Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh ở các trường trung học cơ sở vùng nông thông thị xã Bà Rịa - Pdf 25



1
MỞ ĐẦU1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1. Giáo dục thế hệ trẻ là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội,
trong đó nhà trường và gia đình là hai cơ sở trực tiếp giáo dục các em. Gia đình
luôn là môi trường sống, môi trường giáo dục lâu dài, thường xuyên và dựa
trên cơ sở tình thương yêu. Như vậy gia đình là môi trường giáo dục có nhiều
thuận lợi và ưu thế trong việc hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ,
do đó nhà tr
ường cần phải chủ động phối hợp với gia đình để nâng cao hiệu
quả giáo dục học sinh. Sự phối hợp giữa ba môi trường giáo dục nhà trường,
gia đình và xã hội là một trong những nguyên lý giáo dục của nước ta.

1.2. Học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi thiếu niên bắt đầu dậy thì, có nhiều
biến đổi về tâm sinh lý, tự ý thức chưa cao, dễ bị tác động b
ởi môi trường xung
quanh. Học sinh ở vùng nông thôn, nhất là học sinh nam thường có nhiều trò
chơi hấp dẫn của miền quê, hơn nữa các em hầu như chỉ học một buổi / ngày,
đa số không đi học thêm. Như vậy chỉ có khoảng 1/4 thời gian trong ngày các
em ở trường, còn gần 3/4 thời gian các em ở nhà hoặc ở ngoài xã hội, ngoài ra
trong suốt gần 3 tháng hè các em không đến trường. Với môi trường thiên
nhiên phù hợp lứa tuổi hiếu
động, ham chơi của thiếu niên và thời gian ở
trường không nhiều nên học sinh trung học cơ sở dễ sao lãng nhiệm vụ học tập
và rèn luyện của mình nếu không được các bậc phụ huynh quản lý, hướng dẫn.


giữa nhà trường với cha mẹ học sinh chưa đạt hiệu quả giáo dục cao.

Vớ
i những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý công tác phối hợp
giữa nhà trường với cha mẹ học sinh ở các trường trung học cơ sở vùng nông
thôn thị xã Bà Rịa” là cần thiết để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
học sinh ở các trường vùng nông thôn trong thị xã và trong tỉnh.

3
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng việc quản
lý công tác phối hợp của nhà trường với cha mẹ học sinh ở các trường trung
học cơ sở vùng nông thôn của thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trong việc
giáo dục học sinh, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác này. 3.
ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng việc quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ
học sinh ở các trường trung học cơ sở vùng nông thôn thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà
Rịa-Vũng Tàu.



Đề tài nghiên cứu việc quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với
cha mẹ học sinh ở các trường THCS vùng nông thôn của thị xã Bà Rịa gồm
trường THCS Nguyễn Thanh Đằng, Dương Văn Mạnh, Long Toàn, Phước
Nguyên và trong giai đoạn từ năm 2003 đến nay.

7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nhằm thu thập và phân tích các
tài liệu về chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước và những vấn đề lý
luận có liên quan đến sự phối hợp giáo dục giữa nhà trường với gia đình
học sinh.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu: lập phiếu hỏi các giáo viên chủ nhiệm
và cha mẹ học sinh nhằm
đánh giá thực trạng nhận thức và các hoạt động
phối hợp giáo dục giữa nhà trường với gia đình.
- Phương pháp phỏng vấn: trao đổi với ban giám hiệu, giáo viên, cha mẹ
học sinh và học sinh để khẳng định kết quả điều tra bằng phiếu.
- Phương pháp chuyên gia: hỏi ý kiến một số cán bộ quản lý giáo dục.
7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê: dùng toán th
ống kê để tính
điểm trung bình và độ lệch chuẩn về mức độ thực hiện một số công việc
phối hợp giữa các giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh.

