THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THPT Ở HUYỆN THUỘC TP. CẦN THƠ HIỆN NAY - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Ngô Lam Thuần THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG
NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN CỦA
HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THPT Ở HUYỆN
THUỘC TP. CẦN THƠ HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC



Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐỒN VĂN ĐIỀU Thành phố Hồ Chí Minh - 2009 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu chung của GD – ĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi
dưỡng nhân tài cho đất nước. Để đáp ứng yêu cầu biến đổi to lớn không ngừng xảy
ra trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá và XH. Hơn bao giờ hết,
trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay, với vai trò là người đào tạo con người mới,
đào tạo nhân lực cho đất nước, lực lượng chủ đạo trong sự nghiệp phát triển Văn


tính chủ động và khuyến khích sự sáng tạo của HS”.
Thành phố Cần Thơ được xem là trung tâm Kinh tế - Văn hoá của ĐBSCL,
theo kế hoạch, phấn đấu đến năm 2010 trở thành thành phố loại I trực thuộc Trung
ương và đến năm 2020 cơ bản trở thành thành phố công nghiệp. Hiện tại, TP. Cần
Thơ còn một vài huyện vùng ven, sâu đang còn rất nhiều khó khăn trong việc phát
triển chất lượng GD. Nổi bậc trong đó là khó khăn về nâng cao tr
ình độ NVSP cho
GV. Yêu cầu cải thiện vấn đề này không chỉ là nhiệm vụ trọng tâm của ngành GD
Cần Thơ mà còn là nhu cầu của từng GV để làm tốt nhiệm vụ. Vì vậy, quan tâm
nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động trên đang là yêu cầu bức xúc của
thực tiễn địa phương.
Công tác quản lý vấn đề trên của Hiệu trưởng trường THPT lâu nay đã được
quan tâm nghiên cứu. Tuy vậy,
việc nghiên cứu chỉ ở mức độ ít, còn mới mẻ so với
địa bàn vùng huyện ở Cần Thơ. Mặt khác, XH luôn có những yêu cầu mới đối với
GD nói chung và GV nói riêng nên việc nghiên cứu này vẫn còn tính thời sự. Từ
những lý do nêu trên, đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho
GV của Hiệu trưởng các trường THPT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện nay” được
thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho
GV của Hiệu trưởng t
rường THPT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện nay, đề ra biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động trên.
3. Khách thể - đối tượng
-
Đối tượng: Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV
của Hiệu trưởng các trường THPT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện nay.
-

ý
hoạt động bồi dưỡng NVSP của Hiệu trưởng các trường THPT thuộc địa bàn nghiên
cứu.
6.2.
2. Phương pháp toán thống kê
Dùng để xử lý các kết quả nghiên cứu thu thập từ các phương pháp trên.
7. Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP
cho GV của Hiệu trưởng các trường THPT ở 02 huyện Vĩnh Thạnh và Thốt Nốt của
TP. Cần Thơ hiện na
y, cụ thể là: Trường THPT Thạnh An, Trường THPT Bán công
Thạnh An, Trường THPT Thốt Nốt, Trường THPT Bán công Thốt Nốt và Trường
THPT Trung An.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Một số tài liệu liên quan đến quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho
GV THPT trong nước
1.1.1.1. Sơ lược hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV trong nước
Từ năm 1993, Bộ GD - ĐT tổ chức các chương trình BDTX theo chu kỳ 3
năm cho GV THPT. Bộ GD - ĐT đã tổ chức được 3 chu kỳ, bắt đầu là chu kỳ
BDTX 1993 - 1996; chu kỳ BDTX 1997 - 2000 và chu kỳ BDTX 2001- 2004.
Tháng 5/2006 Bộ GD - ĐT đã sớm
xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GV dạy

