xây dựng chiến lược phát triển ngành công nghiệp chuyên môn hóa ở việt nam-vận dụng vào ngành than - Pdf 25

Xây dựng chiến lước phát triển ngành công nghiệp chuyên môn hóa ở Việt
Nam-vận dụng vào ngành than
1
Lời mở đầu
Xuất phát từ tình hình kinh tế xã hội hiện nay và yêu cầu phát triển đất nước
trong thời kỳ mới, Đường lối kinh tế của Đảng được xác định: Đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa
nước ta trở thành một nước công nghiệp. Muốn trở thành một nước công
nghiệp, chúng ta cần có những chiến lược kinh tế đúng đắn dự báo được mức
tăng trưởng của nước ta mười, hai mươi năm sau. Và theo đúng yêu cầu của thời
kỳ đổi mới là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta cần có những
chiến lược phát triển lâu dài, chú trọng vào những ngành công nghiệp trọng yếu
của nước ta như chế biến, điện, than.Vì vậy em đã chọn đề tài: “Chiến lược
phát triển ngành Than 10 năm đầu thế kỷ XXI ” nhằm để hiểu sâu thêm về
ngành than, một ngành công nghiệp quan trọng trong nền công nghiệp của nước
ta. Than là nguồn tài nguyên không tái tạo được, vì vậy cần có những chính
sách, chiến lược đúng đắn để quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên quý giá
này,để góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
Trong đề án này em trình bày 4 phần chính:
I. Lý luận chung.
II. Tình hình xây dựng và phát triển ngành than ở nước ta trong
những năm qua (đến hết 2000 năm ).
III. Chiến lược phát triển ngành than những năm đầu thế kỷ XXI.
IV. Kết luận và kiến nghị.
2
Trong quá trình viết đề án chắc chắn sẽ có nhiều sai sót, kính mong Cô giáo
hướng dấn giúp đỡ em để em có thể thực hiện tốt đề án môn học chuyên ngành.
Em xin chân thành cảm ơn Cô.
LÝ LUẬN CHUNG.
1. Lý luận về chiến lược phát triển công nghiệp.
1.1. Nội dung của chiến lược phát triển công nghiệp.

chiến lược cơ bản nhất là:
- Xác định sơ đồ phân bố lực lương công nghiệp theo các vùng lãnh thổ.
- Giải pháp về phát triển các thành phần kinh tế và phương hướng liên kết
các thành phần kinh tế.
- Phương hướng phát triển khoa học- công nghệ.
- Các giải pháp về bảo đảm các điều kiện cho phát triển công nghiệp
(phương hướng đầu tư và giải pháp về vốn; lao động; hợp tác quốc tế; tổ
chức quản lý )
• Các căn cứ về mặt chiến lược. Đó chính là việc nghiên cứu và cụ thể hoá
đường lối phát triển kinh tế của Đảng; phân tích thực trạng của công nghiệp, mối
quan hệ giữa công nghiệp và các ngành kinh tế khác; bối cảnh trong nước và
quốc tế; những thách thức và cơ hội; dự báo sự biến động của môi trường kinh
tế, xã hội; những tài liệu điều tra cơ bản khác. Chính những căn cứ này sẽ là cơ
sở để định ra các quan điểm, mục tiêu và giải pháp chiến lượcvề phát triển công
nghiệp.
Nếu xét theo mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống công nghiệp bao
gồm:
4
•Chiến lược phát triển chung của toàn bộ hệ thống công nghiệp. Nội dung này
thường được thể hiện trong phần định hướng phát triển công nghiệp trong
chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của vùng, của địa phương.Trong những
nội dung đó, người ta xác định định hướng chung về phát triển công nghiệp
và một số ngành trọng yếu, về phát triển các khu công nghiệp tập trung, tốc độ
phát triển công nghiệp và tỉ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân.
•Chiến lược phát triển từng ngành công nghiệp chuyên môn hoá (ngành kinh tế-
kỹ thuật) . Trong bộ phận này, người ta phải xác định rõ vị trí của mỗi
ngàhbnh, định hướng phát triển những sản phẩm chủ yếu của mỗi ngành và
những giải pháp cơ bản bảo đảm phát triển ngành(đầu tư,thị trường, công
nghệ, lao động, hợp tác quốc tế ).
