một số biện pháp đẩy mạnh kim ngạch ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu của việt nam - Pdf 25

HUỲNH THỊ BÍCH HIỀN
LỚP 07DKQ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH KIM NGẠCH NGÀNH CÔNG NGHIỆP
CHẾ BIẾN ĐỒ GỖ XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
PHẦN MỞ ĐẤU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, Việt Nam nổi lên như một trong những đối thủ cạnh
tranh trên thế giới trong lĩnh vực sản xuất đồ gỗ. Năm 2004 là năm đánh dấu thành
công lớn của ngành chế biến gỗ Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 1,2 tỷ
USD, tăng 86% so với năm 2003. Từ đó đến nay, xuất khẩu gỗ liên tục tăng trưởng
mạnh và đã lên đến hơn 2,8 tỷ USD trong năm 2008.
Với kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh trong những năm gần đây, đồ gỗ đã khẳng
định vị trí tương đối vững chắc trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của nước ta và được
xếp vào một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2006 – 2010. Chỉ tiêu
giá trị xuất khẩu đề ra cho mặt hàng này vào năm 2010 là 5,5 tỷ USD, tăng bình quân
28,8%/năm.
Nhưng bên cạnh đó còn tồn tại những yếu kém, hạn chế chưa khắc phục được trong
thời gian qua đã khiến cho tiềm năng, lợi thế ngành xuất khẩu sản phẩm gỗ vẫn chưa
khai thác hết. Khi nghiên cứu vấn đề này em quyết định chọn đề tài “Một số giải
pháp gia tăng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ củ Việt Nam’ với mong muốn
duy trì đà tăng trưởng này trong tình hình khủng hoảng tài chính và nền kinh tế thế
giới đang suy thoái như hiện nay,tiếp tục gia tăng kim ngạch khi kinh tế thế giới bình
ổn trở lại.
2.Mục tiêu nghiên cứu
Tổng kết và hệ thống hoá những lý luận về xuất khẩu từ đó xác định những yếu tố
ảnh hưởng đến kim ngã chuất khẩu. kiến thức về hoạt động xuất khẩu ngành, tìm hiểu
những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu;
Phân tích thực trạng kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ qua đó đánh giá những kết
quả đạt được bên cạnh những yếu kém còn tồn tại.
1
Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch của ngành sắp tới. Xác định một

2
1.2.1.2Nguồn nguyên liệu…………………………………………………
1.2.1.3Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp trong ngành……………
1.2.1.4Cơ sở hạ tầng………………………………………………………
1.2.1.5Nguồn nhân lực……………………………………………………
1.2.1.6Các ngành công nghiệp hỗ trợ……………………………………
1.2.2Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô…………………………………
1.2.2.1 Nhân tố pháp luật ………………………………………………
1.2.2.2 Yếu tố văn hóa, xã hội…………………………………………….
1.2.2.3 Yếu tố kinh tế …………………………………………………….
1.2.2.4 Yếu tố công nghệ khoa học……………………………………
1.2.2.5 Nhân tố chính trị ………………………………………………….
1.2.2.6 Yếu tố cạnh tranh quốc tế ……………………………………….
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH KIM NGẠCH NGÀNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM
GỖ…………………………………………………………………………… ……
2.1Khái quát về ngành chế biến đồ gỗ Việt Nam………………………………
2.1.1Qúa trình hình thành và phát triển……………………………………
2.1.2Vai trò của ngành chế biến gỗ xuất khẩu………………… …………
2.1.3Năng lực kinh doanh của ngành ………………………………………
2.1.4Định hướng phát triển của ngành ……………………………………….
2.2Phân tích chung về kim ngạch của ngành chế biến đồ gỗ Việt Nam…….
2.2.1Phân tích chung…………………………………………………………
2.2.2Phân tích theo thị trường………………………………………………
2.2.3Phân tích theo mặt hàng……………………………………………….
2.2.4Phân tích theo các nhà xuất khẩu………………………………………
2.2.5Đánh giá chung……………………………………………………………
2.3 Phân tích dự báo một số nhân tố chủ yếu sẽ ảnh hưởng đến tình hình xuất
khẩu trong tương lai……………………………………………………………
2.3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế ……………………………………………
2.3.2 Nguồn nguyên liệu……………………………………………………

biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của
pháp luật.
4
Cũng có quan niệm xuất khẩu theo quan điểm truyền thống: “xuất khẩu là việc bán
hàng hóa ra nước ngoài”.
Nói nôn na và ngắn gọn và dễ hiểu nhất thì xuất khẩu hàng hóa là việc đưa các hàng
hóa dịch vụ từ các quốc gia này sang các quốc gia khác nhằm thu về một lượng ngoại
tệ.
Đặc điểm của xuất khẩu
Thứ nhất, chủ thể hợp đồng, tức bên bán và bên mua, phải là những thương nhân
mang quốc tịch, có nơi cư trú hoặc có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau
(theo Luật thương mại Việt Nam phải là những thương nhân mang quốc tịch khác
nhau).
Thứ hai, đối tượng hợp đồng là hàng hóa tồn tại trên thực tế là có thể xác định
được cũng như có thể dịch chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc từ khu chế xuất
vào thị trường nội địa. Đó là những hàng hóa được phép mua bán theo qui định của
nước bên bán và bên mua. Vì vậy, việc luân chuyển hàng hóa nhất thiết phải chịu sự
kiểm soát của cơ quan hải quan nước bên bán và nước bên mua.
Thứ ba, nơi tập kết hàng của người bán và người mua ở cách xa nhau. Vì vậy,
khả năng để họ trực tiếp giao nhận hàng cho nhau là rất thấp mà phổ biến phải qua
trung gian đó là người vận tải. Quảng đường vận tải xa và chủ yếu bằng đường biển,
vì vậy, cước phí vận chuyển hàng hóa cao; việc giao nhận hàng và xác định trách
nhiệm của các bên khi xảy ra rủi ro là vấn đề phức tạp.
Thứ tư, đồng tiền thanh toán do các bên tự thỏa thuận. Theo đó, nó có thể là
đồng tiền của nước bên mua, hoặc nước bên bán, hoặc của một nước thứ ba (nước có
đồng tiền là phương tiện thanh toán quốc tế và thường là ngoại tệ mạnh như: USD,
EUR, F). Nói cách khác đồng tiền thanh toán ít nhất là ngoại tệ đối với một bên, nếu
hai bên có quốc tịch khác nhau. Vì vậy, hoạt động mua bán chịu ảnh hưởng lớn của tỉ
giá trở thành một trong những công cụ quan trọng được các chính phủ sử dụng để điều
tiết quan hệ mua bán quốc tế nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

những ý kiến của khách hàng để khắc phục những thiếu sót của mình kịp thời
Chủ động trong việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa nhất là trong điều kiện thị
trường biến động nếu hoạt động kinh doanh tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cao, tự
khẳng định mình về sản phẩm,nhãn hiệu… dần dần đưa được uy tín về sản phẩm trên
thế giới.
Giàm bớt được chi phí trung gian do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
6
*Nhược điểm :
Đòi hỏi năng lực ngoại thương và nghiệp vụ của nhân viên trong doanh nghiệp
phải sâu, rộng.
Trong điều kiện đơn vị mới kinh doanh thì áp dụng hình thức này rất khó do
điều kiện vốn sản xuất hạn chế ,am hiểu thị trường quốc tế còn mờ nhạt, uy tín nhãn
hiệu sản phẩm còn xa lạ với khách hàng.
Khối lượng mặt hàng phải lớn mới có thể bù đắp được chi phí giao dịch như :
giấy tờ,điều tra thị trường.
1.1.2.2 Xuất khẩu gián tiếp
Là hình thức xuất khẩu trong đó bên mua hoặc bên bán thông qua người thứ 3 ra
tiến hành công việc mua hay bán thay cho mình.
Những công việc này có thể là nghiên cứu thị trường, đàm phán kí hợp đồng, thực
hiện hợp đổng . Đây là hình thức xuất khẩu phổ biến chiếm khoảng 50% tổng kim
ngạch của thế giới. Thông qua người thứ 3 ở đây là người môi giới hoặc đại lý.
*Ưu nhược điểm của xuất khẩu gián tiếp:
Ưu điểm:
-Tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh hơn( đặt biệt trong trường hợp bên xuất
khẩu có yếu kém về nghiệp vụ .
-Có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí kinh doanh(vì có thể lợi dụng
được cơ sở vật chất của người trung gian)
Nhược điểm:
-Lợi nhuận bị chia sẽ do phải trả thù lao cho người trung gian
-Doanh nghiệp khó kiểm soát được hoạt động của nhà trung gian

