I. Đặt vấn đề
Nghiện ma tuý (NMT) là một tình trạng nhiễm độc mãn tính do dùng lặp
đi lặp lại lâu ngày một chất gây nghiện. Ở nước ta hiện nay NMT chủ yếu vẫn
là nghiện các chất dạng thuốc phiện.Thời gian đầu người nghiện sử dông ma
tuý để tìm kiếm những cảm giác lạ, trạng thái lâng lâng đi mây về gió…mà
không dùng ma tuý không thể có được. Sử dụng lâu ngày thành quen, thèm
nhí sử dụng lại, và đã nghiện lúc nào không hay. Khi người nghiện sức khoẻ
giảm sút hay vì một lý do nào đấy phải ngừng sử dụng ma tuý sẽ xuất hiện hội
chứng cai với những biểu hiện chính: thèm nhớ mãnh liệt, chảy nước mắt
nước mũi, vã mồ hôi, nổi da gà, đau mỏi người, buồn nôn, nôn, đi ngoài, mất
ngủ…Hội chứng cai với những triệu chứng rất khó chịu, thường xảy ra cấp
tính đã buộc người nghiện phải quay lại sử dụng ma tuý. Chính vì vậy việc
điều trị hội chứng cai là việc không thẻ thiếu trong các liệu trình điều trị
NMT. Điều trị hội chứng cai, giúp người nghiện vượt qua hội chứng cai nhẹ
nhàng và nhanh chóng hồi phục sức khoẻ là vấn đề vẫn luôn nhận được sự
quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học không những ở Việt nam mà cả
trên thế giới. Thực hiện quyết định số 2259/QĐ-BYT ngày 23/06/2008 về
việc nghiên cứu bài thuốc Heantos 4 điều trị hỗ trợ cắt cơn cai NMT nhóm
opiats, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với những mục đích sau:
1. Đánh giá hiệu lực lâm sàng và tính an toàn của thuốc Heantos4 trong
điều trị hỗ trợ cắt cơn cai NMT nhóm opiats tại Bệnh viện Tâm thần
Trung ương I.
2. Khảo sát tác dụng không mong muốn của thuốc Heantos 4 điều trị hỗ
trợ cắt cơn cai nghiện ma túy nhóm opiats.
1
II.Tổng quan
2.1. Tổng quan về các phương pháp cắt cơn cai NMT.
Người ta đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để cắt cơn cai NMT:
+ Phương pháp cắt ngang: Còn gọi là cai khô( Việt nam gọi là cai bo)
được áp dụng tại Mỹ năm 1983.Bằng cách cô lập bệnh nhân, không cho tiếp
xúc với môi trường bên ngoài, ngừng hoàn toàn việc sử dụng ma tuý mặc cho
nguy hiểm vì mất khả năng dung nạp.
+ Dùng các chất hướng thần: Dùng các thuốc giải lo âu (diazepam,
seduxen), thuốc an thần kinh (tisercin, nozinan) và các thuốc chống trầm cảm
(melapramin, amitriptylin) cắt cơn trong vòng 7-10 ngày, hiện nay được dùng
ở nước ta để hỗ trợ cắt cơn được Bộ Y tế có văn bản hướng dẫn chính thức.
+ Sử dụng thuốc hạ huyết áp Clonidin (Catapressane): được sử dụng ở
một số nước châu Âu, thuốc có tác dụng cắt cơn tương đối êm dịu nhưng kèm
theo còng hay gặp nguy cơ hạ huyết áp ở bệnh nhân.
+ Dùng liệu pháp tâm lý: có thể dùng liệu pháp tâm lý đơn thuần hay
liệu pháp tâm lý kết hợp với thuốc hướng thần. Phương pháp này có ưu điểm
là chỉ bằng liệu pháp tâm lý Ýt tốn kém, nhưng đòi hỏi phải có bác sĩ chuyên
khoa tâm thần nắm vững kỹ năng điều trị tâm lý (thuyết phục, ám thị ) vì vậy
khó thực hiện ở các tuyến cơ sở và cũng chỉ giải quyết được những trường
hợp nghiện nhẹ.
+ Phương pháp thay thế: Dùng methadon thay các chất ma túy. Phương
pháp này có ưu điểm cắt cơn và chống tái nghiện, giảm hại nên thực hiện điều
trị duy trì, được dùng phổ biến nhất chính thức hiện nay ở nhiều nước và được
Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên dùng. Nhưng có nhược điểm là tốn
kém, dùng lâu dài lệ thuộc methadone. Các tác giả cho rằng đây là phương
pháp tình thế nhưng bắt buộc bởi vì đã thay thế một chất ma túy tai hại này
bằng một chất ma tuý khác Ýt tác hại hơn.
