Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo lớn ở các trường mầm non trong thành phố Cà Mau - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------

Lê Thị Diệu
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS. ĐINH THỊ TỨ


các bạn đồng nghiệp để luận văn này hoàn thiện hơn.

Cà Mau, tháng 08 năm
2008
Lê Thị Diệu
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT CBQL : Cán bộ quản lý
BGH : Ban giám hiệu
GV : Giáo viên
MN : Mầm non
GD : Giáo dục
ĐT : Đào tạo
GVMN : Giáo viên mầm non
GDMN : Giáo dục mầm non
MG : Mẫu giáo
HĐVC : Hoạt động vui chơi
ĐVTCĐ : Đóng vai theo chủ đề
TP : Thành phố
MĐTH : Mức độ thực hiện
KQTH : Kết quả thực hiện
TB : Trung bình
XH : Xếp hạng

MỞ ĐẦU


triển tư duy, tưởng tượng, lòng ham hiểu biết là hết sức qua
n trọng đối với trẻ. Việc

phát triển trí tuệ và lòng ham hiểu biết cũng như mọi chức năng tâm lý khác chỉ có
thể diễn ra một cách tốt đẹp trong HĐVC. Vì HĐVC là hoạt động chủ đạo của lứa
tuổi. Kết quả của việc tổ chức HĐVC không chỉ phụ thuộc vào năng lực của GV mà
còn phụ thuộc nhiều vào cách quản lý của BGH ở trường MN.
Hiện nay, các trường MN ở TP Cà Mau đang thực hiện chương trình đổi mới
theo hình thức hoạt động theo chủ đề, chủ điểm v
à đang thực hiện thí điểm chương
trình đổi mới về nội dung lẫn hình thức tổ chức hoạt động chăm sóc GD trẻ.Việc
quản lý HĐVC cho trẻ MG nói chung, MG lớn nói riêng còn nhiều bất cập, chưa
đáp ứng được chương trình đổi mới chăm sóc GD trẻ như đã
nêu ở trên. Cụ thể là
cách quản lý còn áp đặt chưa phát huy tính năng động, sáng tạo của GV trong việc
tổ chức HĐVC cho trẻ MG hoặc thả lỏng chưa quan tâm đến việc chỉ đạo, hướng
dẫn việc tổ chức HĐVC cho GV dạy MG. Nguyên nhân là năng lực chuyên môn và
năng lực quản lý còn hạn chế.
Từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp
quản l
ý hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo lớn ở các trường mầm non trong
thành phố Cà Mau” nhằm giúp các nhà quản lý thấy rõ thực trạng về công tác
quản lý HĐVC của BGH ở các trường MN trong TP Cà Mau và đề xuất một số giải
pháp cơ bản góp phần nâng cao công tác quản lý HĐVC cho trẻ MG nói chung và
MG lớn nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn đề xuất một số giải phá
p quản lý nhằm
nâng cao hiệu quả về việc quản lý HĐVC cho trẻ MG lớn ở các trường MN công
lập trên địa bàn TP Cà Mau.

ên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập tài liệu, đọc sách có liên quan đến công tác tổ chức HĐVC cho trẻ
MG, nghiên cứu phân tích tổng hợp các loại tài liệu liên quan đến đề tài nhằm hệ
thống hoá cơ sở lý luận để nghiên cứu làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
-Phương pháp quan sát: Quan sát tất cả các HĐVC của trẻ MG
lớn để
nhằm nắm được các biện pháp tổ chức HĐVC của GV dạy lớp MG lớn và nắm
được cách chỉ đạo quản lý của BGH ở trường MN công lập trong công tác này.