•Chiến lược phát triển doanh nghiệp. Chiến lược này bao gồm: chiến lược sản

đầu". Song, sang giai đoạn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, công nghiệp dần
chuyển lên vị trí hàng đầu. Nghĩa là cơ cấu kinh tế sẽ chuyển dịch từ co cấu nông -
công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ. Chiến lược phát
triển công nghiệp phải được định ra trên cơ sơ phương hướng chung này và phải thể
hiện rõ phương hướng này khi xác định quy mô, tốc độ phát triển các ngành công
nghiệp chuyên môn hoá và các giải pháp cơ bản để thực hiện.
Chiến lược chung về phát triển công nghiệp là cơ sở để xác định chiến lược, quy
hoạch phát triển các ngành công nghiệp chuyên môn hoá và quy hoạch các khu
công nghiệp tập trung. Do các ngành công nghiệp chuyên môn hoá có vị trí khác
nhau trong hệ thống công nghiệp, bởi vậy phương hướng, quy mô, tốc độ phát triển
và bước đi của chúng cũng khác nhau. Điều này thể trong chiến lược chung về phát
triển công nghiệp và được cụ thể hoá trong quy hoạch phát triển từng ngành công
nghiệp chuyên môn hoá. Những ngành then chốt, trọng yếu, những ngành mũi nhọn
sẽ được ưu tiên hơn về đầu tư , trang bị công nghệ. Mặt khác, việc hìng thành các
6
loại hình khác nhau của khu công nghiệp ( khu công nghiệp tập trung, khu chế
xuất ) cũng được thực hiện trên cơ sở định hướng chung đã xác định trong chiến
lược phát triển công nghiệp.
Cuối cùng chiến lược phát triển công nghiệp là cơ sở để xác định chiến lược phát
triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp dù thuộc thành phần
kinh tế nào cũng là đơn vị kinh tế cơ sở của hệ thống kinh tế quốc dân. Chúng có
quyền chủ động sản xuất kinh doanh, nhưng phải vận động theo quỹ đạo chung và
góp phần tích cực thực hiện mục tiêu chung.
Chiến lược phát triển của chúng phải được hoạch định trên cơ sở những định
hướng được xác định trong chiến lược phát triển chung của công nghiệp. Cũng cần
chú ý rằng, chiến lược phát triển công nghiêp có thể thể hiện dưới hình thức một
văn bản,hoặc chỉ là hìng thức ý đồ kinh doanh được người chủ doanh nghiệp giữ bí
mật tuyệt đối. Dù dưới hình thức nào, chiền lược Êy cũng phải tuân thủ nguyên tắc
đã nêu.
Tóm lại chiến lược phát triển công nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng với

Theo tinh thần Êy, chương trình phát triển công nghiệp đã được xây dựng. Chương
trình này đã xác định rõ mục tiêu, các nhiệm vụ và giải pháp phát triển công nghiệp.
3.Chuyên môn hóa sản xuất trong công nghiệp.
3.1Thực chất của chuyên môn hóa sản xuất.
Trên góc độ doanh nghiệp chuyên môn hóa sản xuất là tập trung hoạt động
của doanh nghiệp vào việc thực hiện những công việc cùng loại nhất định.Xét trên
góc độ sản xuất,những côn gviệc cùng loại mà một doanh nghiệp công nghiệp thực
hiện thể hiện trên nhiều nội dung khác nhau:Chế tạo những sản phẩm có giá trị sử
8
dụng khác nhau,nhưng co công nghệ sản xuất giống nhau;thực hiện một số giai
đoạn công nghệ của quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm;hoàn chỉnh hoặc tập
trung chế tạo một số bộ phận ,chi tiết của sản phẩm hoàn chỉnh…Sự phát triển của
chuyên môn hóa sản xuất trong công nghiệp gắn liền với sự phát triển của phân
công lao động xã hội .Phân công lao động xã hội càng phát triển ,trình độ chuyên
môn hóa sản xuất của các doanh nghiệp ngày càng cao.Trong điều kiện cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước,sự phân công lao động giữa các doanh nghiệp
để hình thành và phát triển mỗi hình thức chuyên môn hóa có thể được thực hiện
bằng những cách khác nhau:các doanh nghiệp thỏa thuận một cách có tổ chức sự
phân công sản phẩm;các doanh nghiệp chịu sự điều tiết tự phát của thị trường,qua
các quan hệ cạnh tranh chúng tìm ra được lĩnh vực sản phẩm thị trường riêng của
mình.
