đối với
một chương trình tuân thủ đạo đức.
Công tác kiểm tra việc tuân thủ đạo đức là một sự đánh giá có hệ thống của một
chương trình đạo đức và các hoạt động của tổ chức để xác định tính hiệu quả của nó.
Nhóm 2 9
VĂN HOÁ KINH DOANH GVHD: TS. NGUYỄN HỮU QUYỀN
1.3.2.4. Cải thiện liên tục chương trình tuân thủ đạo đức
Việc cải thiện hệ thống khuyến khích các nhân viên đưa ra những quyết định có đạo đức
hơn không khác lắm so với việc thực hiện những loại chiến lược kinh doanh khác. Thực hiện
có nghĩa là biến các chiến lược đó thành hành động cụ thể. Việc thực hiện trong việc tuân thủ
đạo đức có nghĩa là thiết kế những hoạt động sao cho có thể đạt được các mục tiêu của tổ
chức, sử dụng các nguồn lực sẵn có trong sự thúc ép hiện hành. Việc thực hiện biến kế hoạch
hành động thành những thuật ngữ vận hành và thiết lập những phương tiện để quản lý, điều
khiển và cải thiện việc thực thi đạo đức của tổ chức.
Khả năng lập kế hoạch và thực hiện các tiêu chuẩn đạo đức của một doanh nghiệp phụ

dài toàn bộ mặt đường, phần đường này cũng bị trồi lên cao hẳn so với phần đường xung
quanh. Theo quan sát, phần bị nứt chạy dọc theo hai bờ con rạch nằm phía dưới đường. Trên
đoạn đường từ giao lộ Đại lộ Đông Tây – Lương Định Của đến cầu vượt Cát Lái cũng có một
vị trí bị nứt ngang tương tự, phía dưới cũng là một con rạch, phần đường cũng bị trồi lên cao
hơn hẳn mặt đường xung quanh. Ba cây cầu vượt bộ hành số 1 – 2 – 3 (tính từ nút giao Tân
Kiên, huyện Bình Chánh trở vào trung tâm TP) đều bị lún, bó vỉa ngay dưới chân các cầu vượt
bộ hành trên đều bị nứt và “tuột” xuống, có đoạn sâu đến 15 cm. Nền đất tại các trụ cầu cũng
cao hơn hẳn so với vùng đất xung quanh, tạo thành những “vùng trũng” dưới chân cầu vượt. Ở
vị trí bậc thang lên cầu vượt, phần vỉa hè bị “rớt” xuống khoảng 7 cm so với chân cầu.
2.1.2 Nguyên nhân của vụ lún này theo các chuyên gia:
Theo một chuyên gia xây dựng, với hiện trạng của đại lộ Đông Tây, tình trạng lún diễn ra ở cả
phương dọc lẫn phương ngang. Điều này có thể xuất phát từ việc nhà thầu dỡ tải quá sớm. Bên
cạnh đó, việc sử dụng bấc thấm ngang không xử lý triệt để được tình trạng nền đất yếu ở khu
vực quận 2. Những khiếm khuyết hiện tại của đại lộ Đông Tây chủ yếu liên quan đến chất
lượng công trình. Những vết lún hằn theo vệt bánh xe là do chất lượng đầm nén nền đường
chưa tốt và chất lượng bê tông nhựa nóng không đạt.
Nhóm 2 11
VĂN HOÁ KINH DOANH GVHD: TS. NGUYỄN HỮU QUYỀN
- Lỗi đầu tiên là của đơn vị tư vấn thiết kế. Đơn vị này đã tính toán độ lún ở khu vực nền đất
yếu, sình lầy như quận 8 và quận Bình Tân không chính xác.
- Lỗi tiếp theo là của đơn vị tư vấn giám sát thi công khi dễ dàng “cho qua” hạng mục công
trình không đạt chất lượng.
- Trên hết, chịu trách nhiệm cuối cùng vẫn là chủ đầu tư.
Dự án Đại lộ Đông - Tây và Môi trường nước thành phố Hồ Chí Minh được Chính phủ quyết
định đầu tư tại Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 05/7/2000 của Thủ tướng Chính phủ giao Ủy
ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư: 14.026 tỷ đồng;
trong đó ODA của Chính phủ Nhật Bản là 9.606,98 tỷ đồng, vốn đối ứng của Việt Nam là
4.419,02 tỉ đồng phục vụ đền bù giải phóng mặt bằng.
Ngày 29/4/2002, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định sát nhập Ban Quản
lý dự án Đại lộ Đông - Tây và Ban Quản lý dự án cải thiện Môi trường nước thành Ban Quản