-Phương pháp trò chuyện: Trò chuyện với GV và CBQL để nhằm thu thập
thông tin về quản lý HĐVC cho trẻ MG lớn của BGH ở các trường MN công lập
trong TP Cà Mau.
-Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến: Xây dựng các phiếu
trưng cầu ý kiến cho tất cả CBQL và GV nhằm thu thập thông tin về quản lý HĐVC
cho trẻ MG lớn của BGH các trường MN công lập trong TP Cà Mau.
-Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của các chuyê
n gia về sự cần thiết và
tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất nhằm nâng cao công tác quản lý HĐVC
cho trẻ MG lớn.
-Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng công thức toán thống kê để tính
tương quan thứ hạng giữa ý kiến đánh giá của GV và BGH; tính tương quan thứ
hạng về MĐTH và KQTH của các biện pháp quản lý nhằm tìm độ tin cậy của các ý
kiến.
8. Những đóng góp của đề tài
-Hệ thống hoá được những lý luận về quản lý HĐVC cho trẻ MG
lớn của
BGH.
-Đề xuất một số giải pháp về quản lý HĐVC cho trẻ MG lớn nhằm góp phần

phương pháp khác nhau” và “GV phải nắm được tình hình vui chơi của trẻ trong
lớp và các phương pháp hướng dẫn để phát triển trò chơi cho trẻ” [21] .
Trong cuốn “tổ chức, hướng dẫn trẻ MG chơi” PGS. PTS Nguyễn Thị Ánh
Tuyết cùng hai tác giả Nguyễn Thị Ho
à, Đinh Thị Vang cũng đã nói rất nhiều về
tầm quan trọng của việc tổ chức HĐVC cho trẻ“Tổ chức chơi cho trẻ là tổ chức
cuộc sống của trẻ” [37, II, tr.7-8-9].
Tài liệu bồi dưỡng “CBQL và GVMN 2006” Bộ giáo dục cũng đã đề cập
“Vui chơi là hoạt động chủ đạo, có tác dụng GD và phát triển trẻ toàn diện. GV
cần hiểu rõ tầm quan trọng và cách thức tiến hành, đánh gi
á HĐVC theo những yêu
cầu mới trong chương trình GDMN” [6].
1.1.2. Những công trình nghiên cứu của nước ngoài
Vào thời Khổng Tử, ông đã có phương pháp giáo dục, học là phải luyện tập
thường xuyên thì mới giúp con người có những nét tính cách riêng “học mà cứ

thường thường tập luyện thì trong bụng lại không thoả thích hay sao?” Và học phải
đi đôi với luyện tập để trở thành thói quen, hình thành những nét tính cách ngay từ
lúc nhỏ “tập được từ lúc nhỏ như thiên tính, thói quen như tự nhiên”.Với phương
pháp này ông muốn những nhà GD phải thường xuyên tổ chức luyện tập cho trẻ
trong quá trình GD con người [30, tr.23].
Vương Phùng Chi lại rất chú trọng đến vai trò tổ chức các hoạt động tích cực
cho người học trong việc giảng dạy “Giảng dạy cần c
hú ý đến mặt “động” hơn là
mặt “tĩnh”. Không “động” thì không phát triển được” [30, tr.28].
Ph.Ph.Lexgháp ông đánh giá cao vai trò hướng dẫn, gợi ý của người lớn
trong việc tổ chức vui chơi cho trẻ hơn là áp đặt trẻ chơi theo ý mình “người lớn
hãy tạo điều kiện cho trẻ chơi, luôn luôn khuyến khích tính tự lập và óc sáng tạo
của trẻ trong lúc chơi” [1].
Trong

công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [
19].
Quan niệm của nhà lý luận quản lý kinh tế người pháp H. Fayon đã nêu
“Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và
kiểm tra” [19].
Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ ở tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu trong quản
lý” (1987) “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý
một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc
trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”.
Tác
giả Mạc Văn Trang “ Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ
chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình
trạng của đối tượng và môi trường; nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được
ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định”.