gặp không ít khó khăn. Bến Tre đang xâ
y dựng kế hoạch đào tạo sau đại học cho
cán bộ, GV. Củng cố toàn diện các trường THPT, nâng chất đội ngũ GV gắn với cải
cách GD theo hướng hiện đại. An Giang đào tạo theo hướng: GV phải có bản lĩnh tu
dưỡng để tự “chấn chỉnh” bản thân [11].
1.1.1.2. Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý hoạt động
bồi dưỡng
NVSP cho GV
Từ năm 1975 đề tài này chưa được quan tâm nghiên cứu có hệ thống. Rãi rác
có một vài nghiên cứu khoa học và một số bài viết liên quan đến công tác bồi dưỡng
GV:
Năm 1996, đề tài khoa học cấp Nhà nước “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ
nhân lực trong điều kiện mới” có đề cập đến vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội
ngũ nhân lực, trong đó có bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ GV.
Năm
1997, tác giả Nguyễn Trí, Vụ GV - Bộ GD - ĐT có đề cập đến vấn đề
tự học trong đào tạo, bồi dưỡng GV.
Năm 1999, Phạm Quang Huân có bài viết: “Nâng cao chất lượng tổ chức
hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV trường phổ thông” Tạp chí Phát triển Giáo
dục số 1.
Năm
2001, Nguyễn Thị Tươi, trường ĐHSP Qui Nhơn với bài viết “Về công
tác bồi dưỡng thường xuyên cho GV THPT”.
Năm 2002, trong Tạp Chí GD, tháng 11/2002, Trần Bá Hoành đã đề cập đến
vấn đề bồi dưỡng GV trong bài “Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng từ xa”
Trong những năm gần đây thì có thể kể đến:
Đề tài Khoa học Công nghệ do Trung tâm nghiên cứu đào tạo bồi dưỡng GV
(Viện Khoa học GD Việt Nam) thực hiện tr
ong ba năm đã tiến hành khảo sát thực


quản lý chuyên môn [29, tr. 15-16].
Trong chuyên đề báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện quyết định số 09/2005/QĐ
– TTg ngày 11/01/2005 của chính phủ về “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và
CBQL GD giai đoạn 2005 – 2010” của Sở GD – ĐT TP. Cần Thơ vào
tháng 02/ 2008. Trong phần giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đào
tạo, bồi dưỡng GV, CBQL GD, có đề xuất: việc xây dựng quy hoạch, hoàn thiện

mạng lưới, xác định rõ quy mô, nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo cần gắn với hoạt
động bồi dưỡng GV ở các cấp học, bậc học [12, tr. 35].
Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý GD của Võ Hoàng
Chương với đề tài: “Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
NVSP GV THCS huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai” đã đề xuất các giải pháp: công
tác bồi dưỡng G
V cần tiến hành một cách có hệ thống, bắt đầu từ đội ngũ GV hiện
có và bằng chính đội ngũ này làm cho nó tự thân vận động theo mục tiêu đã định
với sự hỗ trợ bằng một hệ thống biện pháp đồng bộ từ việc triển khai có hiệu quả
chương trình BDTX, chỉ đạo hiệu quả việc thực hiện đổi mới phương pháp, tự bồi
dưỡng, tổng kết đưa vào ứng dụng thực tiễn các sáng kiến kinh nghiệm. Gắn việc
bồi dưỡng với phong trào thi GV giỏi các cấp. Đẩy mạnh công tác thanh tra GV.
Chứng nhận lại trình độ nghề nghiệp và nâ
ng chuẩn GV. Có kế hoạch cụ thể sử
dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ việc dạy. Đồng thời với những
biện pháp trên là sự đổi mới thực sự công tác quản l
ý về chế độ, chính sách đãi ngộ
GV trong tham gia bồi dưỡng, tự bồi dưỡng [18].
Dự án phát triển GV THPT và TCCN đã tiến hành đề tài “Một số kết quả về

