ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM HỒ MAI HOA Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ
sư phạm cho giáo viên trường Cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật Công nghiệp I
luËn v¨n th¹c sÜ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Thị Kim Thoa Hµ néi - 2007
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
5. Giả thuyết khoa học
3
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3
7. Phạm vi nghiên cứu
3
8. Phương pháp nghiên cứu
4
2.1. Sơ lược về trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I
37
2.1.1. Tiến trình phát triển, chức năng và nhiệm vụ của nhà trường
37
2.1.2. Cơ cấu tổ chức Nhà trường
40
2.1.3. Phân loại giáo viên
44
2.1.4. Định hướng phát triển trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công
nghiệp I trong giai đoạn mới
48
2.2. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
và công tác quản lý hoạt động này tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Công nghiệp I 50
2.2.1. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
của nhà trường
50
2.2.2. Thực trạng về quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I
54
2.2.3. Đánh giá các nguyên nhân của thực trạng
72
83
3.4.5. Tăng cường các điều kiện vật chất đảm bảo cho hoạt động bồi
dưỡng nghiệp vụ sư phạm có hiệu quả
85
3.4.6. Nhóm biện pháp tăng cường quản lý giảng viên các lớp bồi dưỡng
nghiệp vụ sư phạm và phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động bồi
dưỡng nghiệp vụ sư phạm 87
3.4.7. Kịp thời đánh giá hiệu quả bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và xác
định nhu cầu bồi dưỡng tiếp theo
89
3.5. Mối quan hệ giữa các biện pháp
91
3.6. Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp
93
3.6.1. Khảo nghiệm bằng phương pháp xin ý kiến chuyên gia
93
3.6.2. Khảo nghiệm bằng phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý
96
Tiểu kết chương 3
97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
98
1. Kết luận
98
2. Khuyến nghị
CNH - HĐH : công nghiệp hoá - hiện đại hoá
KTĐG : kiểm tra đánh giá
CSVC : cơ sở vật chất
TTB : trang thiết bị
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của khoa học công nghệ, của sự
phát triển như vũ bão trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Một trong
những vấn đề nóng bỏng được cả xã hội quan tâm, ảnh hưởng tới mọi
người, mọi nhà là giáo dục và đào tạo. Giáo dục không chỉ là sản phẩm của
xã hội mà đã trở thành nhân tố tích cực, một động lực thúc đẩy sự phát triển
của xã hội. Trên phạm vi toàn thế giới hiện nay đang diễn ra một cuộc đua
tranh về kinh tế, mà thực chất là đua tranh về khoa học và công nghệ. Bản
chất của khoa học và công nghệ là trí tuệ của con người. Giáo dục hiện đại
giúp các quốc gia giành thắng lợi trong các cuộc đua tranh đó.
Phát triển GD là bí quyết thành công, là con đường ngắn nhất, đi tắt,
đón đầu trong công cuộc CNH - HĐH, tạo điều kiện cho mỗi quốc gia đào
tạo ra nguồn nhân lực và là nguồn gốc để BD nhân tài, làm giàu thêm
“nguyên khí của quốc gia” là nguồn tài sản vô giá của dân tộc và nhân loại.
Mục đích của GD hiện đại là đào tạo những con người phát triển toàn diện,
có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học và
công nghệ, đủ sức cạnh tranh trong quá trình phân công lao động quốc tế.
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của WTO và
thuật Công nghiệp I, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng
nghiệp vụ sư phạm trong bối cảnh hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo của Nhà trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.2. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên Trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I.
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến quản lý hoạt
động bồi dưỡng NVSP cho giáo viên các trường cao đẳng công nghệ.
- Đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân thực trạng của công tác
quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên Trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm cho giáo viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I
nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường.
