Họ và tên: Nguyễn Thị Minh
Lớp: K20z
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 1 năm 2012
BÀI KIỂM TRA
MÔN: KINH TẾ QUẢN LÝ – BÀI SỐ 1
ĐỀ BÀI: Hãy sử dụng mô hình 5 lực lượng để phân tích cơ cấu cạnh tranh
của một ngành cụ thể.
Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện
nay, đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích. Trong đó, ông mô hình hóa các
ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm
lực lượng cạnh tranh.
Mô hình “Năm lực lượng cạnh tranh” của ông được xuất bản lần đầu trên tạp
chí Harvard Business Review năm 1979 với nội dung tìm hiểu yếu tố tạo ra lợi nhuận
trong kinh doanh. Cho đến nay, mô hình này được xem là công cụ hữu ích và hiệu quả
để tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận và cung cấp các chiến lược cạnh tranh để doanh
nghiệp duy trì hay tăng lợi nhuận.
Theo Michael Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản
xuất bất kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau:
Hình 1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter
1
Trải qua với 60 năm tồn tại và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam đã có
những đóng góp to lớn cho nền kinh tế. Số lượng và quy mô các Ngân hàng tăng lên
đáng kể, mạng lưới chi nhánh các Ngân hàng rộng khắp cả nước. Cuộc chay đua giành
thị phần huy động và thị phần tín dụng diễn ra bao năm nay với ưu thế thuộc về nhóm
ngân hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD). Tuy nhiên xét về hiệu quả hoạt động,
các NHTMQD chưa thể bì kịp các đối thủ ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP).
Bên cạnh đó, trong tình hình thị trường tài chính – tiền tệ có nhiều biến động, hoạt
động của ngân hàng cũng đang phải đối mặt với vô số rủi ro. Nhưng khi khủng hoảng
kinh tế qua đi, với một thị trường tiềm năng còn lớn như Việt Nam, các ngân hàng sẽ
tập trung khai phá thị trường, tìm kiếm khách hàng mới, cạnh tranh và rủi ro có thể sẽ
giảm đi. Bài tiểu luận này tập trung sử dụng mô hình 5 lực lượng để phân tích cơ cấu
Eximbank là ngân hàng có mức vốn chủ sở hữu cao nhất đạt 13,667,930 tỷ đồng.
Trong cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thì vốn điều lệ và thặng dư vốn
cổ phần chiếm tỷ trọng lớn nhất, sau đó là các quỹ dự trữ như ở các ngân hàng
Agribank, BIDV, Vietcombank, Eximbank…
Theo nghị định 141/2006/NĐ-CP ban hành ngày 22/11/2006 về Ban hành danh
mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, đến ngày 31/12/2010, các NH
TMCP phải đạt mức vốn pháp định tối thiêu là 3,000 tỷ đồng. Trong khi các ngân
hàng thuộc khối NH TMQD đã đạt mức vốn pháp định tối thiểu thì nhiều NH TMCP
khác vẫn chưa đạt được yêu cầu này như Tiên Phong Bank…
1.1.3 Về mạng lưới giao dịch
Khi thị trường tài chính Việt Nam mở cửa theo lộ trình cam kết WTO, các ngân
hàng trong nước sẽ phải đối đầu với sự cạnh tranh mạnh mẽ đến từ các ngân hàng
nước ngoài nên việc mở rộng mạng lưới giao dịch là một trong các chiến lược được
nhóm ngân hàng này ưu tiên thực hiện.