Từ bồi dưỡng tập trung chuyển sang đào tạo – bồi dưỡng dựa vào nhà
trường. Trước đây, chương trình đào tạo để phát triển nghề nghiệp GV đương
nhiệm thường đư
ợc tổ chức tập trung ở một thành phố. Các chương trình này
thường có chi phí cao, thời gian tập huấn ngắn, không được đánh giá, kiểm tra liên
tục và GV phải nghỉ dạy để tham gia. Để giải quyết những vấn đề trên, Bộ GD Thái
Lan đã đưa ra một chương trình mới, có hiệu quả và thích hợp để đào tạo và bồi
dưỡng GV đương nhiệm, được tiến hành ngay tại các cơ sở GD, gọi là đào tạo dựa
vào nhà trường (school
– based training).
Theo chương trình này, 4 dự án thí điểm đã được tiến hành, đó là: Dự án GV
Quốc gia; Dự án GV chủ chốt; Dự án nghiên cứu và triển khai các mẫu hình đào tạo
dựa vào nhà trường và Dự án hỗ trợ đào tạo dựa vào nhà trường. Các kết quả nghiên
cứu đã chứng minh rằng mô hình đào tạo này rất hiệu quả đối với GV nói riêng
cũng như đối với ngành sư phạm
nói chung, nó góp phần tạo nên những thành công
cho công cuộc cải cách học tập ở Thái Lan.
- Dự án GV chủ chốt :
Nhằm chọn lựa những GV có thể áp dụng thành công quan điểm lấy người
học làm trung tâm làm GV chủ chốt. Mỗi GV được trợ cấp 25.000 bạt để xây dựng
những mạng lưới (10 GV/ mạng lưới) trong 4 tháng để áp dụng các phương pháp
theo quan điểm lấy người học làm
trung tâm.
- Dự án GV Quốc gia (national teachers):

Nhằm chọn lựa được những GV có thể tiến hành nghiên cứu và triển khai
quá trình đổi mới dạy – học. Mỗi người được cấp 220.000 bạt người/năm để nghiên

tạo số hóa thông tin, dữ liệu; bồi dưỡng chung;

bồi dưỡng NVSP…Những người thiết kế chương trình này sẽ quyết định nội dung
và thời gian cho mỗi khóa bồi dưỡng.
Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho GV thường chú ý đến kiến thức cập
nhật, kiến thức mới cũng như phương pháp giảng dạy của thời đại toàn cầu hóa.
Chương trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho GV được tiến hành một cách đều
đặn thông qua nhiều hình t
hức đào tạo khác nhau, GV có thể lựa chọn các trường
mà mình đến học, lựa chọn khóa đào tạo phù hợp với thời gian biểu của mình.
Ngoài ra, họ còn có thể theo học các khóa đào tạo từ xa hoặc các khóa học đặc biệt
do các viện khoa học tổ chức. Các chứng chỉ được cấp sau các khóa đào tạo đều
được sử dụng để xem xét trong quá trình thăng chức, lên lương, cũng như tiền
thưởng [21, tr. 60-61].
 Ph
áp
Trong tài liệu “Những đổi mới gần đây trong đào tạo, bồi dưỡng sử dụng
giáo viên trung học ở một số nước”, tạp chí TTKHGD số 76 tác giả Trần Bá Hoành
có nêu 49 nguyên tắc mới cho GD của Bộ GD quốc gia Pháp có đề cập vấn đề công
tác đào tạo bồi dưỡng thường xuyên GV: Mỗi GV được hưởng ít nhất 35 giờ cho
công tác đào tạo tiếp tục hàng năm, thực hiện ngoài giờ trực và giờ lên lớp. Tăng
cường làm
việc theo nhóm GV để chia sẻ và học hỏi lẫn nhau. Thời gian làm việc
của GV đảm bảo chuyển từ 18 xuống 15 giờ và đối với các thạc sĩ giảm từ 15 xuống
còn 14 giờ. Nhưng họ phải đảm bảo 4 giờ có mặt và hoạt động sư phạm trong nhà
trường (đối với thạc sĩ là 3 giờ) tức là 132 giờ một năm. GV chỉ có 15 giờ lên
lớp/tuần (15 giờ giảng dạy tương ứng với những giờ có mặt trước học sinh, kể cả

