quản lý hoạt động dạy học tại trung tâm dạy nghề và giáo dục thường xuyên huyện tiên lãng - thành phố hải phòng - Pdf 25


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN ĐÌNH TRƢỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRUNG TÂM
DẠY NGHỀ VÀ GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN
HUYỆN TIÊN LÃNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. PHAN VĂN KHA THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

i
LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Nguyễn Đình Trƣờng
Công tác tại: Trung tâm Dạy nghề & GDTX Tiên Lãng - Huyện Tiên Lãng -
Thành phố Hải Phòng
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân
tôi, đƣợc thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của GS.TS. Phan Văn Kha.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này là trung
thực và chƣa từng đƣợc công bố trong các luận văn khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Đình Trƣờng



Nguyễn Đình Trƣờng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 4
7. Giới hạn đề tài 5
8. Cấu trúc của luận văn 5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
THPT HỆ GDTX TẠI TRUNG TÂM DẠY NGHỀ VÀ GDTX 6
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1. Các quan niệm về GDTX 6
1.1.2. Bối cảnh của GDTX trên thế giới và ở Việt Nam 6
1.2. Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1. Giáo dục chính quy và giáo dục thƣờng xuyên 8

2.3.1. Hoạt động dạy của giáo viên 56
2.3.2. Quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ
cho GV 67
2.3.3. Quản lý hoạt động học của học viên 69
2.3.4. Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị, phƣơng tiện và đồ dùng dạy học 70
2.3.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX
tại Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng 71
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 73
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THPT HỆ
GDTX TẠI TRUNG TÂM DẠY NGHỀ VÀ GDTX HUYỆN TIÊN LÃNG -
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 74
3.1. Định hƣớng và những nguyên tắc đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động
dạy học THPT hệ GDTX tại Trung tâm Dạy nghề và GDTX huyện Tiên Lãng 74
3.1.1. Định hƣớng phát triển Trung tâm Dạy nghề &GDTX huyện Tiên Lãng -
Hải Phòng 74
3.1.2. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 75

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v
3.1.2.2. Đảm bảo tính đồng bộ 75
3.1.2.3. Đảm bảo tính kế thừa 75
3.1.2.4. Đảm bảo tính khả thi 75
3.2. Các giải pháp quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX tại trung tâm
Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng. 76
3.2.1. Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ và giáo viên về vị trí, tầm
quan trọng của quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX. 76
3.2.2. Giải pháp 2: Tăng cƣờng quản lý hoạt động dạy của giáo viên 78
3.2.3. Giải pháp 3: Tăng cƣờng quản lý hoạt động học của học viên 84
3.2.4. Giải pháp 4: Nâng cao quản lý bồi dƣỡng năng lực đội ngũ giáo viên 90

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CNTT
Công nghệ thông tin
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
GDCN
Giáo dục chuyên nghiệp
GDCQ
Giáo dục chính quy
GDKCQ
Giáo dục không chính quy
GDTX
Giáo dục thƣờng xuyên
GV
Giáo viên
HĐDH
Hoạt động day học
HĐH
Hiện đại hóa
HTSĐ
Học tập suốt đời
HV
Học viên
KT-XH
Kinh tế - xã hội
PCGDTH
Phổ cập giáo dục tiểu học
PTCS
Phổ thông cơ sở
TH

Bảng 2.10. Đánh giá thực trạng quản lí hoạt động lập kế hoạch 56
Bảng 2.11. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết, đánh giá của GV về mức
độ thực hiện các biện pháp quản lý thực hiện chƣơng trình giảng dạy 58
Bảng 2.12. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của GV về mức
độ thực hiện việc phân công chủ nhiệm và giảng dạy cho giáo viên 60
Bảng 2.13. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của GV về mức
độ thực hiện biện pháp quản lý việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp và giờ
dạy trên lớp 62
Bảng 2.14. Thực trạng quản lí việc thực hiện đổi mới PPDH 63
Bảng 2.15. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của giáo viên về
mức độ thực hiện biện pháp quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
của học viên 64
Bảng 2.16. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của giáo viên
về mức độ thực hiện biện pháp quản lý hồ sơ của giáo viên 66
Bảng 2.17. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của giáo viên
về mức độ thực hiện biện pháp quản lý công tác bồi dƣỡng chuyên
môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho giáo viên 68
Bảng 2.18. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết, đánh giá của GV về mức
độ thực hiện biện pháp quản lý hoạt động học tập của học viên 70
Bảng 2.19. Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của giáo viên về
mức độ thực hiện biện pháp quản lý CSVC, thiết bị phục vụ cho hoạt
động dạy học 71
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các giải pháp đề xuất 101
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các giải pháp đề xuất 102