Để cắt cơn nghiện cho người nghiện, ngoài việc ứng dụng các phương
pháp trên người ta cũng đã nghiên cứu một số phương pháp của y học cổ truyền.
3
+ Thuốc cổ truyền: Một số bài thuốc y học cổ truyền đã và đang được
nghiên cứu có thể dùng hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy như bài Heatos của Trần
Khuông Dẫn, bài thuốc Hufusa của Bùi Thị Phúc, bài Bông sen, bài Cedemex
Ưu điểm của thuốc cổ truyền là nâng cao thÓ trạng, hỗ trợ cắt cơn và
nhanh bình phục cơ thể.
+ Châm cứu: Dùng điện châm, ngày châm nhiều lần tùy thuộc vào trạng
Viện Hoá học đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu cải tiến bài
thuốc về công nghệ chiết suất, mẫu mã và dạng bào chế. Các phế phẩm
Heantos 1,2,3 là sản phẩm nghiên cứu ở thời kỳ này. Bộ Y tế đã cho phép
thử nghiệm lâm sàng các chế phẩm này. Song, vì nhiều lý do nên nghiên
cứu phải kéo dài hơn thời gian dự kiến. Qua thử nghiệm lâm sàng giai
đoạn 1: bước đầu nhận thấy thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị cắt cơn cai
nghiện ma tuý, thuốc có tác dụng tốt với các triệu chứng: mất ngủ, rối
loạn tiêu hóa, buồn nôn, nôn ở người cai nghiện, nhưng cũng còn một
số tác dụng phụ như co cơ, tăng trương lực cơ, bồn chồn ở một số bệnh
nhân. Kết quả nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 1 thời kỳ đó đã được Hội
đồng Khoa học - Kỹ thuật Bộ Y tế nghiệm thu ngày 21/11/2001 đánh giá
đạt loại khá và cho phép thử nghiệm giai đoạn 2 nhưng vì lô thuốc sản
xuất đã hết hạn nên nghiên cứu phải ngừng lại.
Từ đó đến nay Viện Hoá tiếp tục nghiên cứu cải tiến bài thuốc và
Heantos 4 là sản phẩm của quá trình này. Heantos 4 được bào chế bằng các
phương pháp cổ truyền kết hợp với kỹ thuật hiện đại gồm 13 vị dược liệu với
thành phần như sau:
Công thức dùng điều chế 300g thành phẩm bột thuốc Heantos 4
- Phòng đảng sâm (Radix Campanumoeae) : 600g
- A giao (Colla Corii Asini) : 80g
- Mạch môn ( Radix Ophiopogonis Japonici) : 200g
- Hoàng kỳ ( Radix Astragali mebranacei) : 200g
- Cam thảo ( Radix Glycyrrhizae) : 150g
- Đương quy ( Radix Angelicae sinensis) : 150g
- Sinh địa ( Radix Rehmanniae glutinosae) : 150g
5
- Bình vôi ( Tuber Stephaniae sp) : 150g
- Can khương ( Rhizoma Zingiberis) : 150g
- Quế chi ( Ramulus Cinnamomi) : 150g
- Đại táo ( Fructus Ziziphi Jujubae) : 150g
* Nhóm an thần, định trí:
- Củ bình vôi: Có tác dụng an thần, gây ngủ, giảm đau.
- Táo nhân: Có tác dụng bổ can đởm, an thần, định tâm sử dụng nhân
của táo ở tác dụng định tâm là trọng tâm lập phương của bài thuốc
-Viễn chí có tác dụng an thần, Ých trí, tán uất chủ trị các chứng hồi
hộp, hay quên, hay sợ hãi.
* Nhóm điều trị triệu chứng:
- Can khương trong Heantos 4 dùng bào khương (can khương bào chế
rồi), vì vị thuốc có tính đại nhiệt, lại vào những 6 kinh: Tâm, phế, tỳ, vị,
thận, đại trường sẽ nâng nhiệt độ của người bệnh lên và ngăn chặn một loạt
các chứng ngoại cảm phát sinh: đau bụng, nôn mửa, đi ngoài, chân tay
lạnh, mạch nhỏ
- Quế chi: Có tác dụng bổ mệnh môn, tướng hoả chủ trị các chứng
chân tay co quắp, lưng gối tê mỏi, bụng quặn đau.