Quá trình hình thành chuyên môn hóa sản xuất của doanh nhiệp công
nghiệp,gắn liền với việc xác định phương án của sản xuất kinh doanh,trên cơ sở
định hướng phát triển sản xuất của Nhà nứoc,các quan hệ kinh tế trên thị trường
(quan hệ cung cầu,quan hệ cạnh tranh…),khả năng của bản thân doanh nghiệp ,tiến
bộ khoa học và công nghệ…Sự phát triển chuyên môn hóa sản xuất của mỗi doanh
nghiệp ,tuy là việc tập trung thực hiện những công việc cùng loại nhất định,nhưng
không loại trừ trường hợp doanh nghiệp thực hiện những công việc khác
loại.Nhưng một doanh nghiệp có trình độ chuyên môn hóa cao khi những công việc
cùng loại Êy tạo thành nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu của nó và chiếm tỉ trọng cao

của doanh nghiệp vào chế tạo một(hoặc một số) bộ phận và chi tiết của sản phẩm.
Là biểu hiện cao của trình độ chuyên môn hóa ,để áp dụng có hiệu quả hình thức
chuyên môn hóa này phảI đảm bảo những điều kiện cơ bản sau đây:
-Sản phẩm có kết cấu phức tạp và lượng nhu cầu lớn
-Số lượng doanh nghiệp trong nghành nhiều.
-Tổ chức tốt mối liên hệ sản xuất giữa các soanh nghiệp có liên quan.
10
-Các doanh nghiệp hữu quan được phân bố theo tiêu chuẩn thống nhất.
-Các doanh nghiệp hữu quan được phân bố trong cù ly gần nhau để giảm chi phí
vận chuyển các bộ phận chi tiết…
3.2.3Chuyên môn hóa giai đoạn công nghệ chế tạo sản phẩm.
Chuyên môn hóa giai đoạn công nghệ là tập trung hoạt động của doanh
nghiệp vào thực hiện một hoặc một số giai đoạn công nghệ của quá trình chế tạo sản
phẩm.
Để áp dụng có hiệu quả chuyên môn hóa theo giai đoạn công nghệ,đòi hỏi phảo
đảm bảo những điều kiện cơ bản sau đây:
-Công nghệ chế tạo sản phẩm phức tạp,việc tách các giai đoạn công nghệ để hình
thành doanh nghiệp độc lập bảo đảm đựoc sự hợp lý về kinh tế và kỹ thuật
-Tổ chức tốt mối liên hệ sản xuất giữa cá doanh nghiệp có liên quan bằng những
hình thức thích hợp
-Sự phân bố hợp các doanh nghiệp có liên quan để bảo đảm giảm bớt chi phí vận
chuyển và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Việc chuyên môn hóa giai đoạn công nghệ mang lại lợi Ých thiết thực cho doanh
nghiệp,nhng trong điều kiện môI trường kinh doanh biến động nó lại gây cho doanh
nghiệp tình trạng khó khăn và bị động khi phảI chuyển hướng sản xuất.
3.2.4Chuyên môn hóa các hoạt động phù trợ
Chuyên môn hóa hoạt động phù trợ là tập trung hoạt động của doanh nghiệp
vào việc thức hiện những công việc phù hợp cho hoạt động chế tạo sản phẩm của
các doanh nghiệp khác.
3.3Lợi Ých của chuyên môn hóa sản xuất

II. TÌNH HÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH THAN Ở
NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM QUA (ĐẾN HẾT 2000)
12
1.Đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế của ngành than
những năm qua (trước khi thành lập Tổng công ty Than Việt Nam ).