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ


cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời
sống xã hội hiện nay ”[27].
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Phát triển,
nâng cao chất lượng nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong
những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đổi mới căn bản,
toàn diện nền giáo dụcViệt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân
chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp
dạy và học, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ
quản lý giáo dục là khâu then chốt”, Bộ giáo dục đào tạo đã xác định mục tiêu đến
năm 2020 của ngành là: “Nâng cao chất lượng giáo dục và đổi mới công tác quản lý
”. Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 8 khoá XI đã khẳng định “
”.
Nâng cao chất lƣợng giáo dục luôn là vấn đề quan tâm của các cơ sở giáo dục nói
chung và các Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên nói riêng. Chất lƣợng giáo
dục, chất lƣợng dạy học là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình giáo dục ở các trƣờng học
trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chất lƣợng giáo dục quyết định sự tồn tại và phát
triển của sự nghiệp giáo dục, của mỗi cơ sở giáo dục, của mỗi Trung tâm. Nâng cao

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

2
chất lƣợng giáo dục là vấn đề cơ bản của ngành Giáo dục, là tâm trí của mọi nhà
giáo, mọi thành viên trong xã hội. Cũng nhƣ các bộ phận khác của xã hội, quản lý
giáo dục giữ vai trò quan trọng trong hoạt động giáo dục. Quản lý giáo dục quyết
định đƣờng đi của hệ thống giáo dục, để triển khai đúng hƣớng, phù hợp với yêu cầu
phát triển của xã hội, đất nƣớc. Trong khi đó, vấn đề sống còn của giáo dục là chất
lƣợng giáo dục, vì vậy việc quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục, chất lƣợng
dạy học đang là vấn đề đƣợc quan tâm trong các cơ sở giáo dục hiện nay.
Để nâng cao chất lƣợng giáo dục trong các trung tâm Dạy nghề và giáo dục
thƣờng xuyên cần phải chú trọng đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt

3
Trung tâm Dạy nghề và GDTX huyện Tiên Lãng trực thuộc ủy ban nhân dân
huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng đƣợc thành lập ngày 01 tháng 8 năm 2013
trên cơ sở sáp nhập giữa hai đơn vị là Trung tâm Dạy nghề huyện Tiên Lãng và
Trung tâm GDTX huyện Tiên Lãng. Là đơn vị mới đƣợc thành lập, còn non trẻ, lại
nằm trên huyện thuần nông xa trung tâm Thành phố, đối tƣợng tham gia học THPT
tại Trung tâm thì đa dạng cả về độ tuổi lẫn hình thức học tập nên việc quản lý hoạt
động dạy học THPT là một yêu cầu cấp thiết. Mặc dù đã đạt đƣợc những thành quả
nhất định trong quá trình phát triển, nhƣng chất lƣợng giảng dạy vẫn còn gặp nhiều
khó khăn, hạn chế, bất cập đó là: Chƣa linh hoạt các loại hình đào tạo nhằm đáp ứng
nhu cầu của ngƣời học; CSVC - trang thiết bị dạy học, điều kiện học tập chƣa đáp
ứng nhu cầu đổi mới chƣơng trình giáo dục thƣờng xuyên hiện nay; giáo viên chậm
đổi mới phƣơng pháp dạy học, ý thức học tập của học viên chƣa cao đặc biệt là tính
tự giác trong học tập. Công tác quản lý việc thực hiện nề nếp dạy học của giáo viên,
học tập của học viên chƣa có chiều sâu, đôi khi còn lỏng lẻo. Do đó chất lƣợng dạy
học của Trung tâm chƣa đáp ứng đƣợc nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất
lƣợng cao cho huyện nhà. Vì vậy, việc tìm kiếm, đề xuất các biện pháp quản lý dạy
học nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học tại Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng
xuyên huyện Tiên Lãng là một thực tế cần đƣợc giải quyết.
Với những lý do trên, việc tìm ra những giải pháp mang tính khả thi và hiệu
quả cao trong công tác giảng dạy, đảm bảo chất lƣợng là một nhu cầu thiết yếu không
chỉ mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn cao đối với sự phát triển của Trung
tâm trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “ Quản lý hoạt
động dạy học tại Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thường xuyên huyện Tiên Lãng
- Thành phố Hải Phòng” làm luận văn tốt nghiệp cho mình với mong muốn góp
phần nâng cao chất lƣợng dạy học trung học phổ thông trong Trung tâm Dạy nghề và
giáo dục thƣờng xuyên Tiên Lãng nói riêng và trong các Trung tâm Dạy nghề và giáo
dục thƣờng xuyên nói chung.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động dạy học THPT hệ