Phối hợp 2 vị có tính đại nhiệt quế chi, can khương đã giải quyết cơ bản các
chứng nóng lạnh bất thường, nổi da gà, nhức mỏi chân tay Đồng thời cùng với
đương quy, Agiao làm cho máu huyết lưu thông đã trị triệt để chứng dòi bò
trong xương là chứng người nghiện sợ nhất.
- Mạch môn: Có tác dụng thanh tâm, nhuận phế, hoá đờm, chỉ phế
cùng A giao trị các chứng ho phát sinh từ phế.
- Cam thảo: Có tác dụng bổ tỳ vị hư nhược. Cùng đại táo điều hoà tác
dụng các vị thuốc.
Có thể thấy Heantos 4 đã tuân thủ chặt chẽ lý luận cơ bản của đông y
"phù chính, khu tà". Hỗ trợ người nghiện vượt qua hội chứng cai bằng tác
dụng hỗ trợ thể trạng chung, ngăn chặn sự phát sinh và phát triển của một số
triệu chứng cai cơ bản. Đặc biệt hỗ trợ người nghiện duy trì trạng thái tâm lý
tích cực, theo đuổi việc điều trị cai nghiện, đây là điểm khác biệt không thấy
ở các bài thuốc khác.
7
Heantos 4 đã qua phần nghiên cứu tiền lâm sàng. Kết quả trên động vật
tại Khoa Y học cổ truyền – Bệnh viện Tâm thần TWI. Tổng số bệnh nhân
tham gia nghiên cứu giai đoạn II là 61 người được chia làm 2 nhóm:
- Nhóm điều trị thuốc Heantos 4 gồm 31 người.
- Nhóm điều trị phác đồ ATK gồm 30 người.
8
Kết quả nghiên cứu giai đoạn II nhận thấy:
-Thuốc Heantos 4 có tác dụng hỗ trợ điều trị cắt cơn cai nghiện ma tuý
nhóm opiats.
+ Hiệu quả điều trị tương đương với phác đồ ATK.
+ Thuốc Heantos 4 có tác dụng giảm nhẹ rõ rệt mức độ biểu hiện và rút
ngắn thời gian tồn tại của 6/12 triệu chứng của hội chứng cai, đặc biệt giảm
nhẹ sự xuất hiện của các triệu chứng tiêu chảy, nôn và buồn nôn ở bệnh nhân
Heantos 4 còn có tác dụng giảm nhẹ các biểu hiện trầm cảm, lo âu có ở bệnh
nhân nghiện ma túy.
- Khi sử dụng thuốc Heantos 4 cắt cơn nghiện ma túy cả trên lâm sàng
và các chỉ số huyết học, sinh hóa, điện tim không thấy xuất hiện tác dụng
không mong muốn.
Sử dụng Heantos 4 để điều trị cắt cơn nghiện ma túy theo phác đồ trên
thấy đơn giản, an toàn hơn khi sử dụng thuốc ATK để điều trị hỗ trợ cắt cơn
cai nghiện ma túy nhóm opiats.
Kết quả nghiên cứu lâm sàng giai đoạn II thuốc Heantos 4 đã được
Hội đồng Khoa học – Kỹ thuật Bộ Y tế họp ngày 18 tháng 2 năm 2008
nghiệm thu . Hội đồng cũng đã thống nhất đề nghị Bộ Y tế cho phép tiến hành
nghiên cứu giai đoạn III. Bệnh viện Tâm thần TWI đã xây dựng đề cương
nghiên cứu lâm sàng giai đoạn III bài thuốc Heantos 4 và Bé Y tế đã có quyết
định số 2259/QĐ- BYT ngày 23 tháng 6 năm 2008 về việc phê duyệt đề cương
nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu đánh giá hiệu lực và tính an toàn bài thuốc
Heantos 4 hỗ trợ điều trị cắt cơn nghiện ma túy nhóm opiats giai đoạn III ”.
2.3. Tình hình nghiên cứu thuốc Heantos 4 ở nước ngoài
Thuốc Heantos 4 cũng đã được một trong những phòng thí nghiệm
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 150 bệnh nhân nghiện ma túy nhóm opiats vào
điều trị cắt cơn nghiện tại Bệnh viện Tâm thần Trung Ương I trong khoảng thời
gian từ ngày 03 tháng 12 năm 2008 đến ngày 4 tháng 01 năm 2010.
3.2.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn lâm sàng:
Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD
10
) nghiện ma tuý gồm
các tiêu chuẩn sau:
- Thèm muốn mãnh liệt dùng chất ma tuý.