mục tiêu phục vụ tiêu dùng trong nước . Trong phương thức này tối thiểu phải có ba
nước tham gia là nước tái xuất, nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.
*Ưu nhược điểm của buôn bán đối lưu
Ưu điểm :
-Có thể xuất khẩu được những mặt hàng mà doanh nghiệp trong nước chưa đủ
khả năng sản xuất để xuất khẩu và thu được ngoại tệ.( mà không phải tổ chức sản
xuất).
-Góp phần thúc đẩy buôn bán đặc biệt ở các nước bị cấm vận vẫn có thể tiến
hành buôn bán được với nhau
Nhược điểm:
8
-Doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nước xuất khẩu về giá cả, thời gian giao
hàng, sự thay đổi về giá,làm ảnh hưởng đến việc nhập khẩu
-Số ngoại tệ thu về rất ít trong tổng kim ngạch xuất khẩu
các công ty có thể quyết định tự giải quyết việc xuất khẩu. Đấu tư và rủi ro hơi lớn
hơn, nhưng tiềm năng lợi nhuận cũng lớn hơn. Một công ty có thể tiến hành xuất khẩu
trực tiếp theo nhiều cách:
+Bộ phận hay chi nhánh xuất khẩu có cơ sở nội địa –Có thể chuyển dần thành bộ
phận xuất khẩu tự chủ hoạt động như một trung tâm lợi nhuận.
+Chi nhánh hay công ty con bán hàng ở nước ngoài –Chi nhánh bán hàng giải
quyết việc bán hàng và phân phối và có thể giải quyết về nhầ kho cũng như chiêu thị .
Chi nhánh thường phục vụ như trung tâm trưng bày và phục vụ khách hàng.
+Đại diện bán hàng xuất khẩu quan hệ nước ngoài-Đại diện bán hàng ở tại quê nhà
được gửi ra nước ngoài để tìm ciệc kinh doanh.
+Nhà phân phối và đậi lý đặt tại nước ngoài –Các nhà phân phối và đại lý này có
thể được độc quyền để đại điện cho công ty ở quốc gia đó , hoặc chỉ có một số quyền
hạn chế.
Dù công ty quyết định xuâts khẩu trực tiếp hay gián tiếp , nhiều công ty sử dụng
xuất khẩu như một phương pháp “thử dòng nước” trước khi xây dựng nhà máy và sản
xuất sản phẩm ở nước ngoài.

Chẳng hạn,khi phát triển ngành cà phê xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc phát triển
ngành sản xuất nguyên liệu như bông, sợi hay thuốc nhuộm , công nghiệp tạo mẫu….
Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu , dầu thực vật, chè
… có thể kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ nó.
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất
phát triển và ổn định .
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất , nâng
cao năng lực sản xuất
trong nước
+ Xuất khẩu tạo ra những tiển đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng
lực sản xuất trong nước .Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phương tiện quan trọng
tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam ,nhằm hiện đại
hóa nền kinh tế của đất nước , tạo ra một năng lực sản xuất mới.
10
+ Thông qua xuất khẩu ,hàng hóa của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị
trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ
chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với thị trường .
c/ Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống của nhân dân
Tác động của xuất khẩu đển việc làm và đời sống bao gổm rất nhiều mặt .Trước hết
sản xuất , chế biến và dịch vụ hàng xuất khẩu đang trực tiếp là nơt thu hút hàng triệu
lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp.
Quan trọng hơn cả là việc xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất ,làm cho cả
quy mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngành nghề
mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được sử dụng nhiều hơn, năng
suất lao động cao và đời sống nhân dân được cải thiện.
d/ Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của
nước ta
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại,
phụ thuộc lẫn nhau.Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối

bản chất là hoạt động tiêu thụ đặc biệt do vậy việc đẩy mạnh xuất khẩu cũng là một
vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp . Mở rộng thị trường, đẩy mạnh số lượng tiêu
thụ trên thị trường quốc tế làm tăng tốc độ quay vòng vốn , thu về một lượng giá trị
lớn hơn cho doanh nghiệp. Đây cũng chính là vai trò số một của hoạt động xuất khẩu.
*Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trường về giá cả và chất lượng.Những yếu tố đó bắt buộc các doanh
nghiệp phải hình thành cơ cấu xuất khẩu phù hợp với thị trường .
*Xuất khẩu là một nhân tố tích cực nhất đối với doanh nghiệp trong quá trình
hoàn thiện chất lượng sản phẩm và đề ra các giải pháp nhằm củng cố và nâng cao hiệu
quả trong công tác sản xuất cũng như tiêu thụ.
*Doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ, buôn bán kinh
doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở cùng có lợi.
*Sản xuất hàng xuất khầu giúp cho doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động, tạo
thu nhập ổn định cho cán bộ ,công nhân viên lao động trong doanh nghiệp.
* Mặt khác thị trường quốc tế là một thị trường rộng lớn nó chứa đụng nhiều cơ
hội ( và cả rủi ro) . Nhưng nếu doanh nghiệp kinh doanh trên chiến trường này thành
12
công có thể tăng cao thế lực , uy tín của doanh nghiệp mình cả trong và ngoài nước ,
doanh nghiệp lại càng có thêm cơ hội mở rộng thế lực và không ngừng được nâng
cao
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
1.2.1 Các nhân tố thuộc môi trường vi mô
1.2.1.1 Thị trường tiêu thụ
Có thể nói thị trường tiêu thụ là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với hoạt động xuất
khẩu của một ngành hàng. Sản xuất như mặt hàng gì, mức gí cả có phù hợp với thu
nhập củ người dân quốc gia tiêu thụ không, môi trường chính thị pháp luật và môi
trường thương mại của quốc gia nhập khẩu có đặc điểm gì, yếu tố văn hóa, thói quen
tiêu dùng của người tiêu dùng…sẽ chi phối rất nhiều tới hoạt động xuất khẩu của một
mặt hàng sang thị trường nước ngoài. Việc thâm nhập vào thị trường quốc tế thuận lợi
hay khó khăn phụ thuộc vào sự hiểu biết của từng ngành hàng xuất khẩu sâu đến mức

xu hướng ngày nay các doanh nghiệp chuyển từ tình trạng tiết kiệm chi phí lao động
để giảm giá thành sang đầu tư vào nguồn nhân lực để có lợi thế cạnh tranh cao hơn, lợi
nhuận cao hơn, hiệu quả cao hơn, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Có thể nói, trước kia nước ta có nhiều lợi thế về nguồn lao động (giá rẻ, siêng năng,
tinh thần trách nhiệm…) đã thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam .
Nhưng ngày nay, lao động giá rẻ hầu nhuwkhoong còn là ưu thế nữa. Một thực tế là
tình trạng thừa thầy thiếu thợ, nguồn lao động đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng
không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp do thiếu kinh nghiệm trong hoạt động
thực tiễn.
Ngược lại, ở một số vùng kinh tế lao động cấp cao hầu như thiếu hụt trầm trọng nếu
không muốn nói là khan hiếm. Xảy ra một phaanftinhf hình trên là dochinhs sách
lương bổng và thu hút nhân tài ở nước ta không đáp ứng được nhu cầu của người lao
động, một phần là do những bất cập của hệ thông giáo dục của nước ta.
1.2.1.6 Các ngành công nghiệp hỗ trợ
Nền kinh tế bao gồm nhiều ngành và các ngành lại có quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, là
một khâu trong tổng quá trình sản xuất sản phẩm của một ngành hàng. Ví dụ như
ngành trồng công nghiệp may mặt đi kèm theo nó là ngành dệt, ngành trồng cây bông.
Các ngành công nghiệp hỗ trợ được đặc lên hàng đầu, nó quyết định thời gian hoàn
thành dơn đặt hàng nhanh hay chậm, chất lượng sản phẩm đạt hay không đạt. Việc chủ
14
động củng cố và hợp tác chặc chẽ với các ngành nay cần đượcquan tâm và thực hiện
tôt. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã chú trọng đến vấn đề này và đã thực hiện
rất tốt góp phần rất lớn cho các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam.
1.2.2 Cá nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô là môi trường rộng lớn, bao trùm các hoạt động trên phạm vi quốc
gia và quốc tế .Do hoạt động xuất khẩu là hoạt động phức tạp liên quan đến nhiểu đối
tượng.Không chỉ là quan hệ giữa các doanh nghiệp trong một quốc gia mà còn là quan
hệ giữa các nước với nhau.Nếu không được kiểm tra chặt chẽ có thể dẩn tới hậu quả
nghiêm trọng. Vì thế phải nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường vĩ mô.Mỗi
quốc gia có hệ thống chính trị, có nển văn hóa,hệ thống pháp luật, chính sách kinh