1.1/ Những kết quả đạt được.
Ngành than là một ngành kinh tế-kỹ thuật thuộc công nghiệp mỏ có những đặc
điểm riêng đó là: sản xuất than luôn phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên, tài nguyên
không được tái tạo, việc khai thác ngày càng khó khăn vì phải đi sâu vào lòng đất,
lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và khó cơ khí hoá, công nghệ khai thác
phức tạp, chênh lệch địa tô lớn, phải sử dụng nhiều thiết bị phụ tùng vật tư nhập
ngoại, đầu tư XDCB ban đầu lớn và kéo dài nhiều năm, đồng thời lại phải đầu tư
không nhỏ cho duy trì sản xuất để giữ mức sản xuất đã đạt được, các mỏ lại thường
ở các vùng nói xa xôi hẻo lánh, cơ sở hạ tầng kém phát triển, đời sống rất khó khăn.
Ngành than Việt Nam đã có lịch sử tồn tại trên 100 năm (từ thời Pháp thuộc)với
đội ngũ công nhân có truyền thống cách mạng kiên cường lại được Đảng và Nhà
nước quan tâm giúp đỡ, được Liên Xô (cũ) trước đây trang bị trong nhiều năm.
Trong 40 năm qua, ngành than Việt Nam đã sản xuất và cung ứng 150 triệu tấn
than sạch, đáp ứng nhu cầu cơ bản của ngành điện, xi măng, vật liệu xây dựng, chất
đốt sinh hoạt. Than chiếm khoảng 50% trong cán cân năng lượng – nhiên liệu quốc
gia trong thời gian dài. Nếu phải nhập khẩu than với giá nhập khẩu bình quân 40
USD/tấn thì ngành than đã đóng góp cho đất nước 6 tỷ đôla Mỹ, doanh số thực hiện
theo thời giá quốc tế.
Mét Sè Sè Liệu Lịch Sử Ngành Than 1985-1994
Năm
Chỉ tiêu
1985 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994
1. Than nguyên
khai
6295 6855 7690 7605 4221 5198 4895 5226 5835 7575

8
299,
42
343,6
9
- Nội địa: 15,16 33,82 43,80 79,81 93,7
1
116,
14
127,9
5
7. LĐ (người) 85441 86299 90912 92764 87398 77807 74135 71825 6986
7
74929
Ghi chó:
- Nguồn thông tin: Số liệu từ 1985-1993 lấy trong tập “ Số liệu lịch sử ngành than” của Bộ Năng
Lượng, trong này chưa có của địa phương Quảng Ninh và quân đội; Số liệu năm 1994 do Tổng
công ty Than Việt Nam tổng hợp, bao gồm cả địa phương Quảng Ninh và quân đội.
1.2/ Những hạn chế.
Trước đây, ngành than đã được Nhà nước đầu tư cải tạo mở rộng các mỏ cũ và
xây dựng các mỏ mới, các nhà máy sàng tuyển, các công trình hạ tầng nhằm đạt sản
lượng 10 triệu tấn than sạch vào năm 1980. Tuy nhiên do nhiều lý do chủ quan và
khách quan sản lượng than nhiều năm chỉ dao động ở mức 4 đến 6 triệu tấn/năm.
Từ năm 1989, khi nền kinh tế chuyển mạnh sang cơ chế thị trường, ngành than
được thí điểm áp dụng cơ chế mới, Chính phủ đã giảm cấp vốn từ ngân sách, Viện
14
trợ từ Liên Xô giảm mạnh và chấm dứt vào năm 1990. Đặc biệt nhiệt điện là thị
trường quan trong nhất của ngành than đã đưa thêm các tổ máy của thuỷ điện Hoà
Bình vào vận hành dẫn đến tỷ trọng than cấp cho điện trong tổng số than tiêu thụ đã
giảm từ 35,6% xuống còn 14%, năm thấp nhất (1993) chỉ đạt có 9%.