động dạy học THPT hệ GDTX của Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên
huyện Tiên Lãng - Thành phố Hải Phòng.
5.3. Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDTX nhằm nâng
cao chất lƣợng ở Trung tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên huyện Tiên Lãng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong đề tài này có sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu sau:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Để có cơ sở lý luận làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu, tiến hành thu thập
tài liệu, đọc tài liệu, từ đó phân tích tổng hợp vấn đề từ góc độ lý luận có liên quan
đến đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn
Thiết kế các phiếu điều tra, đánh giá về quản lý hoạt động dạy học theo tiêu chí
trên các mặt tƣ tƣởng, đạo đức, kiến thức, kỹ năng . Từ đó đi sâu phân tích đánh giá
đƣợc thực trạng của việc quản lý hoạt động của Trung tâm trong những năm qua cũng
nhƣ trong thời gian tới.
Thu thập thông tin qua việc quan sát hoạt động quản lý của Giám đốc Trung
tâm Dạy nghề và giáo dục thƣờng xuyên về hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên
thể hiện qua giờ dạy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

5
6.2.2. Phương pháp chuyên gia:
Thu thập lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý trong lĩnh vực quản lý hoạt
động dạy học.
6.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn:
Thông qua các báo cáo của Trung tâm, của ngành về lĩnh vực này trong các
năm để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm.
6.3. Phương pháp toán thống kê

quả tốt nhất của nền giáo dục. Xác định đƣợc tầm quan trọng chiến lƣợc đó, các nƣớc
trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn đƣa mục tiêu phát triển một
nền giáo dục tiên tiến, hiện đại là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến
lƣợc phát triển của quốc gia mình. Nhận thức đƣợc điều đó, Đảng và Nhà nƣớc ta
thực sự coi giáo dục là lực lƣợng chiến lƣợc trong công cuộc phát triển đất nƣớc
“giáo dục là quốc sách hàng đầu, là lực lƣợng thúc đẩy, là điều kiện cơ bản” đảm bảo
việc thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất
nƣớc. Đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho sự phát triển. Quan điểm giáo dục mới là
phải biến hoạt động học tập trở thành một nhu cầu chính đáng trong cuộc sống của
con ngƣời, vì vậy việc tạo điều kiện cho mọi ngƣời luôn có điều kiện tiếp cận với
những loại hình học tập chính là yêu cầu bức thiết của xã hội hiện đại. Thuật ngữ
GDTX ra đời chính từ hƣớng phát triển giáo dục đó. Hiện nay giáo dục thƣờng
xuyên có nhiều hình thức, nhiều loại hình nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập của con
ngƣời, góp phần nâng cao dân trí, năng lực lao động, thích ứng với yêu cầu của xã
hội và nâng cao chất lƣợng cuộc sống của bản thân.
1.1.2. Bối cảnh của GDTX trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.2.1. Bối cảnh GDTX trên thế giới
Trƣớc những năm 60 giáo dục nhà trƣờng (giáo dục chính qui) chiếm vị trí
“độc tôn” trong sự nghiệp giáo dục của các nƣớc trên thế giới. Ngƣời ta thƣờng quan
niệm rằng việc học tập phải thực hiện ở những môi trƣờng giáo dục chính thống đƣợc
tổ chức chặt chẽ bởi Nhà nƣớc, những đối tƣợng đƣợc học tập cũng chỉ gói gọn trong
một độ tuổi nhất định.
Năm 1968 xuất hiện tác phẩm nổi tiếng của Ph.Combs “Khủng hoảng giáo dục
trên phạm vi toàn thế giới”. Trong tác phẩm này đề cập đến 4 vấn đề sau:
- Giáo dục trong nhà trƣờng không đủ sức đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi ngƣời.
- Học vấn trong nhà trƣờng thậm trí cả nhà trƣờng đại học không đáp ứng
đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
- Kiến thức học trong nhà trƣờng là quá ít ỏi và chóng lạc hậu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Nhƣ vậy GDTX có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong hội thảo “Chƣơng trình giáo dục cho mọi ngƣời” Châu Á - Thái Bình
Dƣơng ở thủ đô nƣớc Australia tháng 11/1987, UNESCO đã định nghĩa: “GDTX là một
khái niệm rộng lớn, bao gồm tất cả các cơ hội học tập mà mọi ngƣời đều mong muốn
hoặc cần có sau xoá mù chữ cơ bản và giáo dục tiểu học”. Định nghĩa bao hàm các ý sau:
- GDTX dành cho ngƣời lớn đã biết chữ.
- GDTX đáp ứng nhu cầu mong muốn của mọi ngƣời.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