5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

có sự hợp tác chặt chẽ trong việc giáo dục trẻ, câu nói “Muốn sang thì bắc cầu

6
Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy Thầy” đã khái quát ý nghĩa lớn lao về mối
quan hệ này. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục lớn của nước ta, Bác
đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng về trách nhiệm của nhà trường phải tổ chức
phối hợp với gia đình: …“Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò. Bởi vì
giáo dục trong nhà trường chỉ là một phầ
n, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội
và trong gia đình để cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục
trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã
hội thì kết quả cũng không hoàn toàn
”…
[19
, tr.10] Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng hợp quan điểm lý
luận và thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ của gia đình và sự phối hợp giữa nhà
trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ như “Giáo dục gia
đình” (Giáo trình đào tạo giáo viên THCS, NXB Giáo Dục), “ Xã hội hoá công
tác giáo dục” (Phạm Minh Hạc tổng chủ biên), “Giáo dục học- Một số vấn đề
lý lu
ận và thực tiễn” (Hà Thế Ngữ), “Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục”
(Hà Nhật Thăng), “Suy nghĩ về trách nhiệm của gia đình đối với việc giáo dục
thiếu niên nhi đồng” (Nguyễn Đức Minh), “Văn hoá gia đình với việc hình
thành và phát triển nhân cách trẻ em” (Võ Thị Cúc)…
Một số tác giả cũng đã chọn đề tài nghiên cứu về tác động phối hợp của
gia đình để nâng cao hi
ệu quả giáo dục học sinh trong luận án, luận văn của

thuận lợi trong việc giáo dục trẻ. Tình yêu thương sâu sắc, rộng lớn của cha mẹ
đối với con cái nếu không có yêu cầu cao về giáo dục, không có tính nguyên
tắc sư phạm sẽ có thể là nguyên nhân gây ra cho con cái thói hư, tật xấu.
Những cha mẹ có tư tưởng lạc hậu, quan niệm giáo dục lỗi thời, không có tri
thức về khoa học giáo dục sẽ dẫn
đến việc giáo dục gia đình mâu thuẫn với
giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Do đó nhà trường và xã hội cần phải
phối hợp, phát huy những thuận lợi và khắc phục những mặt không thuận lợi
của giáo dục gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Ngược lại gia đình và xã
hội cũng cần phải bổ sung, cộng tác và phát huy vai trò của giáo dục nhà
trường vì mục tiêu chung là làm cho trẻ “thành ng
ười” và “làm người”.
8
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1. Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
Trong đề tài này có một số khái niệm cần làm sáng tỏ như sau:
• Quản lý
Hiện nay có nhiều định nghĩa về quản lý tùy theo cách tiếp cận đối tượng
của mỗi môn khoa học và của từng tác giả. Theo tác giả Hoàng Tâm Sơn:
“Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý,
nhằm sử dụng có hiệu quả các ti
ềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được
mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường”. Tác giả Đặng Vũ
Hoạt và Nguyễn Gia Qúy cho rằng: “Quản lý là một quá trình hướng đích, quá
trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống
nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trư

lượng và hiệu quả giáo dục học sinh. Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối
hợp với cha mẹ học sinh để cùng nhau th
ực hiện tốt nhiệm vụ này.

• Trường học vùng nông thôn
Các trường học vùng nông thôn ở nước ta rất đa dạng, rải ra trên một địa
bàn rộng lớn với những đặc điểm tự nhiên và xã hội rất khác nhau. Trường học
ở nông thôn giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, hiện
chiếm khoảng gần 80% số trường trong cả nước. Các trường ở nông thôn vẫn
còn gặp rất nhiều khó kh
ăn về cơ sở vật chất, thiếu thốn các điều kiện về trang
thiết bị để hoạt động và phát triển, đội ngũ thầy cô giáo chưa đồng bộ, trình độ
văn hoá và hiểu biết về khoa học giáo dục của nhiều cha mẹ học sinh còn thấp,
hoàn cảnh kinh tế đa số gia đình học sinh còn có khó khăn nên việc quan tâm
đầu tư cho việc học tập c
ủa các em còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên công tác giáo
dục ở nông thôn có được những mặt mạnh như học sinh ít bị ảnh hưởng bởi
những tiêu cực của xã hội; các lực lượng xã hội có nhiều sự quan tâm phối hợp
giáo dục; học sinh đa số ngoan, chăm chỉ, lao động tốt; các bậc cha mẹ luôn
gần gũi với con em nên có nhiều thuận lợi trong việc giáo dục các em.
Hiện nay nông thôn Việt Nam đang có nhi
ều biến đổi theo những biến
động to lớn do quá trình đô thị hoá nông thôn trên con đường công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và phát triển kinh tế thị trường, nên các trường học ở nông thôn