khẩu (tháng 11 năm 2007). Mật độ 397 người/km
2
.
Vị trí địa lý - đặc điểm kinh tế
Cách trung tâm thành phố gần 80 km
về phía tây, Vĩnh Thạnh được coi là
huyện "vùng sâu, vùng xa" của thành phố Cần Thơ. Khi được tách ra từ huyện Thốt
Nốt vào đầu năm 2004, huyện vẫn còn 05 xã không có đường ôtô, 04 xã không có
chợ, 03 xã không có trụ sở làm việc. Nằm ở vùng trũng của tứ giác Long Xuyên,
huyện Vĩnh Thạnh thường xuyên chịu cảnh lụt lội nên kết cấu hạ tầng ngày một
xuống cấp. Kinh tế Vĩnh Thạnh c
hủ yếu dựa vào nông nghiệp theo hướng độc canh
cây lúa, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ mới chỉ ở dạng
sơ khai, tự phát và nhỏ lẻ.
Đời sống văn hóa -
xã hội
Với mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống văn hóa - xã hội
Vĩnh Thạnh đã tập trung xây dựng nhiều công trình trọng tâm,
nâng cấp và xây
dựng các tuyến giao thông nông thôn.
Các chính sách về y tế, giáo dục - đào tạo cũng được huyện đặc biệt quan
tâm triển khai thực hiện với phương châm đẩy mạnh XH hóa, huy động nguồn vốn

đóng góp của nhân dân xây dựng mạng lưới tổ chức khuyến học, thành lập trung
tâm học tập cộng đồng. Sau nhiều nỗ lực, năm 2004, Vĩnh Thạnh được công nhận
đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở; toàn huyện đã xây dựng
được 4 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 16%

(năm 2010); thu nhập bình quân đạt trên 800 USD/người/năm.
Để hoàn thành những mục tiêu đã đề ra, huyện Thốt Nốt đã lựa chọn thực
hiện những khâ
u đột phá sau:
-
Xây dựng kết cấu hạ tầng, trong đó tập trung vào hệ thống giao thông. Xây
dựng các khu đô thị mới gắn với trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và
trung tâm thương mại.

-
Phát triển nguồn nhân lực cả đội ngũ cán bộ quản lý và lao động có kỹ thuật
đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
-
Nông nghiệp huyện Thốt Nốt sẽ phát triển theo hướng nông nghiệp chất
lượng cao, nuôi trồng thuỷ sản; đẩy mạnh cơ giới hoá.
1.2.2. Yêu cầu phát triển GD - ĐT của 02 huyện Vĩnh Thạnh và Thốt Nốt
Huyện Vĩnh Thạnh và huyện Thốt Nốt đều là huyện có nền ki
nh tế nông
nghiệp cơ bản. Trong đường hướng phát triển, 2 huyện đã chọn lựa phát triển GD
hỗ trợ phát triển kinh tế theo hướng chuyển đổi cơ cấu,
phát triển nền nông nghiệp
chất lượng cao. Xác định được tầm quan trọng của GD, đặc biệt là GD THPT đối
với huyện nhà nên dưới sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Sở GD-ĐT, sự lãnh đạo
xuyên suốt của Huyện uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân của hai huyện đã
xây dựng đề án phát triển GD với những nội dung cơ bản như sau:
-
Phát triển quy mô GD đào tạo ở các cấp học cùng với việc nâng cao chất

LỚP
SỐ
GV
GV/
Lớp
CHƯA
ĐẠT
CHUẨN
ĐẠT
CHUẨN
VƯT
CHUẨN
<5 5-15 >15 Giỏi Khá TB
2006-
2007
105 162 1.54 3
1.9%
158
97.5%
1
0.6%
74
45.7%
56
34.6%
20
12.3%
79
48.8
83