8
- GDTX có thể bao hàm những kinh nghiệm do giáo dục chính qui, không
chính qui và phi chính qui cung cấp.
- GDTX đƣợc qui định là “cơ hội tham gia vào quá trình học tập suốt đời sau
khi kết thúc tiểu học hoặc tương đương”.
Trong tuyên ngôn 21 điểm của UNESCO đã có những điểm hết sức quan trọng
cho GDTX phát triển:
- GDTX phải là nét chủ đạo của mọi chính sách giáo dục trong những năm tới
tại các nƣớc công nghiệp phát triển cũng nhƣ các nƣớc đang phát triển.
- GDTX cho mọi lứa tuổi trong suốt cuộc đời không chỉ bó hẹp trong 4 bức
tƣờng, có nghĩa là phải cải tổ toàn diện ngành giáo dục. Giáo dục phải trở thành một
phong trào quần chúng thực sự.
- GDTX phải tiến hành và tiếp thu bằng nhiều cách khác nhau. Điều quan
trọng là không phải học theo cách nào mà học cái gì và học đƣợc cái gì.
- Xoá bỏ đƣợc các hàng rào giả tạo lỗi thời giữa các ngành giáo dục, giữa giáo
dục chính qui và không chính qui.
Ý tƣởng cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham
muốn tột bậc là đồng bào ta, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đƣợc học hành”. Vì
thế, chỉ sau 6 ngày (sau ngày Tuyên ngôn độc lập) khai sinh ra nƣớc Việt Nam dân
chủ cộng hoà, ngày 08 tháng 9 năm 1945 Bác Hồ đã ký sắc lệnh Nha bình dân học