10
cũng có nhiều thay đổi và đương đầu với nhiều khó khăn. Ở các xã thuộc thị xã
Bà Rịa, sự lan rộng nhanh chóng các hình thức vui chơi, giải trí như Games
online, Billiards đã gây ảnh hưởng không tốt đến việc chuyên cần học tập và
rèn luyện của một số học sinh ở các trường.

ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn: …

Trẻ em trong như tấm
gương, cái tốt dễ tiếp thu, cái xấu cũng dễ tiếp thu. Nếu nhà trường dạy tốt mà
gia đình dạy ngược lại, sẽ có những ảnh hưởng không tốt tới trẻ em, và kết quả
cũng không tốt. Cho nên muốn giáo dục các cháu thành người tốt, nhà trường,
đoàn thể, gia đình và xã hội đều phải kết hợp chặt chẽ với nhau”...

[19
, tr.11]

Văn kiện hội nghị lần thứ II Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII
đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục:
…“Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng
đồng, của từng gia đình và mỗi công dân. Cần kết hợp tốt giáo dục học đường
với giáo dục gia đình và giáo dục xã hộ
i, xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh; người lớn làm gương cho con trẻ noi theo.”… [
4, tr.9]

Chương VI của Luật Giáo dục năm 2005 quy định sự phối hợp giữa ba
môi trường giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội. Điều 94 quy định trách
nhiệm của gia đình: “Cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm nuôi dưỡng,
giáo dục và chăm sóc, tạo điều kiện cho con em hoặc người được giám hộ được
học tập, rèn luyện, tham gia các họat động của nhà trường. Mọi người trong gia
đ
ình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hoá, tạo môi trường thuận lợi cho
việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em;
người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà
trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục”. Điều 95 nói về quyền của cha

ết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh
xã hội hoá các hoạt động giáo duc, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, trong đó
có định hướng về công tác giáo dục đào tạo:…“Tăng cường quan hệ của nhà
trường với gia đình và xã hội; huy động trí tuệ, nguồn lực của toàn ngành, toàn
xã hội vào việc đổi mới nội dung, chương trình, thực hiện giáo dục toàn
diện.”…
Như vậy sự phố
i hợp giữa giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo
dục xã hội được Nhà nước rất quan tâm trong công tác quản lý giáo dục. Một
số văn kiện của Đảng và văn bản pháp quy của Nhà nước có đề cập đến tầm
quan trọng cần thiết hoặc quy định về sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và
xã hội như: 13
- Luật hôn nhân và gia đình.
- Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- Luật Giáo dục năm 2005.
- Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII năm 1991.
- Văn kiện hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII
- Văn kiện hội nghị lần thứ II Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII.
- Nghị quyết 90/CP ngày ngày 21/8/1997 của Chính ph
ủ về phương hướng
và chủ trương xã hội hóa công tác giáo dục, y tế, văn hoá.
- Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các
hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao.
- Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010.
- Điều lệ hội cha mẹ học sinh năm 1992.
- Điều lệ trường trung học cơ
sở năm 2007.