- Có khả năng dung nạp cao đối với ma túy, có khuynh hướng ngày càng
tăng liều sử dụng chất ma tuý để thoả mãn nhu cầu.
- Khó khăn trong việc kiểm soát hành vi sử dụng chất ma túy.
- Khi ngừng dùng chất ma tuý sẽ xuất hiện hội chứng cai buộc phải dùng
trở lại.
- Sao nhãng các thú vui, thích thó cũ, giành nhiều thời gian để tìm và sử
dụng ma túy.
- Biết rõ tác hại của chất ma túy mà vẫn tiếp tục dùng.
Bệnh nhân được chẩn đoán nghiện ma túy trên lâm sàng khi có 3/6 tiêu
chuẩn trên
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai (theo phụ lục của quyết định
số 5070/QĐ- BYT ngày 12/12/2007)
Hội chứng cai gồm các dấu hiệu sau:
Thèm chất ma tuý; ngáp; chảy nước mắt, ngạt mòi hoặc hắt hơi; nổi da
gà hoặc ớn lạnh; đau cơ chuột rút; buồn nôn hoặc nôn; tiêu chảy; nhịp tim
nhanh hoặc huyết áp tăng; giãn đồng tử; co cứng cơ bụng; ngủ không yên.
Hội chứng cai (+) khi bệnh nhân có 3/12 triệu chứng trên.
11
+ Tiêu chuẩn cận lâm sàng:
và kết quả điều trị đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu.
- Tổ chức tập huấn:
+ Tập huấn cho nhóm bác sỹ về phương pháp sử dụng thuốc Heantos 4,
cách ghi chép hồ sơ, cách theo dõi đánh giá diễn biến của hội chứng cai trên
lâm sàng và tác dụng phụ nếu có, cách xử trí cấp cứu người bệnh…
+ Tập huấn cho điều dưỡng và các nhân viên y tế khác về cách theo dõi
các chỉ số sinh lý mạch, nhiệt độ, huyết áp…theo dõi tình trạng ăn, ngủ và
các diễn biến sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân, cách chăm sóc bệnh
nhân và cách ghi chép hồ sơ bệnh án phần theo dõi bệnh nhân của các
điều dưỡng viên.
3.3.2. Quy trình tiếp nhận, điều trị nghiên cứu
- Những trường hợp có đơn tự nguyện tham gia nghiên cứu và đáp ứng
đầy đủ các tiêu chuẩn bệnh nhân nghiên cứu.
- Tổ chức đăng ký tiếp xúc từng bệnh nhân nghiện ma túy xin vào viện.
- Bệnh nhân nghiên cứu được đón tiếp tại 1 phòng riêng, được giải thích về
ý nghĩa công việc, quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia vào nghiên cứu, được phổ
biến nội quy, thay toàn bộ tư trang và kiểm tra loại trừ các chất ma tuý mang
theo. Sau đó mới chuyển đến phòng điều trị.
- Các bác sĩ thăm khám lâm sàng, làm hồ sơ bệnh án.
- Tiến hành xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma tuý, xét nghiệm máu, điện
tim, test tâm lý lần 1 ở ngày đầu tiên vào viện.
13
- Bệnh nhân được uống thuốc khi bắt đầu có triệu chứng cai. Tiếp đó
hàng ngày bệnh nhân uống thuốc theo phác đồ, bác sĩ thăm khám, theo dõi
diễn biến bệnh, ghi chép đầy đủ vào hồ sơ, giải quyết các vấn đề nảy sinh.
- Quá trình điều trị, hai ngày một lần xét nghiệm nước tiểu để kiểm tra
chất ma tuý.
- Các xét nghiệm máu, điện tim, test tâm lý lần 2 được làm vào ngày thứ 7
trước khi ra viện.
- Hàng ngày các bác sĩ điều trị thăm khám bệnh nhân và ghi chép hồ sơ
STT Triệu chứng Điểm
1.
Ngáp 1
2.
Chảy nước mắt, nước mũi 1
3.
Tăng thân nhiệt 1
4.
Toát mồ hôi, ớn lạnh nổi da gà 2
5.
Thèm chất ma túy 2
6.
Đau mỏi các khớp 2
7.
Mất ngủ 2
8.
Tiêu chảy 2
9.
Mạch nhanh (> 90 ck/1 phót) 2
10.
Buồn nôn, nôn 3
11.
Dị cảm (dòi bò trong xương) 3
12.