dục ngƣời lớn; Giáo dục không chính quy; Giáo dục thƣờng xuyên liên tục;
Ở Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay chúng ta đã sử dụng
nhiều thuật ngữ nhƣ: Bình dân học vụ; bổ túc văn hóa; giáo dục không chính quy;
giáo dục thƣờng xuyên. Việc sử dụng thuật ngữ khác nhau này, trong từng giai đoạn
phản ánh quá trình phát triển về chất lƣợng trong quan niệm về GDTX ở Việt Nam
cũng nhƣ các nƣớc trong khu vực.
Trƣớc đây GDTX cơ bản chỉ quan tâm vào việc xóa mù chữ, bổ túc văn hóa,
thì ngày nay giáo dục thƣờng xuyên bao gồm nhiều hình thức; không chính quy,
không tập trung, tại chức, vừa làm,vừa học, từ xa, hệ mở, tự học có hƣớng dẫn, mục
đích của các hình thức này là bồi dƣỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, hình
thành kỹ năng Dạy nghề ngắn hạn, trang bị kiến thức kỹ năng cho ngƣời lao động, tạo
cơ hội, công ăn việc làm cho họ.
Ngày nay để phát huy và thích ứng trong một xã hội phát triển thì mỗi ngƣời
cần phải có trách nhiệm học tập thƣờng xuyên, học liên tuc; học suốt đời. Bởi vậy,
quan niệm về giáo dục cũng đã thay đổi, giáo dục không chỉ bó hẹp trong phạm vi
nhà trƣờng, giáo dục không phải dành riêng cho thế hệ trẻ, mà nó diễn ra ở khắp mọi
nơi, mọi chỗ, trong suốt cuộc đời của mỗi con ngƣời, cho tất cả mọi ngƣời, mọi lứa
tuổi, dƣới nhiều hình thức học khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hiện nay
giáo dục trong nhà trƣờng và giáo dục ngoài nhà trƣờng, giáo dục dành cho ngƣời ít
tuổi, giáo dục dành cho ngƣời lớn tuổi đều đƣợc tồn tại trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Trong cuộc đời mỗi con ngƣời GDCQ chỉ chiếm khoảng 1/3 thời gian, còn lại là
giáo dục thƣờng xuyên. Luật giáo dục coi GDTX vừa là một bộ phận của hệ thống
của giáo dục quốc dân vừa là một phƣơng thức giáo dục tồn tại song song với giáo
dục chính quy. Điều 4 Luật giáo dục có ghi "Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo
dục chính quy và giáo dục thường xuyên". [28].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

10


cần giữ cho cánh cửa giáo dục rộng mở. Cần đƣa ra một thể chế và phƣơng thức học
phù hợp để mọi ngƣời có thể đi vào giáo dục bất kỳ thời gian nào.
Nhƣ vậy giáo dục không chỉ diễn ra một lần, giới hạn trong độ tuổi nhất định,
mà là quá trình diễn ra liên tục và xuyên suốt cả cuộc đời. Để đáp ứng yêu cầu của xã
hội, của ngƣời học, cần phải có phƣơng thức giáo dục mới thích ứng, bổ trợ cho giáo
dục chính qui, đó là phƣơng thức giáo dục không chính qui, nó đƣợc thực hiện bởi
các trung tâm GDTX.
Thực tế cho thấy, sự ra đời của GDTX đã mở lối thoát cho cuộc khủng hoảng
về nguồn lực ở các nƣớc đang phát triển và nó giữ vai trò quan trọng là một bộ phận,
một phân hệ trong hệ thống giáo dục quốc dân. Cùng với hệ thống giáo dục chính qui,
nó cung ứng và thoả mãn nhu cầu học tập suốt đời cho mọi ngƣời.
c. Cơ sở pháp lý của GDTX
Quan điểm của Đảng và Chính phủ về GDTX.
+ Nghị quyết TƢ 4 khoá VII đã khẳng định: "Cần phải thực hiện một nền
GDTX cho mọi người xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi
công dân. Đổi mới giáo dục bổ túc và đào tạo tại chức, khuyến khích phát triển các
loại hình GD-ĐT không chính qui, khuyến khích tự học. Mở rộng dạy học ngoại ngữ".
+ Nghị quyết TƢ 2 khoá VIII chủ trƣơng thực hiện công bằng xã hội: "Tạo
điều kiện để ai cũng được học hành”. "Tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn
cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình”.
"Mở rộng các hình thức học tập thường xuyên, đặc biệt là hình thức học tập từ
xa. Quan tâm đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân
các doanh nghiệp tăng cường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý
các cấp, các ngành”.
+ Nghị quyết 90 CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ: "GDTX là một trong
năm phân hệ trong cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân".