5. Giả thuyết khoa học
Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên Trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I đã được thực hiện thường xuyên
song chất lượng chưa cao. Nếu bao quát được các chức năng quản lý, nắm
được đặc thù của hoạt động BDNVSP và thực hiện tốt các biện pháp quản
lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên của trường thì sẽ
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Quý 4: Hoàn chỉnh và bảo vệ luận văn.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn sẽ trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm cho GV trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I. 5
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm cho giáo viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I.
6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và hiệu
quả của sự nghiệp giáo dục - đào tạo chính là đội ngũ giáo viên. Sự phát
triển của GD & ĐT ngày nay đòi hỏi người giáo viên cần có nhiều năng
lực, bởi họ sẽ là những người trực tiếp tham gia vào sự nghiệp đào tạo, GD
thế hệ trẻ thành những con người có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của
xã hội hiện đại. Để có được đội ngũ giáo viên đủ mạnh, đáp ứng được yêu
cầu đổi mới hiện nay, vấn đề đào tạo bồi dưỡng GV là hết sức cần thiết và
quan trọng. Vấn đề này đã được các nhà khoa học GD, các nhà QLGD
quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đã bước sang thế kỉ
21 với nền kinh tế trí thức và yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo
dục.
Hiện nay ở nước ngoài đã có nhiều tác giả nghiên cứu về nghề dạy
BDGV,… Nhưng vấn đề chỉ là những bài viết, những quy định của ngành
trong các cuốn nội san hoặc các quyết định về quy chế tạm thời của Bộ
GD.
Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ năm 1987 sau khi cơ quan nghiên
cứu của Bộ Giáo dục hợp nhất thành Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, là
trung tâm nghiên cứu ĐT và BD giáo viên với nhiệm vụ nghiên cứu những
vấn đề cơ bản và cấp bách về người GV và việc xây dựng đội ngũ GV.
Nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về nghề dạy học, về những
vấn đề như thực tập NVSP tập trung, rèn luyện NVSP thường xuyên, nhân
cách người thầy giáo, đặc điểm lao động sư phạm của người thầy giáo,
Trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, vấn đề bồi dưỡng
được nâng lên một tầm cao mới. Nghị quyết các Đại hội Đảng từ khoá IV
đã tiếp thêm sức mạnh cho giáo dục phát triển. Đến năm 1998, vấn đề bồi
dưỡng giáo viên đã được đưa thành chính sách quốc gia và tiếp tục duy trì 8
ở Luật GD 2005: “Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo về chuyên
môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hoá nhà giáo. Nhà giáo được
cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, được
hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ” (Mục 3, Điều 80)
Bồi dưỡng NVSP là một hoạt động không thể thiếu được trong công
tác BDGV đang tham gia công tác giảng dạy. Các vấn đề liên quan tới đào
tạo và BDNVSP cho GV đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều chuyên gia đề
cập tới. Đã có khá nhiều công trình như: Lê Trần Lâm với “Đào tạo và bồi
dưỡng giáo viên” (1992); Nguyễn Hữu Long chủ nhiệm đề tài: “Xây dựng
và hoàn thiện quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm theo quy trình đào tạo
mới” (Đại học SP 1 Hà Nội - 1994); Nguyễn Minh Đường với “Bồi dưỡng
và đào tạo lại nguồn nhân lực” (1996); Nguyễn Hữu Dũng với “Hình thành
kỹ năng sư phạm cho sinh viên” (1995); Phạm Trung Thanh và Nguyễn Thị
sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”.; quá trình “lý” gồm
việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”. Nếu người
quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ
trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp,
tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ phát
triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý”
phải có “quản”, làm cho trạng thái hoạt động của hệ ở thế cân bằng động.
Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa
các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực). Sự
quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ
thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau.
Nói đến quản lý không thể không nhắc đến tư tưởng sâu sắc của Các
- Mác, ông nhìn nhận vấn đề quản lý dưới ý tưởng phân công và hợp tác 10
trong lao động: “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc
thì cần phải có nhạc trưởng”.