PCI để nhận hối lộ.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ, cơ quan điều tra tiến hành tố tụng đã truy tố, xét xử đối với
Huỳnh Ngọc Sĩ về hành vi nhận hối lộ tổng cộng bảy lần nhận hối lộ với số tiền là 2.432.000
USD. (tương đương 37.530.624.000VNĐ).
Huỳnh Ngọc Sĩ - những lần mặc cả và nhận tiền
 Thỏa thuận đưa và nhận hối lộ để dành được gói thầu tư vấn thiết kế
Sakano Tsuneo, 58 tuổi, Trưởng Văn phòng đại diện tại Hà Nội của Công ty PCI được
giao nhiệm vụ thỏa thuận với Ban Quản lý dự án Đại lộ Đông - Tây và Môi trường nước thành
phố Hồ Chí Minh để được nhận thầu dự án xây dựng Đại lộ Đông - Tây đã khai nhận trước cơ
quan điều tra Nhật Bản:
PCI xác định dự án Đại lộ Đông - Tây là dự án không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước
xung quanh cũng hết sức quan tâm, đặc biệt là Bangkok, nơi có con sông lớn ở trung tâm
thành phố nếu thực hiện được công trình tại Việt Nam sẽ có khả năng gây ảnh hưởng lớn, cần
phải dốc toàn lực của PCI để nhận được thầu dự án này.
Khoảng đầu tháng 1/2001, khi nhận được nhiệm vụ, ông Sakano Tsuneo nghĩ rằng
Công ty Nippon Koie có thực lực ngang với PCI về mặt kỹ thuật, vì vậy Công ty Nippon Koie
là mối đe dọa lớn nhất trong việc cạnh tranh nhận thầu dự án xây dựng Đại lộ Đông - Tây, nếu
cạnh tranh xảy ra, có khả năng PCI không thể thắng được Nippon Koie. Mặt khác, tại các
nước đang phát triển, việc đưa hối lộ tiền mặt đối với các quan chức cao cấp trong Chính phủ
nước ngoài để nhận được các điều kiện thuận lợi như trúng thầu đã trở thành thông lệ ở PCI.
Theo chủ trương của PCI, bằng mọi giá phải giành được hợp đồng gói thầu tư vấn thiết
kế.
Công ty PCI đã liên lạc với ông Sỹ trực tiếp thương lượng về số tiền hối lộ và ông Sỹ
chấp nhận và đưa bản đánh giá chi tiết thiết kế cho PCI.
Tổng số tiền hợp đồng là 9.000.000 USD
Như vậy, số tiền 10% phải hối lộ ông Sĩ là 900.000 USD.”

Thỏa thuận đưa và nhận hối lộ để dành được gói thầu tư vấn giám sát
Sau lần thỏa thuận để giành được gói thầu tư vấn thiết kế, PCI muốn tiếp tục nhận hợp đồng
tư vấn giám sát, vì vậy muốn nhận được hợp đồng tư vấn giám sát, PCI phải loại bỏ được đối