Theo Phan Văn Kha “ Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo
và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống, đơn vị và việc sử dụng
các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định”.
Còn TS. Nguyễn Thị Liên Diệp thì cho rằng “Quản trị là một phương pháp
làm cho những hoạt động được hoàn thành với một hiệu suất c
ao, bằng và thông

qua những người khác. Phương thức này bao gồm những chức năng hay hoạt động
cơ bản mà nhà quản lý có thể sử dụng. Đó là hoạch định, tổ chức, điều khiển và
kiểm soát” [18].
Trong từ điển Tiếng Việt lại định nghĩa “Quản lý là trông nom, xếp đặt công
việc trong cơ quan, xí nghiệp” [34, tr.827].
Từ những cách tiếp cận khác nhau của các tác giả ta có thể thấy các tác giả
qua
n điểm thống nhất với nhau: Quản lý là sự tác động liên tục, phải dự đoán, có

đưa ra các mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu để khách thể quản lý thực hiện. Phương
pháp này được biểu hiện qua văn bản, thông báo, chỉ thị…
Khi vận dụng phương pháp này nhà quản lý phải nắm vững chỉ thị, pháp
quy, nhận thức được quyền hạn, trách nhiệm của mình theo luật định khi đưa ra văn
bản. Đây
là phương pháp rất cần thiết trong công tác quản lý.
+Nhóm phương pháp kinh tế
Là cách thức tác động gián tiếp lên đối tượng quản lý bằng sự kích thích lợi
ích vật chất để tạo ra động lực thúc đẩy con người hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ
cho lợi ích cá nhân và tập thể. Nó có một số đặc trưng sau:
-Hình thức của nó là thông qua các cơ chế kinh tế để tác động vào đối tượng
quản lý như lương, thưởng, phạt, chế độ ưu đãi với người có thành tích cao. Nó tác
động trực tiếp lên khách thể quản lý nhằm tạo ra động lực, kích thích đối tượng
quản lý hoạt động c
ó hiệu quả cao. Vì vậy, cần đảm bảo tính công bằng trong phân
phối, quan tâm đến quan hệ nội bộ, môi trường tâm lý xã hội bên trong và bên
ngoài.
+Nhóm phương pháp tâm lý – xã hội
Là biện pháp, cách thức tạo ra những tác động và
o đối tượng bị quản lý bằng
các biện pháp lôgic và tâm lý xã hội nhằm biến những yêu cầu do người lãnh đạo
quản lý đề ra thành nghĩa vụ tự giác, động cơ bên trong và những nhu cầu của người
thực hiện. Là phương pháp chủ thể quản lý vận dụng các qui luật tâm lý xã hội để
tạo nên môi trường tích cực, lành mạnh bên trong tổ chức, có tác động tốt tới mối
quan hệ và hành động của tổ chức. Với phương phá
p này sẽ nâng cao được đạo đức
nghề nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tạo tiền đề nâng cao chất
lượng giảng dạy. Đồng thời bầu không khí làm việc ngày càng được cải thiện, mọi
thành viên đoàn kết, gắn bó thực sự tin yêu lẫn nhau, mọi người gắn bó với tập thể,
yên tâm công tác.


Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
Môi trường Lập kế hoạch Tổ chức
Kiểm tra Lãnh đạo

Trong bốn chức năng trên thì chức năng tổ chức là qua
n trọng nhất. Tuy
nhiên bốn chức năng này có liên quan mật thiết với nhau.
*Chức năng lập kế hoạch: Đây là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất
trong chu trình quản lý, kế hoạch hoá là tổ chức công việc theo kế hoạch, đưa mọi
hoạt động GD và
o công tác kế hoạch có mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác
định các điều kiện, nguồn lực để thực hiện mục tiêu trong thời gian nhất định của hệ
thống quản lý.
*Chức năng tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc một cách
khoa học, hợp lý cho các bộ phận, các thành viên để mọi người có thể hoạt động
một các hào hứng, nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu đang xây dựng, duy trì cơ cấu
nhất định về vai trò, nhiệm vụ, vị trí công tác. Trong chu trình quản lý thì tổ chức là
giai đoạn đưa và
o thực hiện những ý tưởng đã được kế hoạch hoá để từng bước đưa
nhà trường tiến đến mục tiêu.