Các công cụ chính sách kinh tế của nước nhập khẩu và Việt Nam sẽ giúp cho các
quốc gia có được một môi trường kinh doanh phù hợp nhất Việt nam với chính sách là
phát triển nền kinh tế thị trường hướng mạnh vào xuất khẩu .
Nhân tố thu nhập, mức sống người dân: Mức sống người dân cao khi đó quyết định
mua hàng hóa không chịu ảnh hưởng của sự thay đổi về giá cả theo xu hướng
giảm.Thu nhập thấp thì ngược lại. Thu nhập có ổn định thì nhu cầu tiêu dùng mới
thường xuyên khi đó mới tạo điều kiện cho sản xuất phát triển được.
Nhân tố nguồn lực và tài nguyên thiên nhiên: nhân tố này ảnh hưởng đến doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu. Nguồn lực có đủ lớn thì mới có khả năng thực hiện
được hoạt động xuất khẩu .Vì hoạt động xuất khẩu chứa nhiểu rủi ro. Mỗi quốc gia có
lợi thế riêng trong từng mặt hàng của mình, vì thế cơ cấu sản xuất của các quốc gia
cũng khác nhau.
1.2.2.4 Yếu tố công nghệ khoa học
Các yếu tố khoa học công nghệ có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động kinh tế .Khoa
học công nghệ ngày càng phát triển làm cho sự giao thương giữa các đối tác ngày càng
dễ dàng hơn .Khoảng cách không gian không còn là trở ngại lớn trong việc xuất nhập
khẩu.Sự phát triển của mạng thông tin toàn cầu Internet giúp cho mọi thông tin thị
trường thế giới được cả cập nhật liên tục thường xuyên. Các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu cũng có thể quảng cáo được sản phẩm của mình mà tốn rất nhiều chi phí.
Như vậy khoa học kỹ thuật phát triển nếu như biết áp dụng nó tốt sẽ là điều kiện giúp
cho nước ta có điểu kiện hội nhập tốt hơn. Nhưng nếu như không biết áp dụng nó thì
sẽ là một cản trở lớn vì khi đó ta sẽ bị tụt hậu xa hơn với các nước về kỹ thuật như vậy
sẽ không đủ khả năng để nâng cao khả năng cạnh tranh cho Việt Nam.
16
1.2.2.5 Nhân tố chính trị
-Nhân tố chính trị ổn định là cơ hội để mở rộng phạm vi thị trường cũng như dung
lượng của thị trường cà phê. Song nó cũng có rào cản lớn hạn chế khả năng xuất khẩu
nếu như tình hình chính trị không ổn định.
-Việt Nam ta có điểu kiện chính trị tương đối ổn định, do vậy không chỉ là điểu kiện
tốt để yên tâm sản xuất mà còn hấp dẫn các nhà đầu tư kinh doanh.

mỹ nghệ có hệ thống các thiết bị khá lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu của các
đơn hàng lớn hay các thị trường yêu cầu chất lượng cao.
Ngành chế biến gỗ Việt Nam đang phát triển với tốc độ rất nhanh trong những năm
gần đây, vươn lên là một trong 7 mặt hàng đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng gỗc chế
biến lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á. Hiện cả nước có khoảng 2000 doanh nghiệp
chế biến gỗ với năng lực chế biến 2.2-2.5 triệu met khối gỗ tròn mỗi năm, trong đó có
450 công ty chuyên sản xuất khẩu (120 công ty chuyên sản xuất hàng ngoài trời và
330 công ty sản xuất hàng nội thất).
2.1.1.2 Thị trường
Hầu hết các sản phẩm gỗ của các doanh nghiệp Việt Nam chịu sự cạnh tranh gay gắt
từ các doanh nghiệp của Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêsia, Malaysia, các nước Đông
Âu và Mỹ Latinh .
Thị trường xuất khẩu của đồ gỗ Việt Nam đã có nhiều biến chuyển mạnh mẽ trong
những năm gần đây, từ chỗ tập trung vào các thị trường trung chuyển như Đài Loan,
Hàn Quốc, Singapore…để tái xuất khẩu sang một nước thứ ba, đến nay đã xuất khẩu
trực tiếp sang các thị trường của người tiêu dùng. Hiện tại các sản phẩm đồ gỗ của
Việt Nam đã có mặt ở 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với các chủng loại
sản phẩm đa dạng, từ hàng trang trí nội thất trong nhà, ngoài trời … đến các mặt hàng
dăm gỗ. Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng .
Trong những năm tới việc duy trì đà phát triển các thị trường truyền thống (cả thị
trường trung chuyển lẫn thị trường người tiêu dùng trực tiếp) để thông qua đó uy tín
và chất lượng của sản phẩm gỗ xuất khẩu Việt Nam tiếp cận nhanh hơn tới người tiêu
dùng ngành gỗ Việt Nam sẽ tập trung phát triển một số thị trường mục tiêu, có nền
kinh tế ổn định, thương mại hoà thiện, hệ thống phân phối rộng khắp và năng động
bao gồm:EU, Mỹ, Nhật Bản, Liên Bang Nga .
Khách hàng chủ đạo đối với các sản phẩm gỗ Việt Nam được xác định là các nhà
nhập khẩu và các nhà phân phối .Thực tế năng lực tài chính tiếp thị nghiên cứu thị
18
trường và phát triến sản phẩm của các doanh nghiệp còn yếu, nên nếu trực tiếp thiết
lập các kênh phân phối, mạng lưới tiêu thụ và nghiên cứu nhu cầu phát triển của thị