thuận là 350.000 USD. Thời điểm này PCI chuẩn bị chuyển hồ sơ yêu cầu thanh toán tiền hợp
đồng nên PCI muốn được ông Sĩ nhanh chóng ký thanh toán để rút tiền từ ngân hàng JBIC.
Sakano trao đổi để PCI chuẩn bị tiền đưa cho Sỹ vào tháng 7 năm 2002.
Ngày 01 tháng 7 năm 2002, PCI nộp hồ sơ yêu cầu thanh toán tiền hợp đồng cho Ban quản lý
Dự án. Đầu tháng 7/2002, Sakano mang 350.000 USD đưa cho Sĩ tại phòng làm việc của Sĩ,
đồng thời đề nghị ông Sĩ nhanh chóng thanh toán tiền hợp đồng, sớm ký phụ lục của hợp đồng
tư vấn thiết kế và tiếp tục giúp đỡ cho PCI.
Cơ quan điều tra Bộ Công an đã xác định: Giữa tháng 7 năm 2002 Huỳnh Ngọc Sĩ ký bốn bộ
hồ sơ yêu cầu thanh toán của PCI khi chưa có biên bản nghiệm thu khối lượng công việc tư
vấn hoàn thành, nhờ đó PCI đã được ngân hàng JBIC thanh toán tiền. Việc Huỳnh Ngọc Sĩ kí
bốn bộ hồ sơ khi chưa có biên bản nghiệm thu là sai quy định tại Thông tư số 96/2000/TT-
BTC ngày 28/9/2000 và Quyết định số 96/2000/QĐ-BTC ngày 12/6/2000 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính.

Lần thứ ba
Các ông Sakano Tsuneo, Sakashita, Takasu Kumio - Giám đốc Công ty BIC (là Công ty “ma”
do PCI lập ra tại Hồng Kông, chuyên nhận tiền từ tài khoản Công ty PCI chuyển sang, trên
Nhóm 2 14
VĂN HOÁ KINH DOANH GVHD: TS. NGUYỄN HỮU QUYỀN
danh nghĩa phí cung cấp thông tin, để tập hợp thành tiền đưa hối lộ cho các quan chức nước
ngoài) đều khai: ngày 28 tháng 5 năm 2003, Sakano Tsuneo, Sakashita, Takasu Kumio tới
Ngân hàng Mitshubishi chi nhánh tại TP HCM rút tiền Việt Nam đồng đem đến cửa hàng
vàng để đổi sang USD và rút USD từ tài khoản của PCI cùng với số tiền 80.000 USD mà ông
Takashita chuẩn bị mang từ Nhật sang, tổng cộng là 262.000 USD. Sau đó ông Sakano và
Takasu đem 262.000 USD đến phòng làm việc của ông Sĩ, mặc dù đã được Sakano giải thích
trước về ông Takasu, nhưng khi Sakano Tsuneo mở cửa phòng thấy cùng đi có người lạ nên
ông Sĩ lập tức đóng cửa. Khi được Sakano Tsuneo giải thích và giới thiệu Takasu là bạn và lần
sau sẽ mang tiền hối lộ tới, nên ông Sĩ đồng ý để Takasu cùng vào phòng làm việc. Sakano
Tsuneo và Takasu đã đưa cho Sĩ 262.000 USD.
Theo báo cáo của Bộ Công an thể hiện: trong tài liệu của Bộ Tư pháp Nhật Bản cung cấp có

Lần thứ năm
Các ông Sakano Tsuneo, Sakashita, Kono đều khai: đầu tháng 8/2004, ông Sĩ đã yêu cầu
Sakano Tsuneo đưa số tiền 600.000 USD như thỏa thuận. Sakano Tsuneo gọi điện cho
Sakashita nói: ông Sĩ tiếp tục đòi 600.000 USD tiền hối lộ.
Đầu tháng 9/2004, Sakashita điện thoại cho Sakano Tsuneo nói: đã chuẩn bị xong tiền và yêu
cầu Sakano vào TP HCM để đưa tiền cho ông Sĩ. Vì từ sau tháng 9/2003 tiền tạm ứng cho hợp
đồng giám sát vẫn chưa có nên Sakano Tsuneo đã thương lượng giảm bớt số tiền hối lộ và
được Sỹ giảm 10% của 600.000 USD, còn 540.000 USD.
Khoảng giữa tháng 9/2004, Sakano Tsuneo cầm 540.000 USD do Kono đưa, đến gặp và đưa
cho Sĩ tại phòng làm việc của ông Sĩ. Sakano Tsuneo nói: đây là tiền mà chúng tôi đã hứa và
mong ông sẽ tiếp tục giúp chúng tôi nhiều việc có lợi hơn.