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

12

1.2.1.3. Trung tâm GDTX
a. Khái niệm về trung tâm GDTX
Trong Hội nghị về trung tâm GDTX đƣợc tổ chức tại Srilanca tháng 11/1994
đã định nghĩa: “Trung tâm GDTX là tổ chức giáo dục địa phương, ngoài hệ thống
giáo dục chính qui, thuộc các làng hoặc các cộng đồng thành phố, thường được quản
lý bởi nhân dân địa phương có nhiệm vụ cung cấp nguồn lực cho sự phát triển địa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

13
phương và việc học tập định hướng theo gia đình và cung cấp thông tin về câu hỏi:
cái gì? làm sao? ở đâu? khi nào? các cá nhân có thể tham gia vào các hình thức học
tập khác nhau của GDTX”. [31]
Trung tâm GDTX là nơi trực tiếp đồng thời cũng là nơi liên kết với các cơ sở
giáo dục-đào tạo, các tổ chức kinh tế, xã hội trong cộng đồng nhằm cung ứng các cơ
hội và điều kiện học tập cho những ngƣời không có điều kiện học tập trong các cơ sở
giáo dục chính quy.
Căn cứ Quyết định 01/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ
trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung
tâm giáo dục thƣờng xuyên:“Trung tâm giáo dục thường xuyên là cơ sở giáo dục
thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân. Trung tâm giáo dục thường xuyên bao
gồm trung tâm giáo dục thường xuyên quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau
đây gọi chung là trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện), trung tâm giáo dục
thường xuyên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là trung tâm
giáo dục thường xuyên cấp tỉnh). Trung tâm giáo dục thường xuyên có tư cách pháp
nhân, có con dấu và tài khoản riêng”.[3]
b. Vị trí , nhiệm vụ của trung tâm GDTX
- Vị trí: Trung tâm GDTX là cơ sở giáo dục không chính quy trong hệ thống
giáo dục quốc dân, thực hiện các chƣơng trình giáo dục theo phƣơng thức giáo dục
không chính quy.

Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên cấp tỉnh đƣợc phép liên kết với Cơ sở giáo dục đại
học khi thực hiện chƣơng trình giáo dục thƣờng xuyên lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng,
bằng tốt nghiệp đại học.
c. Hệ thống trung tâm GDTX
- Trung tâm GDTX thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (sau đây gọi
chung là trung tâm GDTX tỉnh). Trung tâm này không thực hiện nhiệm vụ chƣơng
trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ.
- Trung tâm GDTX quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi
chung là trung tâm GDTX huyện). Trung tâm này không thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ
các trƣờng cao đẳng, đại học tổ chức thực hiện chƣơng trình đào tạo không chính quy
ở địa phƣơng.
Nhƣ vậy các trung tâm GDTX đƣợc phân bố thành một mạng lƣới, từ tỉnh,
thành phố đến các quận, huyện, thị xã (đƣợc gọi là trung tâm tỉnh, trung tâm huyện),
trung tâm GDTX tỉnh khác trung tâm cấp huyện về cấp quản lý và một số chức năng,
nhiệm vụ. Trong quan hệ giữa trung tâm GDTX cấp tỉnh và trung tâm cấp huyện
không phải là quan hệ "trên, dƣới" trong quản lý.
d. Trung tâm GDTX và ý nghĩa đối với chiến lược phát triển giáo dục
Ở Việt Nam GDTX là kế thừa bình dân học vụ 1945, BTVH 1954 và Tại chức
1959. Ngành học đã đƣợc thành lập từ khi cách mạng vừa thành công, nó nhƣ là một
bộ phận của giáo dục cách mạng, nó đã góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng
và phát triển đất nƣớc.
Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: "Phương hướng chung của GD&ĐT trong
những năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH tạo điều kiện
cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục những yếu kém trong
GD&ĐT". [Văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần VIII- NXB chính trị quốc gia- 1997].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

15
Tại Đại hội IX, Đảng ta đã coi “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong

cần làm và làm cái đó bằng phƣơng pháp tốt nhất và rẻ nhất ”
- Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sƣ ngƣời Pháp - Ông quan niệm: “Quản lý
hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Trong học
thuyết quản lý của mình H.Fayol đƣa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là:
Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra.

Trích đoạn Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học THPT hệ GDT Định hƣớng và những nguyên tắc đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ và giáo viên về vị trí, tầm Tính cần thiết Đối với Trung tâm Dạy nghề và GDTX huyện Tiên Lãng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status