và ĐT
của nhân dân, thực hiện mục tiêu GD và ĐT của nhà nước. Nói cách khác GD và
quản lý GD tồn tại song hành. GD nhằm thực hiện truyền những kinh nghiệm lịch
sử - xã hội của loài người cho đời sau kế thừa và phát triển. GD là một hiện tượng
xã hội, do đó quản lý GD xuất phát từ quản lý xã hội là một tất yếu khách quan. Có
những khái niệm khác nhau về quản lý GD nhưng cơ bản đều thống nhất về nội
dung, bản chất…
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý GD là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm là
m cho sự vận
hành theo đường lối GD của Đảng thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN

mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- GD thế hệ trẻ, đưa GD tới mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [31, tr.35].
Tác giả Hà Sĩ Hồ “Quản lý GD là quá trình tổ chức và điều khiển sự vận
hành của ba loại yếu tố (hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tập thể con người
và các điều kiện vật chất cụ thể) với các quan hệ, tác động qua lại trong quá trình
GD thống nhất”[25].
Trong
cuốn “Tổng quan về lý luận quản lý GD” lại viết “Quản lý GD được
định nghĩa là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm
đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt tới kết quả mong muốn bằng cách
hiệu quả nhất”.
TS.
Nguyễn Gia Quý cho rằng “Quản lý GD là sự tác động có ý thức của
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động GD tới mục tiêu đã định
trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những qui luật khách quan của hệ thống
giáo dục quốc dân” [32].
Theo từ điển giáo dục học “Quản lý GD (nghĩa hẹp) chủ yếu là quản lý GD
thế hệ trẻ, GD

đích, có kế hoạch
của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ GV để thực hiện được mục
tiêu chăm sóc GD trẻ. Nói cách khác: Quản lý GDMN là sự tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đẩy mạnh, phát triển
công tác chăm sóc GD trẻ và đạt được mục tiêu của bậc học MN.
1.2.
4. Khái niệm về quản lý trường mầm non
Trường MN là đơn vị cơ sở của bậc GDMN, là khách thể quan trọng của tất
cả các cấp quản lý GDMN. Quản lý trường MN là khâu cơ bản của hệ thống quản lý
ngành học. Đó là quá trình có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (hiệu
trưởng) đến tập thể cán bộ GV để chính họ tác động trực tiếp đến quá
trình chăm
sóc GD trẻ nhằm thực hiện mục tiêu GD đối với từng độ tuổi [13].
Điều 18, chương 2 (Điều lệ trường MN) qui định rõ: “Hiệu trưởng là người
chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của trường, do Chủ tịch uỷ ban nhân dân
cấp quận, huyện bổ nhiệm đối với trường công lập, bán công hoặc công nhận đối
với trường dân lập, tư thục theo đề nghị của Trưởng phòng GD – ĐT”.
Quản lý trườn
g MN là tập hợp những tác động tối ưu của hiệu trưởng đến tập
thể cán bộ GV để chính họ lại tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc GD trẻ
nhằm thực hiện mục tiêu yêu cầu ĐT [12, tr.62].

Vậy ta có thể hiểu quản lý trường MN là tập hợp những tác động tối ưu của
chủ thể quản lý (hiệu trưởng), đến tập thể cán bộ GV nhằm tận dụng các nguồn do
nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có,
hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà tiêu điểm hội tụ là quá
trình chăm sóc GD trẻ. Thực hiện mục tiêu kế hoạch đào tạo, đưa
nhà trường tiến
lên trạng thái mới. Có thể hiểu ngắn gọn: Quản lý trường MN là tập hợp những tác
động tối ưu, có mục đích của hiệu trưởng đến tập thể cán bộ GV để chính họ lại tác