GV/
Lớp
CHƯA
ĐẠT
CHUẨN
ĐẠT
CHUẨN
VƯT
CHUẨN
<5 5-15 >15 Giỏi Khá TB
2006-
2007

92 166 1.8 13
7.8%
153
92.2%
61
36.7%
93
56%
12
7.3%
120
72.3%
46
27.7%

2007-
2008

CHUẨN
ĐẠT
CHUẨN
VƯT
CHUẨN
<5 5-15 >15 Giỏi Khá TB
2006-
2007
197 328 1.66 16
4.9%
311
94.8%
1
0.3%
135
41.2
%
161
49%
32
9.8%
199
60.7
%
129
39.3%

2007-
2008
202 340 1.68 15

(Nguồn: Trường THPT 02 huyện Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh)

HUYỆN
THỐT
NỐT
Số
GV
BDTX
chu kỳ
Thaysách
(lần/GV/
năm)
Dựchuyên đềdo
Sởtổchức
(lần/GV/năm)
Dự giờ rút
kinh
nghiệm
Chính
trò
Ngoại
Ngữ
CNTT Khác

2006-
2007

166

01/144/năm

hóa:12
Sau
ĐH: 10

HUYỆN
VĨNH
THẠNH
Số
GV
BDTX
chu kỳ
Thaysách
(lần/GV/
năm)
Dựchuyênđề
Sởtổchức
(lần/GV/năm)
Dự giờ rút
kinh nghiệm
Chính
trò
Ngoại
Ngữ
CNTT Khác
2006-
2007

162

01/152/năm

Chuẩn
hóa:14
Sau
ĐH: 12

1.3. Cơ sở lý luận của đề tài
1.3.1. Một số khái niệm
1.3.1.1. Quản lý
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo trong “Khoa học tổ chức và quản lý một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Thống kê, Hà Nội thì thuật ngữ “Quản lý” tiếng
Việt gốc Hán đã lột tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai q
trình tích hợp vào nhau. Q trình “quản” gồm sự co
i sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng

thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế “phát
triển”.
Từ điển GD học “Quản lý là hoạt động tác động có định hướng, có chủ đích
của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong
một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.

Nhà lý luận quản lý kinh tế A.Fayol: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức,
chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.
Ở Việt Nam, khái niệm này cũng được các nhà Khoa học GD nghiên cứu theo
nhiều cách khác nhau:
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo “Cơ sở của khoa học quản lý”, Nxb Chính trị
quốc gia Hà Nội thì “quản lý nếu ở tầm vĩ mô là: sự tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý)

- Điều hành: (chỉ đạo, tổ chức thực hiện) là nhiệm vụ tiếp theo của người quản
lý. Đâ
y là khâu quan trọng tạo nên thành công của kế hoạch dự kiến. Chính khâu
này, đòi hỏi người quản lý phải vận dụng khéo léo các phương pháp và nghệ thuật
quản lý.
- Kiểm tra: nhằm đánh giá việc thực h
iện các mục tiêu đề ra. Điều cần lưu ý là
khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc
đối với mọi thành viên của tổ chức [26, tr. 79-80].
Kế hoạch hóa Kiểm tra
Tổ chức Điều hà
nh
Sơ đồ 1.1. Chu trình quản lý
The
o quan điểm quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management -
TQM), các chức năng quản lý bao gồm: P (Plan) Hoạch định - Thiết kế; D (Do)
Thực hiện; C (Check) Kiểm tra - Đánh giá; A (Action) Tác động - Cải tiến.
Trong đó c
hức năng Hoạch định - Thiết kế tương ứng với trạng thái ban đầu
của các yếu tố đầu vào. Chức năng Thực hiện, trong mối quan hệ tương tác các đối


cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã
chọn. Theo nghĩa hẹp là trang bị thêm kiến thức, kĩ năng nhằm mục đích nâng cao
và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể. Thí dụ: bồi dưỡng kiến
thức lí luận, bồi dưỡng NVSP [24, tr. 30].
-
Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng các loại trình độ đã được
đào tạo cơ bản từ trước. Hoạt động bồi dưỡng là việc làm thường xuyên, liên tục
cho mỗi GV, cấp học, ngành học, không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ để
thích ứng với đòi hỏi của nền tảng kinh tế XH. Nội dung bồi dưỡng được triển khai
ở các mức độ khác nhau, phù hợp cho từng đối tượng cụ thể. Bồi dưỡng với ý nghĩa
nâng cao nghề nghiệp.
Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu

nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng
nhu cầu lao động nghề nghiệp [23], [29, tr. 15].
Như vậy, về mặt quản lý có thể hiểu bồi dưỡng là quá trình tác động của chủ
thể GD đến đối tượng GD một cách thường xuyên trên nền tảng trình độ đã được
đào tạo, theo nhu cầu của cá nhân, tổ chức, theo yêu cầu phát triển của nghề nghiệp
và XH, làm
cho đối tượng được bồi dưỡng tăng thêm về năng lực hoạt động, phẩm
chất nghề nghiệp, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… phát triển theo chiều hướng tốt hơn.
1.3.1.4. Nghiệp vụ sư phạm
-
Nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một nghề [33].
-
Nghiệp vụ: là công việc chuyên môn riêng của từng nghề [38, tr. 1199].
-

nghiệp vụ GD: xây dựng kế hoạch hoạt động GD; tổ chức, chỉ đạo hoạt động GD;
nắm vững đối tượng và G
D HS cá biệt; đánh giá, điều chỉnh hoạt động GD; thuyết
phục cảm hóa HS; vận động, lôi cuốn, phối hợp GD; xây dựng tập thể HS; giao tiếp,
ứng xử sư phạm…NVSP thống nhất biện chứng cùng với các thành tố trong cấu
trúc nhân cách của người GV là phẩm chất nghề nghiệp, năng lực sư phạm và tri
thức, kỹ năng kỹ xảo sư phạm.
Như vậy,
NVSP ở nhà trường phổ thông là công việc chuyên môn chuyên
biệt của GV với chức năng chính là giảng dạy, GD HS và công việc này phải được
thực hiện một cách khoa học, phù hợp với quy luật GD con người nhằm đảm bảo
chất lượng, hiệu quả trong việc phát triển toàn diện nhân cách của HS đáp ứng yêu
cầu đổi mới của XH.
1.3.1.5. Bồi dưỡng NVSP
Là quá trình bổ sung, cập nhật k
iến thức chuyên môn, liên quan và kỹ
năng, kỹ xảo sư phạm còn thiếu và mới để nâng cao trình độ NVSP cho GV.
Thực tế cho thấy nếu GV có nhân cách càng hoàn thiện bao nhiêu thì trình
độ NVSP càng vững vàng bấy nhiêu. Và do bồi dưỡng NVSP là một việc làm tất
yếu theo sau quá trình đào tạo. Bồi dưỡng và đào tạo có mối quan hệ biện chứng
hữu cơ với nhau. Bồi dưỡng NVSP cho GV còn được xem là hoạt động đào tạo lại,
bồi dưỡng thêm
nhân cách cho GV nên đây phải là việc làm thường xuyên của
CBQLGD ở nhà trường THPT.
1.3.1.6. Quản lý bồi dưỡng NVSP
Là quá trình nhà quản lý thực hiện chức năng quản lý tác động đến đối tượng
quản lý là GV nhằm giúp cho đối tượng được nâng cao trình độ NVSP đáp ứng mục
tiêu yêu cầu về lao động nghề nghiệp, nguyện vọng cá nhân và mục tiêu nâng cao
chất lượng GD của XH.