Lần thứ sáu
Ông Sakano Tsuneo, Takasu, Sakashita, Kono đều khai: tháng 11/2004, ông Sĩ yêu cầu
Sakano Tsuneo đưa tiền hối lộ 160.000 USD như đã thỏa thuận. Cuối tháng 01/2005, ông
Sakano Tsuneo và Takasu đem 160.000 USD đến trụ sở Ban quản lý Dự án, Takasu cầm túi
tiền vào phòng làm việc để đưa cho Sĩ, Sakano đứng ngoài cửa. Vài phút sau, Sakano Tsuneo
thấy Takasu từ phòng ông Sĩ đi ra tay không nên biết ông Takasu đã đưa tiền cho ông Sĩ rồi,
sau đó Sakano Tsuneo đi vào phòng làm việc đề nghị ông Sĩ ký giúp trả tiền hợp đồng theo
đúng kế hoạch và tạo điều kiện có lợi cho PCI.
Tài liệu A18 xác định Takasu nhập cảnh vào ngày 28/01/2005, xuất cảnh ngày 30/01/2005.

Lần thứ bảy
Các ông Sakano Tsuneo, Sakashita, Kono, Takasu, Fukushima - Giám đốc dự án Đại lộ Đông
Tây của PCI tại thành phố Hồ Chí Minh đều khai: cuối tháng 01/2006 ông Sĩ yêu cầu đưa hối
lộ tiếp 220.000 USD, Sakano Tsuneo đề nghị chậm lại một thời gian và được ông Sĩ đồng ý.
Đầu tháng 3/2006, ông Sĩ gọi Sakano Tsuneo để đòi tiền tiếp, Sakano Tsuneo đề nghị ông Sĩ
tiếp tục chờ.
Tháng 8/2006, ông Sĩ điện cho Sakashita tiếp tục đòi đưa tiền 220.000 USD như đã thỏa
thuận. Đến 14h00 ngày 29/8/2006, ông Kono và Takasu đến Ban quản lý Dự án, Kono chờ tại

2.3 Hậu quả của hành vi tham nhũng của ông Huỳnh Ngọc Sỹ và việc hối lộ của công ty
PCI đã làm ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực, cụ thể:
- Về kinh tế, hành vi đó làm cho tài sản của Nhà nước bị thất thoát nghiêm trọng, kinh tế
nhà nước giảm sút, thua lỗ, kém hiệu quả, không phát huy được vai trò chủ đạo, định hướng;
làm thui chột môi trường cạnh tranh lành mạnh, cản trở sự phát triển khả năng cạnh tranh và
hiệu quả của nền kinh tế nói chung; làm mất khả năng hấp dẫn của môi trường đầu tư và dần
dần làm suy yếu nền kinh tế.
Về xã hội, hành vi này là một trong các yếu tố dẫn đến sự phân cực giàu nghèo, bất công
trong xã hội. Nhân dân bất bình, suy giảm lòng tin vào Đảng và Nhà nước, vào chế độ. Từ đó,
dẫn đến sự mất ổn định trong xã hội, làm phát sinh “khiếu kiện” và những “điểm nóng” với
những diễn biến phức tạp.
Về chính trị, hành vi này vừa là nguyên nhân, vừa là điều kiện làm cho một bộ phận cán
bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất; bộ máy nhà nước kém hiệu lực; các chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước bị vô hiệu hoá và bị xuyên tạc; sự lãnh đạo của Đảng bị suy yếu. Đây
là điều kiện thuận lợi để cho chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực thù địch lợi dụng kích
động quần chúng, mua chuộc, tha hoá cán bộ thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hoà
bình” và “tự diễn biến”. Bọn cơ hội chính trị được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch đã và
đang lợi dụng chiêu bài “chống tham nhũng” đòi thành lập cái gọi là “tổ chức chống tham
nhũng” để hình thành tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, đi ngược với
quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước để chống phá cách mạng.
Nhóm 2 17
VĂN HOÁ KINH DOANH GVHD: TS. NGUYỄN HỮU QUYỀN
Trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh: hành vi này làm cho cơ sở hạ tầng cụ thể là
tuyến đường giao thông huyết mạch của thành phố bị xuống cấp gây khó khăn trong việc lưu
thông hàng hóa và đi lại.
Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng: Hậu quả của nó là công trình chất lượng kém, nhanh
xuống cấp gây thất thoát và làm giảm hiệu quả đầu tư của nhà nước. Làm mất lòng tin, uy tín
của Việt Nam đối với các quốc gia khác, các tổ chức thế giới muốn đầu tư phát triển cho Việt
Nam.
Nhóm 2 18