nhau để thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt các mục tiêu quản lý đã xác
định.
Bộ máy
quản lý trường MN gồm có: Ban giám hiệu nhà trường, tổ chức
Đảng và các đoàn thể, hội đồng sư phạm, tổ chuyên môn, các tổ chức khác [12,
tr.64].
*Ban giám hiệu:
-Trường có quy mô từ 100 đến 200 cháu. BGH gồm có một hiệu trưởng và
một hiệu phó.
-Trường có quy mô từ 200 cháu trở lên. BGH gồm một hiệu trưởng và hai
hiệu phó. Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chung và trực tiếp phụ trách các mặt công
tác: Kế hoạch, tổ chức, thi đua. H
iệu phó là người giúp việc cho hiệu trưởng điều
hành công việc và chịu trách nhiệm về phần công việc được hiệu trưởng phân công.
Một hiệu phó phụ trách cơ sở vật chất và chăm sóc nuôi dưỡng xuyên suốt từ nhà
trẻ đến MG. Một hiệu phó phụ trách công tác GD trẻ xuyên suốt từ nhà trẻ đến MG.
Hiệu trưởng và hiệu phó trường MN phải là người có năng lực quản lý, đư
ợc
lựa chọn trong số GV có tín nhiệm về chính trị, đạo đức chuyên môn, có thời gian
dạy học ít nhất là 3 năm.
Hiệu trưởng, hiệu phó trường MN do uỷ ban nhân huyện (hoặc cấp tương
đương) bổ nhiệm theo đề nghị của phòng GD và ĐT huyện sau khi được uỷ ban
nhân dân xã hoặc cơ quan xí nghiệp giới thiệu.
*Tổ chức Đảng và các đoàn thể:
-Chi bộ Đảng hoặc tổ Đảng trong trường MN trực tiếp lãnh đạo nhà trường
theo qui định của Đảng.
-Đoà
n thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh được tổ chức và hoạt động theo
điều lệ của đoàn.


*Các tổ chức khác:
Hiệu trưởng còn thành lập một số tổ chức khác để giúp mình thực hiện tốt
các mặt công tác như: Ban thi đua khen thưởng, hội đồng kỷ luật, ban bảo trợ nhà
trường (ban phụ huynh).

*Mục tiêu đào tạo của trường mầm non: Là hình thành cho trẻ những cơ sở
đầu tiên của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
-Trẻ khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hoà cân đối.
-Giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhịn những người gần gũi (bố mẹ,
bạn bè, cô giáo…) thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên.
-Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung
qua
nh.
-Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹ năng sơ
đẳng (quan sát, so sánh phân tích, tổng hợp, suy luận…) cần thiết để vào trường phổ
thông.
Để đạt được mục tiêu trên thì cần thực hiện tốt chương trình chăm sóc GD
trẻ, trong đó có việc tổ chức HĐVC cho trẻ; nên việc quản lý HĐVC là một công
việc rất quan trọng của BGH ở trường MN. Việc quản lý tổ chức HĐVC nằm
trong
hoạt động của hội đồng sư phạm. Đó là hoạt động của Ban giám hiệu nhà trường, cụ
thể là của phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn chịu sự phân công, chỉ đạo của
hiệu trưởng.
1.3. Lý luận về quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo lớn
1.3.1.Khái niệm về hoạt động vui chơi
Vui chơi là hoạt động cần thiết cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, nhưng đối với
trẻ thơ thì chơi chính là cuộc sống thực của chúng. Không vui chơi đứa trẻ chỉ tồn
tại chứ không phải là sống. Đặc biệt ở tuổi MG, vui
chơi là hoạt động chủ đạo đối
với sự phát triển của trẻ. Nhiều trò chơi xuất hiện ở lứa tuổi này, như trò chơi

gợi ý trẻ tự nhận nhóm chơi, tự phân vai chơi…GV cần phải tổ chức HĐVC cho trẻ
mang tính chất tự nguyện vì vui chơi càng mang tính chất tự nguyện bao nhiêu thì
càng phát huy ở trẻ tính tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo bấy nhiê
u.
Trò chơi ĐVTCĐ, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các thành viên với nhau
trong khi chơi. Trò chơi đối với trẻ MG lớn thường là phản ánh về cuộc sống của
người lớn xung quanh trong xã hội. Bởi vậy, để tiến hành một trò chơi nhằm mô
phỏng đời sống trong xã hội, thì nhất thiết phải c
ó nhiều trẻ tham gia, cùng hoạt
động với nhau, cho nên GV phải hướng dẫn kỹ năng chơi cho trẻ, giúp trẻ phối hợp,
chơi liên ý với nhau trong quá trình vui chơi. Qua đó, đời sống tâm lý của trẻ được
phát triển.
Trò chơi của trẻ mang tính chất ký hiệu tượng trưng. Trong khi chơi, trẻ tự
nhận một vai chơi nào đó và thực hiện những hành động phù hợp với vai chơi đó,