thể dạy được các môn học trong nhà trường.
GD dành cho GV cần chuẩn bị đầy đủ
cho họ có thể đảm nhiệm được sứ mệnh của nhà GD đó là xây dựng tính cách, thái
độ tích cực và tạo dựng các giá trị cho người học. Bởi vậy, người GV cần được
chuẩn bị không chỉ cho những giờ giảng bài trên lớp, mà còn cần được chuẩn bị cho
việc thực hiện các nhiệm vụ khác: hướng dẫn, tư vấn,
hướng nghiệp, tham gia thể

thao, tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Vì thế, có thể nói vai trò người GV sẽ là
nhân tố quyết định rất lớn đến chất lượng của nền GD [15, tr. 147].
1.3.2.3. Yêu cầu về trình độ NVSP
Nhiệm vụ của nhà giáo, theo Luật GD 2005, điều 72, bao gồm: “GD, giảng
dạy theo mục tiêu, nguyên lý GD, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình
GD; gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ
của nhà trường; giữ gìn phẩm c
hất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân
cách người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính
đáng của người học; không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất, đạo
đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy,
nêu gương tốt cho người học; các
nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật” [4],
[9, tr. 61].
Trong Hội nghị Quốc tế về GD thế kỷ XXI: tầm nhìn và hành động do
UNESCO tổ chức tại Paris (tháng 10/1998) có tổng kết 3 mô hình GD định hướng
phương thức đào tạo dựa trên công nghệ dạy học theo hướng tiến hóa:

Mô hình

mới phù hợp, mang tính đột phá để nâng cao chất lượng GD. Ở thế kỷ XXI, người
GV sẽ đảm nhận nhiều chức năng khó khăn và phức tạp hơn so với trước đây nên
để làm tốt được sứ mạng của m
ình, yêu cầu về NVSP của người GV sẽ là rất cao:
trước hết GV là nhà GD, nhà tổ chức, nhà khoa học và là nhà VH vừa có kiến thức
môn học sâu rộng, vừa có kỹ năng phong phú và có nghệ thuật sư phạm cao. Khi
giảng dạy, người GV phải thực hiện tốt vai trò kép đó là vừa đóng vai trò chủ đạo,
vừa là tác nhân trong dạy học. Với vai trò chủ đạo, GV sẽ lập kế hoạch, tổ chức
hoạt động dạy học, điều khiển quá trình nhận thức của n
gười học. Với vai trò là tác
nhân, GV tác động từ bên ngoài với tư cách là người cộng tác: khơi gợi hướng dẫn,
hỗ trợ tạo ra môi trường sư phạm tương tác thuận lợi; người dạy đi cùng người học
trong phương pháp học và chỉ cho họ con đường phải đi theo trong quá trình học
tập.
Dạy học ở trường THP
T, GV còn phải rèn luyện dần cho HS biết cách phát
hiện và giải quyết vấn đề, hướng dẫn HS tự học. Và trong vai trò mới, GV THPT
còn phải khuyến khích tính ham hiểu biết cho HS, rèn luyện khả năng độc lập khám
phá tri thức, tăng cường khả năng tổ chức và sử dụng kiến thức; giúp họ tìm kiếm
lựa chọn, xử lý nội dung để biến tri thức khoa học thành “sở hữu”
của mình, từ đó
tự mình sáng tạo ra nội dung mới, tạo điều kiện để họ có khả năng học lên cao, học
suốt đời qua tự học, tự GD. Vị trí của người GV sẽ có cơ hội tăng lên trong thời đại
thông tin vì họ phải làm chủ được môi trường công nghệ thông tin và truyền thông
mới, đồng thời phải chuẩn bị về mặt tâm lý do phải tổ chức, quản lý quá trình học
tập của HS phức tạp hơn, phải kết hợp với công nghệ mới bằng các phương phá
p đa
dạng [32, tr. 42].
Trong “Chiến lược phát triển GD” của UNESCO, xu hướng chung phát
triển GD thế kỷ XXI có nội dung: GV phải được đào tạo để trở thành những nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status