Dãn đồng tử 3
Tổng số điểm 24
Dựa vào điểm số chia 3 mức độ nghiện:
+ Nghiện nhẹ: < 8 điểm.
+ Nghiện trung bình: 8 - 16 điểm.
+ Nghiện nặng: > 16 điểm.
2 điểm: Đi phân lỏng có nước > 4 lần/ngày
6. Dãn đồng tử:
0 điểm: Đồng tử giãn ≤ 2mm
1 điểm: Giãn > 2 - 4mm
16
2 điểm: Giãn ≥ 4mm
7. Chảy nước mắt:
0 điểm: Không chảy nước mắt.
1 điểm: Rơm rớm nước mắt.
2 điểm: Nước mắt chảy nhìn thấy rõ.
8. Ngạt mũi, hắt hơi:
0 điểm: Không bị ngạt mũi, hắt hơi.
1 điểm: Ngạt mũi nhẹ, hắt hơi 1-3 lần/phút vào thời gian dùng CMT.
2 điểm: Ngạt mũi nhiều phải dùng thuốc hoặc hắt hơi liên tục.
9. Mạch nhanh, huyết áp tăng:
0 điểm: Mạch ≤ 80 lần/phút. Huyết áp tối đa trong khoảng 90 – 140
mmHg, huyết áp tối thiểu < 90 mmHg
1 điểm: Mạch > 80 lần/phút đến <100 lần/phút. Huyết áp tối đa trong
khoảng 140- 160 mmHg, huyết áp tối thiểu > 90 mmHg.
2 điểm: Mạch ≥ 100 lần/phút. Huyết áp tối đa > 160 mmHg, huyết áp
tối thiểu > 90 mmHg.
10. Ngủ không yên:
0 điểm: Không mất ngủ
1 điểm: Ngủ được 1 - 2h mỗi đêm
2 điểm: Hoàn toàn không ngủ được trong đêm
11. Co cứng cơ bụng:
0 điểm: Không có co cứng cơ bụng.
1 điểm: Xuất hiện, tồn tại từng lúc chịu đựng được
2 điểm: Co cứng cơ bụng từng lúc hoặc thường xuyên khó chịu phải thực
hiện những động tác, hành vi để làm giảm nhẹ hoặc yêu cầu thầy thuốc can
mức độ:
- Không xuất hiện : 0 điểm
- Có tác dụng phụ nhưng không phải điều trị : 1 điểm
- Có tác dụng phụ phải điều trị : 2 điểm
- Có tác dụng phụ nghiêm trọng phải điều trị tích cực : 3 điểm
3.5.2. Nghiên cứu cận lâm sàng
+ Xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy
18
Bệnh nhân được lấy nước tiểu để xét nghiệm tìm opiats 4 lần trong quá
trình điều trị: Lần đầu tiên khi bệnh nhân vào viện, những lần sau vào buổi
sáng các ngày thứ 3, 5, 7 của quá trình điều trị.
Bệnh nhân được lấy nước tiểu và xét nghiệm tìm chất ma túy bằng que
thử nhanh của Mỹ ngay tại nơi điều trị. Việc lấy nước tiểu do các điều dưỡng
viên thực hiện, thử và đọc kết quả do bác sỹ thực hiện. Trong trường hợp nghi
ngờ xét nghiệm lại bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng. Xét nghiệm được tiến
hành tại Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Tâm thần Trung ương I.
+ Các xét nghiệm sinh hóa máu, huyết học
Tiến hành các xét nghiệm sinh hóa máu, huyết học: công thức máu, máu
lắng, hemoglobin, hematocrit, SGOT, SGPT, bilirubin, urê, creatinin, protein
toàn phần 2 lần trong quá trình nghiên cứu. Lần đầu khi bệnh nhân vào viện. Lần
2 vào ngày thứ 7 trước khi bệnh nhân ra viện.
Tiến hành các xét nghiệm bằng máy phân tích sinh hóa lâm sàng Human
Lyzer của hãng Human (Cộng hòa Liên bang Đức) sản xuất năm 2000 theo
tiêu chuẩn ISO 9001.
Chỉ đưa vào nghiên cứu những bệnh nhân có chỉ số huyết học lần đầu với
(số lượng hồng cầu, hemoglobin, số lượng bạch cầu ) trong giới hạn bình
thường, chỉ số men gan ( SGOT, SGPT ) không cao quá 3 lần giới hạn cho phép,
chỉ số về chức năng thận (urê, creatinin huyết) không quá cao.