nhưng đó chỉ là những hành động giả vờ. Chẳng hạn như: Đóng vai bác sĩ thì trẻ
dùng “ống nghe” “khám bệnh”. Trong vui chơi trẻ cũng thường sử dụng những đồ
vật thay thế như: Dùng giấy làm tiền, dùng bàn làm quầy bán hàng…Vì vậy, GV
phải hướng dẫn trẻ dùng vật tượng trưng để phát triển tư tuy và tưởng tượng cho trẻ.
1.3.3. Vai trò của HĐVC đối với sự phát triển tâm lý của trẻ MG lớn
Những phẩm chất tâm lý và những đặc điểm
nhân cách của trẻ MG lớn được
phát triển mạnh mẽ nhất trong HĐVC.
-HĐVC đối với sự phát triển thể chất của trẻ: Thông qua vui chơi thể chất
của trẻ được phát triển như: Khi vui chơi trẻ phải vận động giúp trẻ phát triển thể
lực; khi vui chơi cử động của các cơ bàn tay và ngón tay đư
ợc phát triển tạo điều
kiện cho trẻ vẽ, viết…
-HĐVC đối với sự phát triển trí tuệ: HĐVC ảnh hưởng mạnh đến sự hình
thành tính chu định của quá trình tâm lý như: Tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng

-HĐVC phát triển mạnh mẽ những phẩm chất ý chí: Qua chơi trẻ được hình
thành những phẩm chất ý chí như: Tính mục đích, tính kỷ luật, tính dũng cảm.
Những đức
tính này do nội dung trò chơi qui định. Cho nên, trẻ biết kiềm chế những
hành vi của mình để thực hiện vai đúng với nội dung của trò chơi.
Trò chơi là phương tiện góp phần phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, qua
việc phát triển các chức năng tâm lí và phát triển các mặt của nhân cách: Trí tuệ, thể
chất, đạo đức, thẫm mỹ. Trò chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ MG vì nó tạo ra
những nét t
âm lý đặc trưng cho tuổi MG, đặc biệt là MG lớn, nổi bật là tính hình
tượng và tính dễ xúc cảm, khiến cho nhân cách của trẻ MG mang tính độc đáo khó
tìm thấy ở lứa tuổi khác.
1.3.4. Phân loại trò chơi trong HĐVC của trẻ MG lớn
Trò chơi của trẻ MG rất đa dạng và phong phú về nội dung, tính chất cũng
như cách thức tổ chức chơi. Do đó, việc phân loại trò chơi một cách chính xác chưa
đạt đư
ợc.
Ở nước ta, trong những năm 60, trò chơi của trẻ MG được phân thành hai
nhóm.
Nhóm 1: Trò chơi phản ánh sinh hoạt.
Nhóm 2: Trò chơi vận động.

Trong những năm 70, sự phân loại trò chơi của trẻ MG chưa được thống
nhất. Các nhà GD được học và tiếp cận với quan điểm phân loại của nước nào thì
đứng về quan điểm phân loại của nước đó.
Từ những năm 80 trở lại đây, trong các trường MN ở nước ta vận dụng cách
phân loại trò chơi theo quan điểm của Liên Xô (củ). Theo quan điểm này, trò chơi
của trẻ MG đư
ợc phân thành hai nhóm chính.
-Nhóm 1: Nhóm trò chơi sáng tạo bao gồm các trò chơi sau: Trò chơi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status