hành Điều lệ Tổng công ty than Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Viết Hoè làm Chủ tịch
Hội đồng quản trị, đồng chí Đoàn Văn Kiển làm Tổng giám đốc.
Các thành viên của Tổng công ty Than Việt Nam gồm có 23 đơn vị thành viên
trong đó có 15 doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập; 1 đơn vị hạch toán phụ
thuộc và 7 đơn vị sự nghiệp. Ngày 6/5/1996 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định
27/CP phê chuẩn điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Than Việt
Nam(sửa đổi, bổ sung). Có 34 doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập, 3 doanh
nghiệp hạch toán phụ thuộc và 10 đơn vị sự nghiệp.
Tổng công ty Than Việt Nam thực hiện chế độ hạch toán kinh tế tổng hợp, được
lập các quỹ tập trung theo quy định của nhà nước. Các doanh nghiệp thành viên
hạch toán độc lập, hạch toán phụ thuộc hay đơn vị sự nghiệp đều có tư cách pháp
nhân, hoạt động theo luật pháp Việt Nam và theo điều lệ của Tổng công ty Than
Việt Nam.
Nhiệm vụ của Tổng Công ty Than Việt Nam là thiết lập lại trật tự trong khai
thác và kinh doanh than, đảm bảo các cân đối về than cho nền KTQD đồng thời
phát triển các ngành nghề khác một cách hiệu quả. Chiến lược phát triển TVN
và xây dựng TVN thành một tập đoàn kinh doanh đa ngành trên nền sản xuất
than.
2.2.Đánh giá kết quả việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và hoạt động
sản xuất kinh doanh than 1995-2000.
2.2.1. Mô hình tổ chức và cơ chế quản lý.
16
Nhìn tổng quát sau hơn 5 năm hoạt động trong mô hình Tổng Công ty, diện mạo
ngành than đã có sự thay đổi sâu sắc cùng với sự phát triển kinh tế Quảng Ninh và
các địa phương khác: đường xá, bến cảng, cơ sở kỹ thuật hạ tầng được nâng cấp
khang trang hơn: thu nhập và đời sống công nhân viên chức khá hơn trước… Nhận
thức của công nhân viên chức về cơ chế thị trường, bảo vệ môi trường và pháp luật
đã được nâng cao; người lao động ngày càng quan tâm hơn, tham gia nhiều hơn vào
công tác quản lý doanh nghiệp và hoạt động xã hội.
Ngành Than đã phối hợp với địa phương kiểm soát được tình trạng khai thác kinh

Tại các mỏ hầm lò, cột chống thuỷ lực đơn đã được đưa vào sử dụng thành công từ
năm 1997 tai các mỏ Vàng Danh, Khe Chàm. Giá thuỷ lực di động đã được đưa vào
sử dụng lần đầu tiên ở mỏ Hà Lầm và mỏ Thống Nhất năm 1999 đã mở ra triển
vọng cải thiện các chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế trong việc khai thác các vỉa than dày
đến 10m và dốc đến 45
0
giảm tổn thất than từ 40% đến 50% xuống còn 30% và
thậm chí còn 15% đến 20%, giảm tiêu hao gỗ chống lò, giăm gỗ lẫn trong than. Đặc
biệt đã làm cho thợ lò thông thoáng hơn, lao động của thợ lò Ýt nặng nhọc hơn.
Công nghệ sử dụng vì neo trong đào chống lò đã được áp dụng góp phần giảm chi
phí đào lò.
Tại các nhà máy sàng tuyển than đã chủ động phối hợp với các cơ quan nghiên
cứu và các nhà máy cơ khí chế tạo lưới sàng hợp lý để sàng tuyển các loại than phù
hợp với yêu cầu của khách hàng. Xí nghiệp Tuyển than Cửa Ông đã thay đổi công
nghệ thải bùn, thu lại than bùn trong các hồ chứa thay cho việc thải thẳng ra biển
trước đây. Việc này đã làm tăng đáng kể tỷ lệ thu hồi than và đặc biệt giảm mạnh sự
ô nhiễm nước biển. Xí nghiệp Tuyển than Hòn Gai đã tách riêng một lộ tiếp nhận
than hầm lò vào sàng và cải tiến quy trình tuyển rửa để tách tối đa dăm gỗ ra khái
than thành phẩm.