mọi mặt và phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc
giáo d
ục con”… Như vậy, giáo dục con cái không phải chỉ là công việc riêng tư
của bố mẹ, mà còn là trách nhiệm đạo lý và nghĩa vụ công dân của những
người làm cha mẹ.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt
Nam năm 1991 đã nêu: “Cha mẹ học sinh là “thầy giáo” đầu tiên của con cái
họ, phải hết sức đề cao vai trò và trách nhiệm của cha mẹ trong việc giáo d
ục
con cái, chăm sóc và bồi dưỡng thế hệ trẻ”... Để thực hiện tốt vai trò và trách
nhiệm của mình, chỉ có hợp tác với nhà trường các bậc cha mẹ mới có thể giáo
dục con cái đạt được kết quả như mong muốn, vì nhà trường là nơi giáo dục
học sinh một cách khoa học và toàn diện nhất với đầy đủ các nội dung đức, trí,
thể, mỹ và lao động hướng nghiệp.
Tóm lại, vai trò củ
a gia đình rất quan trọng việc giáo dục thế hệ trẻ. Kết
quả giáo dục con không phải chủ yếu do cha mẹ có nhiều hay ít thì giờ tiếp
xúc, quản lý con cái hoặc do điều kiện kinh tế gia đình giàu hay nghèo, mà chủ
yếu là do cha mẹ có quan tâm đến việc giáo dục con không, có tình thương và
trách nhiệm đối với con em như thế nào, có phương pháp giáo dục con phù hợp
hay không. Thực tế cho thấy phần lớn những học sinh chư
a ngoan, học tập

15
không tốt là những em thiếu sự quan tâm giáo dục hoặc giáo dục không đúng
cách của cha mẹ.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay đang có sự thay đổi về vai
trò của cha mẹ trong việc giáo dục con cái, nhất là ở các đô thị. Một số cha mẹ
vì bận rộn công việc nên gởi con học các trường nội trú, lúc này trách nhiệm
giáo dục con hầu như chuyển hết cho nhà trường. Mối quan hệ

chi hội. Mỗi chi hội bầu ra một ban thường trực và đại hội đại biểu các chi hội
bầu ra ban thường trực hội, nhiệm kỳ của ban thường trực hội và chi hội là một
năm học. Tuy nhiên vào năm 2000, Bộ GD-ĐT ban hành điều lệ trường trung
học trong đó xác
định Ban đại diện cha mẹ học sinh chứ không phải Ban
thường trực và cũng không có hướng dẫn cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Ban
đại diện như điều lệ hội cha mẹ học sinh quy định đối với Ban thường trực chi
hội hoặc Ban thường trực hội. Vào ngày 02/4/2007, Bộ GD-ĐT lại ban hành
điều lệ trường trung học cơ sở có quy định nhiệ
m vụ, quyền hạn, tổ chức và
hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh thực hiện theo Điều lệ Ban đại
diện cha mẹ học sinh (đến nay Bộ GD-ĐT vẫn chưa ban hành điều lệ này).
Hiện nay tổ chức hội cha mẹ học sinh các trường cũng cơ bản dựa trên
Điều lệ hội cha mẹ học sinh năm 1992 để hoạ
t động. Vào đầu mỗi năm học, đại
hội cha mẹ học sinh được tổ chức để tổng kết những hoạt động của hội trong
năm học qua, đề ra phương hướng hoạt động cho năm học mới và bầu ra ban
đại diện cha mẹ học sinh ở các lớp và toàn trường. Vào đầu học kì II, các
trường cũng thường tổ chức họp cha mẹ học sinh lầ
n thứ hai để sơ kết hoạt
động trong học kì I và bổ sung phương hướng hoạt động cho học kì II.
* Ban đại diện cha mẹ học sinh nhà trường có nhiệm vụ thực hiện những
công việc sau đây:
- Cử đại diện tham gia hội đồng giáo dục trường và một số tổ chức của
trường như hội đồng kỷ luật, ban hoạt động ngoài giờ, ban giáo dục pháp luật
để tham gia xây dựng và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục của nhà
trường.
- Tham gia cùng với nhà trường tổ chức các hoạt động ngoài giờ cho học
sinh như giáo dục truyền thống, hướng nghiệp, dạy nghề…


ải hợp sức chăm lo, tạo điều kiện tốt nhất
để bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em trở thành người công dân
tốt.