phòng, chống tham nhũng “con” từ sự cụ thể hoá Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005.
Hiện nay trong Luật phòng, chống tham nhũng có ghi gần 100 lần cụm từ “công khai” để yêu
cầu các bộ, ngành phải công khai cho dân biết. Nhưng thực tế, ở mỗi bộ, ngành có tới hàng
trăm nội dung, công việc cần được công khai - về những vấn đề này, trong phương diện xây
dựng luật không thể chi tiết hết được, nó đòi hỏi ở mỗi bộ, ngành cần phải lập “bản đồ” xác
định rõ những nội dung, công việc phải công khai, những công việc dễ phát sinh tham nhũng
để từ đó có biện pháp phòng, ngừa tham nhũng (tránh tình trạng hiện nay, khi xảy ra tham
nhũng là đổ lỗi cho cơ chế, đổ lỗi cho công tác quản lý còn buông lỏng, đổ lỗi cho nhau, thoái
thác trách nhiệm, cho là bị bất ngờ ). Cần xác định rõ tiêu chí, khi đánh giá năng lực của
Nhóm 2 19
VĂN HOÁ KINH DOANH GVHD: TS. NGUYỄN HỮU QUYỀN
người đứng đầu bộ, ngành, địa phương phải dựa trên yếu tố có hay không có năng lực phòng,
chống tham nhũng. Người đứng đầu bộ, ngành, địa phương để cho nơi mình xảy ra tham
nhũng, thì hoặc là người đó có hành vi tham nhũng, hoặc là người đó bao che cho tham nhũng,
hoặc là yếu kém về năng lực quản lý, hoặc là thiếu tinh thần trách nhiệm (người bị một trong
những “hoặc” trên đều cần được xử lý bằng hình thức cách chức và truy cứu trách nhiệm hình
sự).
Để công tác phòng, chống tham nhũng đạt hiệu quả, yếu tố cần thiết đòi hỏi xử lý hành vi
tham nhũng phải nghiêm minh. Hiện nay dư luận bức xúc khi xử lý tham nhũng của chúng ta
thường “nhẹ trên, nặng dưới”, “ quan xử theo lễ, dân xử theo luật”, “bảo vệ uy tín cán bộ, đảng
viên”. Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói: “Những kẻ tham nhũng tuy bị tù nhưng tài sản mà
chúng kiếm được chỉ bị tước đoạt một phần nhỏ. Không đợi đến đời con, nhiều kẻ tham nhũng
sống trong tù một cách sung túc hơn nhiều người lương thiện sống ở bên ngoài”. Để xử lý
nghiêm minh hành vi tham nhũng, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: “ Xử lý
kịp thời, nghiêm minh, công khai theo kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với những
cán bộ, công chức tham nhũng, bao che cho tham nhũng, gây thiệt hại về tài sản của Nhà
nước, của nhân dân, dù người đó ở chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu. Tịch thu tài sản
có nguồn gốc từ tham nhũng"
Đã đến lúc cần xây dựng qui chế kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với cán bộ,
công chức có thẩm quyền khi xử lý tham nhũng không đảm bảo tính nghiêm minh. Nếu xử lý