Tại các kho cảng, hầu hết các đơn vị đã sử dụng máy xúc lật bánh lốp để đánh
đống, xúc than lên xe thay cho máy xúc bánh xích cà xúc bốc thủ công. Tại Cảng
18
Cửa Ông, Xí nghiệp Tuyển than Cửa Ông đã đầu tư cải tạo hai máy rót than Hitachi
đảm bảo rót than xuống tàu 40 đến 60 ngàn tấn được an toàn.
2.2.3. Đầu tư xây dựng cơ bản.
Nhằm chuẩn bị đáp ứng nhu cầu về than của nền kinh tế, đặc biệt là ngành Điện,
Xi măng, Phân bố theo tổng sơ đồ, quy hoạch và dự án đã được nhà nước phê duyệt
cho giai đoạn đến năm 2000 và dự báo đến 2010 ngay từ năm 1995 Tổng công ty
than đã định hướng đầu tư theo thứ tự ưu tiên: Thự hiện các dự án chuyển tiếp (tức
là các dự án đã được quyết định và triển khai xây dựng trước khi thành lập Tổng

Xây lắp “ 256572 309952 133261 216092 184238 197832
Thiết bị “ 206330 246137 300026 296970 177999 197356
Khai thác cơ bản khác “ 40366 65052 27361 31642 47568 49691
2.2.4. Sản xuất và tiêu thụ than.
Kết quả hoạt động sản xuất tiêu thụ của ngành than giai đoạn 1995-2000.
Bảng chỉ tiêu chủ yếu hoạt động sản xuất tiêu thụ 1995-2000.
Chỉ tiêu Đ/v 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Than sạch sản xuất tr.tấn 8,12 9,69 11,27 11,36 9,31 11,05
Than sạch tiêu thụ tr.tấn 7,59 9,71 10,78 10,72 9,97 11,52
20
Trong đó xuất khẩu tr.tấn 2,783 3,666 3,525 2,900 3,23 3,095
Than nguyên khai tr.tấn 9,37 11,16 13,01 13,69 9,95 12,2
Đất đá bốc tr.m
3
26,09 31,08 38,41 41,69 23,99 34,11
Mét lò đào mới Km 71,06 81,59 76,62 77,08 53,74 77,11
Tổng doanh thu tỷ đ. 2448 3658 4255 4558 4137 5112
Trong đó sản xuất than tỷ đ. 1933 2584 2953 2953 2851 3087
sản xuất khác tỷ đ. 485 1074 1301 1605 1286 2025
Kim ngạch xuất khẩu tr.U$ 95 113 113,2 90,4 96,2 87
Đầu tư XDCB tỷ đ. 409,8 364,4 534,6 501,0 252,2 359,6
Nộp ngân sách tỷ đ. 119,8 152,2 199,4 154 159,4 156
Lợi nhuận trước thuế tỷ đ. 39,5 107 137 40 5,7 40
Thu nhập bình quân
Theo LĐ định mức
1000đ/
ng .th
781 961 951 940 951 938
Giá trị gia tăng tỷ đ. 1144 1330 1508 1444 1215 1475
2.2.5. Lao động và tiền lương.

2.2.7. Nguồn vốn kinh doanh.
Đã nhiều năm ngành Than lâm vào tình trạng thiếu vốn kinh doanh. Vốn lưu động
thuộc phần ngân sách cấp chỉ đáp ứng được 15-20% định mức, các đơn vị phải vay
ngân hàng thương mại với lãi suất cao để bù đắp.