18
Việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội để giáo
dục học sinh là một trong những nguyên lý giáo dục của nước ta: “Hoạt động
giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường
kết hợp với giáo dục gia
đình và giáo dục xã hội”.
(điều 3, Luật Giáo dục 2005).

Trong quá trình sư phạm, học sinh vừa là chủ thể vừa là đối tượng của
lao động sư phạm, hơn nữa chức năng của giáo viên ngày nay đã thay đổi, giáo
viên không phải chủ yếu cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức như trước kia
mà phải tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh lĩnh hội hệ thống tri thức khoa
học, rèn luyện kỹ năng, k
ỹ xảo. Vì vậy quá trình sư phạm chỉ đem lại hiệu quả
khi phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Và nhiệm vụ
học tập, rèn luyện của học sinh không chỉ được thực hiện ở phạm vi nhà trường
mà còn ở gia đình và ngoài xã hội. Do đó một trong những nguyên lý giáo dục
là nhà trường phải phối hợp, thống nhất với gia đình và xã hội để thúc đẩ
y,
hướng dẫn, tạo điều kiện cho học sinh thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
Chủ động thực hiện phối hợp với gia đình và xã hội trong việc giáo dục
học sinh là trách nhiệm của nhà trường, điều 93 Luật Giáo dục 2005 đã quy
định: “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để
xây dựng môi trường giáo dục thống nh
ất nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý


Sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội không phải một
chiều mà là sự tác động qua lại theo nguyên tắc về lợi ích: mỗi hoạt động hợp
tác đều phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của cả hai phía. Nhà trường cần
phải làm mọi việc để giảng dạy có chất lượng, giáo dục thế hệ trẻ thành người
tốt cho xã hội thì gia đình và xã hội s
ẽ cộng tác tích cực với nhà trường. Hơn
nữa sự phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh sẽ đảm bảo cho nội dung,
phương pháp giáo dục học sinh của nhà trường không bị mâu thuẫn mà còn có
điều kiện nâng cao hơn hiệu quả giáo dục. Thực tế cho thấy các trường làm tốt

HỌC SINH
GIA ĐÌNH NHÀ TRƯỜNG XÃ HỘI

20
công tác phối hợp với gia đình và xã hội thì việc giáo dục của nhà trường luôn
có kết quả tốt đẹp (như những điển hình ở Bắc Lý, Cẩm Bình), và những cha
mẹ học sinh có quan tâm đúng đắn đến việc giáo dục con và kết hợp chặt chẽ
với nhà trường thì kết quả học tập và rèn luyện của con em họ thường tốt đẹp.
Việc tăng cường vai trò của Ban
đại diện cha mẹ học sinh và sự nhiệt
tình tham gia của cha mẹ học sinh vào họat động giáo dục của nhà trường
ngoài tác dụng tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của trường
còn có tác dụng làm giảm sự vi phạm nội quy của học sinh. Ý thức học tập và

nhà, nhất là những hiện tượng đặc biệt, những biến đổi tâm lý của các em để
phối hợp giáo dục đạt hiệu quả.
- Hình thức liên lạc do giáo viên chủ
nhiệm chủ động như mời cha mẹ học
sinh họp, dùng sổ liên lạc, gởi thư, nói chuyện qua điện thoại hoặc đến trao đổi
tại gia đình học sinh. Cha mẹ học sinh cũng cần chủ động đến gặp giáo viên
chủ nhiệm để nắm bắt về tình hình học tập rèn luyện của con mình và nắm
vững những yêu cầu giáo dục của nhà trường đối v
ới học sinh để quản lý, giáo
dục con em được tốt.