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Khổng Tử (551 - 479 TCN) cũng đã
xác định vai trò của người quản lý, đó là người quản lý mà chính trực thì
không cần phải tôn nhiều công sức mà vẫn có thể “chính tâm, tu thân, tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã
từng nói rằng: “ Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời
mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo”. Tiếng
Việt cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và
“leader” trong tiếng Anh. Trong thực tế chúng ta vẫn thường lẫn lộn hai
khái niệm . Không phải nhà quản lý nào cũng là nhà lãnh đạo và không
phải nhà lãnh đạo nào cũng là nhà quản lý.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy,
điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể
thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm
đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường.
Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý là hệ thống gồm bốn
chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Trong một chu trình quản
lý cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau;
phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình này sang chu trình
theo hướng phát triển trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không
thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra
quyết định trong quản lý. Có thể sơ đồ hoá chu trình quản lý như sau:
Kế hoạch 12
* Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự
truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài
người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn
hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không ngừng
tiến lên. Giáo dục tồn tại, vận động và phát triển với tư cách là một hệ
thống. Theo cách nói của Marx thì “dàn nhạc” giáo dục trong quá trình tồn
dục, nhất là các quy trình, thủ tục, quy định, quy chế … và cách thức vận
hành của hệ thống giáo dục, tất cả các cấu phần hoạt động của hệ thống.
Quản lý giáo dục gồm 3 lĩnh vực:
- QL chính sách (hoạch định chính sách, lập kế hoạch, thực hiện
chính sách và phân bổ nguồn lực).
- QL hành chính (sử dụng nguồn lực tài chính, con người và vật
chất).
- QL sư phạm (sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy học, quá
trình giáo dục, thành tích và quá trình học tập.
Ngày nay, giáo dục không còn là một thứ phúc lợi xã hội đơn thuần
vì nó được gắn với quá trình phát triển xã hội. Việc đi học của mỗi người
phải là: “học thường xuyên, học suốt đời”. Do vậy giáo dục không chỉ giới
hạn ở thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người, cho nên quản lí giáo dục
cũng có thể hiểu là: sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực
hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Như vậy ta có thể định nghĩa: 14
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức điều khiển hoạt động của khách
thể quản lý thực hiện các mục tiêu giáo dục đề ra. Quản lý giáo dục từ cấp
vĩ mô đến tầm vi mô đều hướng tới sử dụng có hiệu quả những nguồn lực
dành cho giáo dục để đạt được kết quả (đầu ra) có chất lượng cao nhất.
Đặc điểm của quản lý giáo dục:
- Quản lý giáo dục gắn liền với việc quản lý con người, đặc biệt là
lao động sư phạm của người giáo viên. Đặc thù lao động của người giáo
viên mà đối tượng lao động sư phạm là người học với những đặc điểm về
tâm sinh lý lứa tuổi hết sức phức tạp. Người học vừa là đối tượng của hoạt
động giáo dục, vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục, do đó kết quả giáo
- Quản lí giáo dục thể hiện tính bao hàm giữa học thuật và nghệ
thuật, vì đây là dạng quản lí phức tạp, do quan hệ đa chiều với môi trường
xã hội ở nhiều phạm vi, mức độ, tầng bậc khác nhau.
Nội dung quản lý giáo dục: là quản lý các yếu tố cấu thành của hệ
thống giáo dục bao gồm: Mục tiêu GD, nội dung GD, phương pháp GD, tổ
chức GD, người dạy, người học, trường sở và trang thiết bị dạy học, môi
trường GD, các lực lượng GD, kết quả GD.
Bản chất của quản lý giáo dục: là quản lý quá trình sư phạm, quá
trình dạy và học diễn ra ở các cấp học, bậc học và tất cả các cơ sở giáo dục.