So sánh các chỉ số sinh hóa, huyết học trước và sau điều trị để đánh giá:
- Ảnh hưởng của thuốc đến chức năng tạo huyết, miễn dịch
Nghiệm pháp này gồm 20 câu phát biểu đánh số từ 1 - 20. Mỗi câu phát biểu
được đánh giá theo 4 mức độ thời gian mà người bệnh cảm nhận được. Sau
khi đọc cẩn thận, người bệnh tiến hành trong thời gian 3 phút, đánh dấu chéo
vào 1 trong 4 ô chia mức độ thời gian mà bệnh nhân cảm nhận qua mỗi câu
phát biểu. Điểm cũng được tính từ 1 - 4 điểm cho mỗi câu phát biểu. Sau đó
cộng cả 4 cột điểm của 20 câu cho kết quả đánh giá nh sau (chuẩn hóa theo
Viện Tâm lý - giáo dục):
Tổng sè 20 x 4 = 80 điểm
- Có lo âu ≥ 50% (≥ 40 điểm)
- Không có lo âu < 50% (< 40 điểm)
20
3.6. Chỉ tiêu đánh giá kết quả
2.6.1. Tiêu chuẩn bệnh nhân cắt cơn nghiện bằng thuốc Heantos 4 thành công.
Bệnh nhân uống thuốc Heantos 4 đúng phác đồ, điều trị đủ liệu trình,
không còn hội chứng cai khi ra viện, kết quả xét nghiệm nước tiểu tìm opiats
khi ra viện âm tính.
2.6.2. Tiêu chuẩn bệnh nhân điều trị Heantos 4 không thành công.
+ Những bệnh nhân trong giai đoạn điều trị nghiên cứu có sử dụng
thuốc khác không tuân thủ đúng phác đồ dùng thuốc Heantos 4.
+ Những trường hợp xin thôi không sử dụng Heantos 4.
+ Những trường hợp không thực hiện đủ quy trình điều trị nghiên cứu vì
tự thấy thuốc không có tác dụng.
+ Kết thúc liệu trình test opiats nước tiểu còn dương tính (+).
* Những trường hợp điều trị đủ liệu trình kết quả được chia làm 4 loại:
Loại
Chỉ tiêu
A
(tốt)
B
(khá)
Giới tính n %
Nam
144 96.00
Nữ 6 4.00
Tổng sè 150 100
Hầu hết bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đều là nam giới ( 96%) chỉ có
6 bệnh nhân là nữ giới (4%).
4.1.3. Trình độ văn hoá.
Bảng 3: Trình độ văn hóa ở nhóm bệnh nhân.
Trình độ văn hóa n %
22
Cấp I 4 2.67
Cấp II 48 32.00
Cấp III 96 64.00
TC- CĐ - ĐH 2 1.33
Tổng sè 150 100
Đa số bệnh nhân của nhóm nghiên cứu có trình độ văn hoá cấp 2 và cấp 3.
4.1.4. Nghề nghiệp.
Bảng 4: Nghề nghiệp của nhóm bệnh nhân.
Nghề nghiệp n %
Công nhân 10 6.66
Không nghề 97 64.67
Lái xe 12 8.00
Kinh doanh 4 2.67
Làm ruộng 9 6.00
Thợ tù do 13 8.67
Nghề khác 5 3.33
Tổng sè 150 100
Đa số bệnh nhân là không có nghề nghiệp ổn định ( 64,67% ), số bệnh
H + pipolphen 3 2.00
H+ Hồng phiến 1 0.67
Tổng sè 150 100
Đa số bệnh nhân (95,33%) sử dụng heroin đơn thuần không pha thêm
thuốc gì, một số bệnh nhân có dùng thêm các thuốc khác như novocain,
pipolphen.
4.1.8. Cách thức sử dụng.
Bảng 8. Phân bố bệnh nhân theo cách thức sử dụng.
Cách dùng n %
Hót 58 38.67
Chích 75 50.00
Hút + Chích 17 11.33
Tổng sè 150 100
Phần lớn bệnh nhân sử dụng ma tuý bằng cách hót (38,67%) và tiêm
chích tĩnh mạch ( 50%).
4.1.9. Số lần sử dụng ma tuý trong ngày.
Bảng 9. Phân bố bệnh nhân theo số lần sử dụng trong ngày.
Số lần sử dụng n %
1 lần 8 5.33
2 lần 41 27.33
3 lần 61 40.67
4 lần 24 16.00
> 4 lần 16 10.67
Tổng sè 150 100
25