1.2.5.2. Quản lý việc GVCN tổ chức phối hợp với CMHS
Trong công tác phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh, vai trò
của giáo viên chủ nhiệm giữ vị trí rất quan trọng vì họ chính là mối dây liên kết
giữa giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình. Giáo viên chủ nhiệm là người
thay mặt hiệu trưởng chịu trách nhiệm phối hợp với cha mẹ học sinh và các tổ
chức trong nhà trường để giáo dụ
c toàn diện học sinh trong lớp mình chủ
nhiệm. Một số công việc giáo viên chủ nhiệm phải thực hiện phối hợp với cha
mẹ học sinh như:
- Thiết lập sự liên lạc thường xuyên với cha mẹ học sinh để thông báo về
tình hình và kết quả học tập, rèn luyện của con em họ, đồng thời cũng yêu cầu
cha mẹ học sinh cho ý kiến về tình hình học tập, tu dưỡng củ
a con em và
những đề nghị để hoàn thiện sự phối hợp giáo dục.
- Tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý, điều kiện học tập, rèn luyện của học
sinh và mức độ quan tâm đầu tư của cha mẹ đối với việc giáo dục các em. Việc
nắm rõ đặc điểm gia đình học sinh sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm thực hiện hai
mục đích: trước hế
t để phối hợp với cha mẹ học sinh giáo dục các em, mặt


1.2.5.3. Quản lý việc cha mẹ hướng dẫn con học tập và rèn luyện ở nhà

Việc cha mẹ hướng dẫn con cái học tập và rèn luyện ở nhà rất quan
trọng, có tác động lớn đến kết quả giáo dục các em. Điều này tùy thuộc vào thái

23
độ và cách thức hướng dẫn của cha mẹ, do đó cha mẹ cần có những hiểu biết
nhất định về khoa học giáo dục. Nhà trường có trách nhiệm phải giúp đỡ các
cha mẹ học sinh trong công việc này. Một số vấn đề mà nhà trường cần yêu cầu
cha mẹ quan tâm trong việc giáo dục con:
- Quản lý chặt chẽ thời gian của con và hướng dẫn con học tập, lao động,
vui chơi, giải trí hợp lý.
- Hướ
ng dẫn con chủ động, tự giác học tập và rèn luyện; thường xuyên
động viên, khuyến khích con học tập, thực hiện tốt các yêu cầu của thầy cô và
tích cực tham gia các hoạt động ở trường.
- Không áp đặt ý muốn chủ quan của mình vào việc học tập và rèn luyện
của con mà phải theo những cơ sở khoa học, không bao biện làm thay cho con
những nhiệm vụ mà chúng phải tự thực hiện.
- Tạo điề
u kiện tốt về vật chất và tinh thần cho việc học tập và rèn luyện
của con như tạo góc học tập yên tĩnh, tôn trọng giờ học tập, chăm lo đến sức
khỏe của con, mua sắm đầy đủ dụng cụ học tập cho con.
- Xây dựng lối sống lành mạnh trong gia đình, sinh hoạt gia đình có văn
hoá, văn minh để tạo môi trường giáo dục tốt đẹp, luôn làm gương cho con em
về mọi mặt.

1.2.5.4. Quản lý việc CMHS thực hiện phối hợp với nhà trường



hoạch hoá các hoạt động để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất giữa nhà
trường và gia đình nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục. Đây là nhiệm
vụ của hiệu trưởng, người chịu trách nhiệm cao nhất mọi hoạt động ở nhà
trường. Hiệu trưởng có nhiệm vụ thực hiện các công việc như sau trong công
tác quản lý sự phối hợp với cha mẹ học sinh:

• Xây dựng kế hoạch công tác phối hợp với CMHS
- Công tác phối hợp với cha mẹ học sinh phải được xây dựng thành kế
hoạch cụ thể từng năm học, với mục tiêu là nhà trường và cha mẹ học sinh phải

Trích đoạn Thực trạng việc CMHS quản lý, hướng dẫn con học tập Thực trạng quản lý việc CMHS phối hợp với nhà trường Nhận xét về các lực lượng giáo dục trong sự quan hệ phối hợp giữa nhà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status