2.1.2 Vai trò của ngành chế biến gỗ xuất khẩu .
Được đánh giá là một trong các ngành hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn nhất ,nó
không chỉ đóng vai trò trụ cột quan trọng nhất của Việt Nam ở thời điểm hiện tại và sẽ
vẫn giữ vai trò này trong tương lai, được xếp vào nhóm những ngành hàng có chỉ số
tiềm năng xuất khẩu cao nhất .
Ngành chế biến đồ gỗ phát triển giúp tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho
công nhân đặc biệt là người lao động sống chung quanh các khu công nghiệp chuyên
ngành chế biến đồ gỗ. Giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội góp phần rất lớn cho
việc giải quyết vấn nạng của nhà nước. Cùng với ngành chế biến gỗ đi sau đó là một
hệ thống các ngành hỗ trợ cũng sẽ được có cơ hội phát triển.
Xuất khẩu mang về cho doang nghiệp cả ngân sách nhà nước nguồn thu ngoại tệ
đáng kể.
Người tiêu dùng có cơ hội sử dụng các loại mặt hàng từ nhiều nhà sản xuất trong
nước với giá cả phù hợp với thu nhập của họ
2.1.3 Năng lực kinh doanh của ngành
Sức cạnh tranh kém: . .
Số lượng và chất lượng đội ngũ công nhân chế biến gỗ của Việt Nam chưa đáp ứng
yêu cầu của ngành, hiện còn thiếu nhiều kỹ năng, trong đó chưa biết hoặc chưa được
đào tạo về khả năng tận dụng thời gian thao tác, đứng máy, chưa có ý thức tiết kiệm
năng lượng và nguyên liệu gỗ .
Nhập khẩu 80% nguyên liệu nên bị động về nguồn nguyên liệu gỗ. Mặt khác, nhiều
doanh nghiệp trong nước có quy mô nhỏ nhưng sản xuất kinh doanh khép kín từ khâu
cung ứng nguyên liệu và thực hiện hầu hết các công đoạn của quá trình chế biến gỗ.
Các doanh nghiệp này khó khăn về vốn và phải vay thương mại để kinh doanh, phân
bổ chi phí quản lý cho nhiều quá trình nên hiệu quả thấp hơn nhiều so với các nhà máy
quy mô lớn .
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, những hỗ trợ trực tiếp từ nhà nước đã và đang bị
cắt giảm, như: hỗ trợ tín dụng đầu tư, thưởng kim ngạch xuất khẩu, các chính sách trợ
cước, trợ giá… Trong khi đó, các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), yêu cầu
20