Từ góc độ tổ chức và quản lý, quá trình sư phạm là quá trình tạo ra các điều
kiện và cơ hội, đồng thời tổ chức việc sử dụng, tận dụng chúng làm cho
người học tiếp thu, chiếm lĩnh, lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội để phát
triển nhân cách tốt nhất. Nơi thực hiện quản lý quá trình sư phạm có hiệu
quả nhất là nhà trường, một tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp thực hiện mục
tiêu giáo dục đào tạo nhân cách bằng việc truyền thụ những tri thức đạo
đức mà nhân loại đã sàng lọc chiết suất được cho thế hệ trẻ. 16
1.2.1.2. Quản lý nhà trường
Nhà trường với tư cách là một thiết chế hiện thực hoá sứ mệnh của
nền giáo dục trong đời sống kinh tế - xã hội; trực tiếp đào tạo, giáo dục thế
hệ trẻ, là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương
đến địa phương. Là một bộ phận trong quản lý giáo dục, nhà trường (cơ sở
giáo dục) chính là nơi tiến hành GD - ĐT có nhiệm vụ trang bị kiến thức
cho một nhóm dân cư nhất định.
Nhà trường có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo
mục tiêu chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ
theo thẩm quyền.
sống và có khả năng nhận được sự phân công lao động nhất định, góp phần
của mình vào sự phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của
loài người. [32]
Hiện nay đào tạo có nhiều dạng: đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên sâu,
đào tạo cơ bản, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa và đào tạo lại (tương đương
với bồi dưỡng),… Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao
động mà người ta phân loại đào tạo gồm đào tạo chuyên môn và đào tạo
nghề nghiệp và chỉ khi nào quá trình đào tạo biến thành quá trình tự đào tạo
một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới thực sự có kết quả cao.
Theo Hồ Ngọc Đại thì “ Đào tạo” được hiểu là quá trình hoạt động
có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ
thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thái độ của người lao
động nhằm xây nhân cách cơ bản cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có
thể tham gia lao động nghề nghiệp trong cuộc sống xã hội. [14]
Nguyễn Minh Đường cùng nhóm tác giả đề tài KX 07 – 14 thì cho
rằng: Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình 18
thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,…để hoàn
thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành
nghề một cách năng suất và hiệu quả.[19]
Như vậy chúng ta có thể hiểu: Đào tạo là một quá trình trang bị kiến
thức, kỹ năng ban đầu cùng với những phẩm chất, thái độ cần thiết để
người được đào tạo có thể hành nghề và trở thành người lao động có kiến
thức, có kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của xã hội.
* Bồi dưỡng
Theo Đại từ điển tiếng Việt: Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng
lực hoặc phẩm chất [32]. Như vậy, có thể hiểu: bồi dưỡng chính là quá
trình bổ sung tri thức và kỹ năng nhằm tăng cường về năng lực và phẩm
về giáo dục và giảng dạy, khuôn phép của nghề dạy học [32].
Nói đến sư phạm có thể hiểu theo 2 góc độ:
- Thứ nhất: có thể hiểu sư phạm là khoa học về giáo dục mà đối
tượng nghiên cứu là quá trình GD con người, tìm tòi, phát hiện những quy
luật GD, những con đường có hiệu quả để nâng cao chất lượng GD, đặc
biệt là sự can thiệp về mặt GD của giáo viên trong những tình huống giáo
dục thực. Môn khoa học sư phạm này thường được gọi là giáo dục học.
- Thứ hai: có thể hiểu sư phạm là tên gọi chuyên ngành đào tạo, bồi
dưỡng giáo viên các cấp: trường đại học sư phạm, trường cao đẳng sư
phạm, trường trung học sư phạm,…
Như vậy cũng có thể hiểu nghiệp vụ sư phạm chính là công việc
chuyên môn của nghề dạy học, là những hoạt động giáo dục và phương
pháp dạy môn học cụ thể nào đó của người giáo viên.
Theo chúng tôi, nghiệp vụ sư phạm chính là khả năng lao động sư
phạm của người giáo viên tạo ra sản phẩm đặc biệt là nhân cách học sinh.