Một nhóm các NHTMQD và NHTMCP lớn đã hoạt động lâu năm, có uy tín và
có nguồn vốn lớn nên đã sớm xây dựng được cho mình một mạng lưới các chi nhánh
và phòng giao dịch, phải phải kể đến các NHTM như Agribank, BIDV, Vietcombank,
Vietinbank và ACB, Sacombank, Eximbank, Techcombank…, đơn cử Agribank có tới
trên 2.230 chi nhánh và các điểm giao dịch, Vietinbank có 149 chi nhánh và 695
phòng giao dịch, BIDV có hơn 108 chi nhánh và 312 phòng giao dịch, Sacombank có
69 chi nhánh và 239 phòng giao dịch, Techcombank có 38 chi nhánh và 114 phòng
giao dịch… Ngược lại, nhóm các ngân hàng thương mại còn lại do nhiều nguyên nhân
như vốn điều lệ thấp, mới chuyển đổi mô hình, trước đây chỉ hoạt động trên những địa
bàn nhất định, chiến lược phát triển mạng lưới chưa hiệu quả… nên mạng lưới giao
dịch còn tương đối nhỏ so với nhóm trên, Liên Việt Bank có 7 chi nhánh và 10 phòng
giao dịch, Tiên Phong Bank có 5 chi nhánh và 15 phòng giao dịch. Trong thời gian tới,
nếu tình hình nên kinh tế ổn định, hoạt động ngân hàng phát triển thì số lượng phòng
giao dịch, chi nhánh của các NHTM ở Việt Nam sẽ tăng lên với một tốc độ vừa phải,
thấp hơn so với tốc độ tăng các năm trước đây.
1.2 Về hoạt động huy động vốn, tín dụng và các sản phẩm dịch vụ
100 100 100
100 100 100
1 TCTD Nhà nước
49.7 52.6 40.4
48.3 51.5 37.7
2 Ngân hàng thương mại cổ phần 40.8 40.3 42.4
42.6 41.9 44.9
3 NH liên doanh, Chi nhánh NH
nước ngoài, NH 100% vốn n-
ước ngoài
7.5 4.8 16.4
7.1 4.3 16.6
4 Công ty tài chính, cho thuê tài
chính
0.9 1.0 0.8
0.9 1.0 0.8
5 Quỹ Tín dụng nhân dân
1.0 1.3 0.0
1.1 1.4 0.0
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)
1.2.2 Về hoạt động tín dụng
Trong quý I năm nay lãi suất lên tới mức rất cao lãi suất (17-18%/năm, cá biệt
lên tới 19-20%/năm) gây khó khăn cho việc mở rộng tín dụng. Mặt bằng lãi suất hiện
nay tuy đã giảm nhưng vẫn còn tương đối cao đối với khả năng tiếp cận của doanh
nghiệp, đây sẽ tiếp tục là một trong những nguyên nhân đóng góp vào sự sụt giảm
trong tăng trưởng tín dụng.
Nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ lớn hơn so với VNĐ, nguyên nhân là do lãi suất
cho vay VNĐ (16 - 18%/năm) cao hơn quá nhiều so với lãi suất cho vay ngoại tệ (4 –
5%/năm), dẫn đến việc các doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận rủi ro tỷ giá để đi vay
bằng ngoại tệ.
ràng nó đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng và lòng tin của khách hàng.
Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của khách hàng trong ngành
ngân hàng tại Việt Nam.
Điều quan trọng nhất vẫn là: việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng vốn
huy động được của khách hàng. Nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách hàng
thì ngân hàng tất nhiên sẽ bị đào thải. Trong khi đó, như đã nói ở phần trên, nguy cơ
thay thế của ngân hàng ở Việt Nam, đối với khách hàng tiêu dùng, là khá cao.
Với chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng gần như không mất mát gì nếu muốn chuyển
nguồn vốn của mình ra khỏi ngân hàng và đầu tư vào một nơi khác.
4. Sức mạnh của nhà cung cấp
5
Khái niệm nhà cung cấp trong ngành ngân hàng khá đa dạng. Họ có thể là
những cổ đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, hoặc là những công ty chịu
trách nhiệm về hệ thống hoặc bảo trì máy ATM. Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàng
thường tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo
điều kiện.
Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cung
cấp cho cả một thị trường lớn mà phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Tuy
nhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống, ngân hàng sẽ không
muốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này lại làm tăng quyền lực của nhà
cung cấp thiết bị đã thắng thầu.
Quyền lực của các cổ đông trong ngành ngân hàng, những đại cổ đông có thể có tác
động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của một ngân hàng. Nhìn chung hầu hết các
ngân hàng Việt Nam đều nhận đầu tư của một ngân hàng khác.
Quyền lực của nhà đầu tư sẽ tăng lên rất nhiều nếu như họ có đủ cổ phần và việc sáp
nhập với ngân hàng được đầu tư có thể xảy ra. Ở một khía cạnh khác, ngân hàng đầu
tư sẽ có một tác động nhất định đến ngân hàng được đầu tư.
5. Các rào cản gia nhập
Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh sẽ càng lúc
càng gia tăng. Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào “độ cao” của rào cản
mà các ngân hàng hiện tại đang nhắm đến, giá trị thương hiệu cũng như cơ sở khách
hàng, lòng trung thành của khách hàng mà các ngân hàng đã xây dựng được.
Một khi các ngân hàng hiện tại đã xây dựng được cho mình một thương hiệu bền
vững, với những sản phẩm, dịch vụ tài chính hiệu quả và khác biệt cộng với một cơ sở
khách hàng đông đảo và trung thành, chi phí chuyển đổi (switching cost) để lôi kéo
khách hàng của ngân hàng mới thành lập sẽ cực kỳ cao và do đó họ bắt buộc phải cân
nhắc thật kỹ trước khi quyết định gia nhập thị trường hay không.
Thực tế trên thị trường ngành ngân hàng Việt Nam cho thấy chi phí chuyển đổi nhìn
chung không cao do các ngân hàng chưa thật sự tạo được điểm khác biệt về chiến lược
sản phẩm, dịch vụ.
Một yếu tố có thể làm tăng chi phí chuyển đổi lên một chút và tạo một lợi thế cạnh
tranh cho các ngân hàng đang hoạt động là hệ thống phân phối. Các ngân hàng thành
lập sau này sẽ gặp khá nhiều rắc rối trong việc tìm một địa điểm ưng ý để đặt văn
phòng chính cũng như các chi nhánh văn phòng giao dịch bởi vì các vị trí đẹp và tiện
lợi đều đã bị các ngân hàng đang hoạt động dành mất.
Tuy vậy, các ngân hàng thành lập sau này vẫn có thể dựa vào lợi thế công nghệ để phát
triển hệ thống kinh doanh của mình thông qua Internet banking hoặc hệ thống ATM.
7
Nhìn vào ngành ngân hàng Việt Nam hiện tại trong bối cảnh Việt Nam cũng như thế
giới đang bị bao trùm bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, rào cản gia nhập khá cao khiến
cho nguy cơ xuất hiện ngân hàng mới trong tương lai gần là khá thấp.
Nhưng một khi kinh tế thế giới hồi phục cộng với sự mở cửa của ngành ngân hàng
theo các cam kết với WTO và các tổ chức khác, sự xuất hiện của các ngân hàng mới là
một điều gần như chắc chắn.
Không chỉ các đối thủ hiện tại mới tạo ra nguy cơ đe dọa các doanh nghiệp trong một
ngành, mà khả năng các hãng mới có thể gia nhập ngành cũng ảnh hưởng đến cuộc
cạnh tranh. Xét về mặt lý thuyết, bất cứ công ty nào cũng có thể tham gia hoặc rút lui
khỏi thị trường, nếu tồn tại “cổng vào” và “cổng ra” tự do. Khi đó, lợi nhuận của
ngành sẽ là không đáng kể. Tuy nhiên trên thực tế, mỗi ngành có những biện pháp
riêng để bảo vệ mức lợi nhuận cao của các đơn vị đã có mặt trong thị trường, đồng