nguyên liệu, giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2010 là 4 tỷ USD, năm 2020: 8 tỷ USD.
21
2.2 Phân tích về kim xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam
2.2.1 Phân tích chung.
Bảng 2.2.1 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cua
ngành.
Năm
Kim ngạch xuất
khẩu của cả
nước(tỷ USD)
Kim ngach xuất khẩu sản phẩm gỗ
Gía trị(tỷ USD) Tỷ trọng(%)
2003 20.179 0.567 2.81
2004 26.003 1.054 4.05
2005 32.230 1.457 4.52
2006 39.600 1.930 4.87
2007 48.380 2.400 4.96
2008 63.000 2.800 4.44
Tổng 229.392 10.208 21.65
- Với số liệu thống kê trên cho thấy được tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu khá cao.
Năm 2004, với kết quả kim ngạch XK đạt 26 tỷ USD, xuất khẩu Việt Nam được đánh
giá là có mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 8 năm qua. Đạt được kết quả như vậy
trước hết là do sản lượng xuất khẩu và giá trị hàng hoá XK đều được nâng lên.
Những nguyên nhân làm XK tăng mạnh là do sản xuất công nghiệp tăng trưởng với
tốc độ cao. Các địa phương và doanh nghiệp đã tận dụng triệt để các công cụ chính
sách của Nhà nước trong năm qua, và những ưu đãi của các nước để nâng đỡ xuất
khẩu.
Điểm nổi bật của hoạt động xuất khẩu năm 2005 kim ngạch xuất khẩu của cả nước
đã vượt mốc kế hoạch 31,5 tỷ USD trong năm 2005, đạt trên 32 tỷ USD, tăng 21,6%
so với năm 2004

23
Bảng 2.2.2:kim ngạch xuất khẩu sản phẩm các thị trường lớn.
Thị
trườn
g
Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD)
2003 2004 2005 2006 2007 2008
EU 160.740
379.10
0
457.631
500.2
3
633.10 791.8
Mỹ 115.460
318.80
0
566.968
744.1
0
944.30 1045
Nhật
Bản
137.910
180.00
0
240.87
3
286.8
0

giữa các nước thành viên. EU còn là thị trường rộng lớn của
EU là một đối tác quan trọng của Việt Nam trong các lĩnh vực hợp tác thương mại,
nhất là xuất khẩu. Hàng năm EU tiêu thụ đồ nội thất lớn nhất thế giới, đồng thời tiêu
thụ gỗ và các mặt hàng gỗ đứng thứ hai sau Mỹ do không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu
dùng trong nội bộ mà còn được chế biến để xuất khẩu và tái xuất khẩu Tuy kim ngạch
chưa lớn nhưng tốc độ tăng trưởng và phát triển tương đối cao .
Kim ngạch xuất khẩu hàng gỗ Việt Nam vào EU trong thời gian qua có mức tăng
trưởng trung bình 15%/năm, tập trung vào đồ gỗ nội thất và đồ dùng ngoài trời. Trong
năm 2006 đạt 501,9 triệu USD, chiếm 26,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, riêng
3 tháng đầu năm 2007 đạt 200,72 triệu USD .
Tuy nhiên so với tổng lượng nhập khẩu và tiêu dùng của EU thì mức xuất khẩu của
Việt Nam còn khiêm tốn và chưa phản ánh đúng tiềm năng. Một trong những nguyên
nhân là đồ gỗ Việt Nam phải cạnh tranh quyết liệt với hàng Trung Quốc, Indonesia,
Philippines, Đông Âu
Điều đáng chú ý là tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị trường EU đã
có sự cải thiện đáng kể, tăng khoảng 8% so cùng kỳ năm 2007. Có sự thay đổi này là
do kim ngạch xuất khẩu sang Đức và Pháp đã tăng mạnh trở lại trong khi xuất khẩu
sang các thị trường này trong năm 2007 sụt giảm. Một số thị trường có tốc độ tăng
trưởng đến 2 con số như Đan Mạch, CH Ai Len, Ba Lan, Áo, CH Séc do các nước này
đã giảm nhập khẩu nội khối và chuyển sang xuất khẩu sản phẩm từ các nước Châu á,
trong đó có Việt Nam.
Cụ thể, Anh là nhà nhập khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt kim ngạch cao nhất,
với 13,12 triệu USD trong tháng 6/2007, nhưng giảm 19,8% so tháng trước và giảm
17,9% so cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu
sản phẩm gỗ sang thị trường này đạt 119 triệu USD, tăng 9,8% so cùng kỳ năm ngoái
và chiếm tới 27,3% tổng kim ngạch xuất khẩu sang khối EU. Tiếp đến là Đức, kim
ngạch xuất khẩu sang thị trường này trong tháng 5/2007 đạt 4,63 triệu USD, tăng
42,9% so tháng 6/07, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm
2007 sang thị trường này đạt 69,1 triệu USD, tăng 53,9% so với cùng kỳ năm ngoái
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status