Chỉ tiêu Đ/v 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Nguồn vốn kinh doanh đồng 750899 902137 1158764 1300232 1301859 1391357
1. Vốn cố định “ 637859 773838 949830 1085012 1085099 1105389
+ Ngân sách “ 496137 604519 727036 812991 799825 809125
+ Tự bổ sung “ 141686 169319 221182 268541 282055 297123
+ Liên doanh và khác “ 0 1612 3480 3219 3381
2. Vốn lưu động “ 113040 128299 208934 215220 216760 218320
+ Ngân sách “ 101230 116612 193155 199128 200130 209100
+ Tự bổ sung “ 11810 11687 15779 15977 16515 17421
+ Liên doanh và khác “ 115 115 117
3. Vay trung, dài hạn “ 494818 501578 718807 1040024 896125 986215
+ Nội tề “ 494818 501578 595877 548086 587852 600125
+ Ngoại tệ “ 122930 491938 308300 357600
+ Nguyên tệ 000$ 10000 35406 22000 33246
4. Vay ngắn hạn Tr đ 446413 1004126 1184360 1478225 1245616 135415
Nợ phải thu “ 340822 440614 628042 508941 450000 493265
Nợ phải trả “ 1574646 2106367 2610529 3030080 2547346 2974643
Trong đó “
- Vay ngắn hạn ngân
hàng
“ 446413 1004126 1184360 1478225 1245616 1365420
- Phải trả người bán “ 263509 224491 288094 223753 110000 183500
- Vay trung, dài hạn “ 494818 501578 718807 1040024 896152 971563
22
III. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH THAN NHỮNG NĂM
ĐẦU THẾ KỶ XXI.

động phần ngân sách cấp chỉ đáp ứng được 15-20% định mức, các đơn vị phải vay
ngân hàng thương mại để bù đắp. Vốn đầu tư mỗi năm cần khoảng 600 tỷ đồng
song Nhà Nước chỉ cân đối được 50% từ nguồn khấu hao cơ bản và tín dụng của
Chính phủ.
Sức Ðp về việc làm tại vùng mỏ ngày càng cao, hàng vạn người thiếu việc làm là
con em công nhân viên chức, là dân địa phương, là bộ đội hoàn thành nghĩa vụ ở lại
mỏ, nông dân từ các tỉnh đến tìm việc làm và đã đang gâp sức Ðp vào ngành than
làm tăng lực lượng vốn đã dư thừa trong ngành than, thúc đẩy nạn khai thác than
trái phép phát triển trở lại.
Tác động của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và giải quyết vấn
đề môi trường mà một số công trình của ngành Than phải di chuyển ra khỏi thành
phố kéo theo sự tăng vốn đầu tư, tăng giá thành sản xuất và các hậu quả về xã hội,
việc làm.
1.2.Những ưu điểm, lợi thế của ngành than.
Cán bộ công nhân mỏ vốn có truyền thống vượt khó, đấu tranh cách mạng bất
khuất và luôn đi đầu vượt khó trong lao động hoà bình, đã vượt qua nhiều thử thách
kể cả thời kỳ chuyển đổi cơ cấu kinh tế vừa qua, ngày nay chắc chắn sẽ dũng cảm
vượt qua những khoa khăn và thử thách mới.
24
Vùng than chính nằm trên bờ Vịnh Hạ Long với một loạt cơ sở vật chất đã được
Nhà Nước và các doanh nghiệp đầu tư từ nhiều năm qua có thể phát huy để đạt sản
lượng than cao hơn và phát triển các ngành nghề khác.
Trong tương lai, vùng ven biển Đông Bắc của Việt Nam, theo đánh giá của các nhà
kinh tế thế giới sẽ có điều kiện phát triển nhanh vì nằm trong nền kinh tế năng động
của thế giới kéo dài từ Nhật, Hàn Quốc, miền Đông Trung Quốc, Đài Loan, Hồng
Kông…đến Singapore, Malaisia…
Thị trường nhu cầu về than sẽ tăng lên. Nhu cầu trong nước năm 2000 khoảng 6,3
đến 6,9 triệu tấn và sẽ tăng lên 8,5 đến 9,0 vào năm 2004, và chắc chắn nhu cầu
xuất khẩu sẽ tăng. Quan hệ cung - cầu sẽ ổn định hơn. Việc đẩy mạnh xuất khẩu và
ký hợp đồng cung ứng than dài hạn trong nược cũng tạo ra điều kiện để than Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status