ngay trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị.
3.2.4 Xây xựng cơ chế phát hiện, tố giác hành vi tham nhũng của nhân dân và
phương tiện thông tin đại chúng
Việc phát hiện, tố giác hành vi tham nhũng của nhân dân và phương tiện thông tin đại
chúng có ý nghĩa rất quan trọng, được coi là một trong những “cánh cửa” đầu tiên xử lý tham
nhũng, nhờ đó các cơ quan bảo vệ pháp luật mới tiến hành thanh tra, điều tra vụ việc. Xây
xựng cơ chế phát hiện, tố giác hành vi tham nhũng của nhân dân và phương tiện thông tin đại
chúng chính là “ vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy” .
Tuy nhiên, các cơ quan quản lý nhà nước cũng như bản thân cán bộ, công chức hữu quan chưa
thực sự dựa vào cơ chế này, thậm trí làm ngơ. Thực tế cho thấy, có nhiều vụ việc tham nhũng
bị quần chúng tố giác nhưng phải nhiều năm sau nhờ các phương tiện thông tin đại chúng
đồng loạt, gay gắt lên tiếng mới bị xử lý; nhiều hành vi tham nhũng bị tố giác, nhưng chủ thể
của hành vi đó vẫn đều đều được đề bạt, bổ nhiệm, cá biệt có người còn được phân công
cương vị “Phó Trưởng ban” chống tham nhũng trong bộ, ngành, địa phương. Trong thời gian
tới chúng ta cần qui định rõ: "những cán bộ có dư luận tham nhũng, chưa có kết luận của cơ
quan chức năng thì chưa được đề bạt, bổ nhiệm. Nếu cơ quan, cá nhân nào tham mưu đề xuất
đề bạt, bổ nhiệm cán bộ sau này tham nhũng thì phải xử lý nghiêm bằng pháp luật và kỷ luật
Đảng, từ trước đến nay ta chưa xử lý ai về vi phạm này"
Phương tiện thông tin đại chúng ngày nay thực sự là cơ quan ngôn luận của Đảng, của nhân
dân, của nền dân chủ XHCN, là vù khí sắc bén trong việc phòng, chống tham nhũng. Theo kết
quả kiểm tra của Văn phòng Chính phủ “ 92% vấn đề do báo chí nêu đã phản ánh đúng sự thật,
có tác dụng tích cực giúp việc chỉ đạo, điều hành của Chính phủ sâu sát, thực tế”. Trong thời
đại thông tin ngày nay, các phương tiện thông tin đại chúng cần nâng cao vai trò, trách nhiệm
của mình hơn nữa trong công cuộc phòng, chống tham nhũng.
3.2.5 Xây dựng chính sách lương, phụ cấp hợp lý.
Xét về lý thuyết, lương và phụ cấp là những khoản thu chính, nguồn sống chính của cán
bộ, công chức. Nhưng trên thực tế, chính sách lương, phụ cấp của ta còn bộc lộ nhiều bất cập,
chưa thực sự tạo ra động lực lao động; mặt khác giá cả luôn leo thang, biến động nên đã làm
cho cuộc sống của cán bộ, công chức gặp nhiều khó khăn - đây cũng là một trong những
nguyên nhân dẫn tới tham nhũng, đặc biệt ở người có chức vụ, quyền hạn cao. Quan điểm của

Từ góc độ xem xét, đánh giá về hành vi tham nhũng nói trên cho thấy rằng vấn đề đạo đức
trong kinh doanh hiện nay là một trong những nhân tố quan trọng góp phần xây dựng nền kinh
tế bền vững.
Với tình hình kinh tế thị trường như hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam muốn đứng
vững trên trường Quốc tế thì đòi hỏi những nhà lãnh đạo có “ tâm và tầm” để định hướng cho
doanh nghiệp mình một môi trường kinh doanh có đạo đức. Có như vậy, Việt Nam mới có thể
không bị thụt lùi trong cuộc đua với các nước khác.
Nhóm 2 23
VĂN HOÁ KINH DOANH GVHD: TS. NGUYỄN HỮU QUYỀN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu giảng dạy môn VĂN HOÁ KINH DOANH- TS. Nguyễn Hữu Quyền
2. VĂN HOÁ KINH DOANH- PGS.TS. Dương Thị Liễu-NXB: Đại học Kinh tế Quốc
dân, 2009
3. Các bài báo về dự án Đại lộ Đông-Tây, ông Huỳnh Ngọc Sỹ trên báo Tuổi trẻ, Thanh
niên, Pháp luật.
Nhóm 2 24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status